Công bố dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI để lấy ý kiến tham gia của CB,ĐV và các tầng lớp nhân dân 

Công bố dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI để lấy ý kiến tham gia của CB,ĐV và các tầng lớp nhân dân

Thứ bảy - 25/04/2020 13:22
Ngày 22/4/2020, Tiểu ban Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI ban hành Công văn số 21-CV/TBVK về việc công bố và lấy ý kiến tham gia đối với dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2020-2025. Thời gian tham gia ý kiến đến hết ngày 30/5/2020; trên cơ sở đó tổng hợp và gửi về Tiểu ban Văn kiện (qua Văn phòng Tỉnh ủy) trước ngày 15/6/2020.
Công bố dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI để lấy ý kiến tham gia của CB,ĐV và các tầng lớp nhân dân

Để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh thuận lợi trong quá trình tham gia góp ý kiến, BBT đăng tải nội dung “Gợi ý một số nội dung cần tập trung thảo luận, tham gia ý kiến đối với dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh” (Gửi kèm Công văn 21-CV/TBVK) và toàn văn dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh.

(Dự thảo lần 2)                                                                                                

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH; PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC; HUY ĐỘNG, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN LỰC; XÂY DỰNG TỈNH KON TUM ỔN ĐỊNH, PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XV ĐẢNG BỘ TỈNH

Trong nhiệm kỳ qua, mặc dù tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, nhất là thiên tai, dịch bệnh và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bên cạnh đó, những khó khăn của một tỉnh miền núi, biên giới, kết cấu hạ tầng còn yếu kém đã ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh. Song, dưới sự chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Trung ương Đảng, Chính phủ, với quyết tâm của cấp uỷ, chính quyền và sự nỗ lực, phấn đấu của Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã kịp thời cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh thành các chủ trương, nghị quyết, kết luận, chỉ thị; đồng thời, xây dựng, các chương trình, kế hoạch để lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương, nghị quyết của Trung ương trên các lĩnh vực và đã giành được nhiều kết quả quan trọng.

I. THÀNH QUẢ

1. Kinh tế tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao, các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực được tập trung phát triển; hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư đồng bộ

1.1. Đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng

Quy mô kinh tế của tỉnh tăng đáng kể; đến cuối năm 2020 tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) ước đạt 25.400 tỷ đồng, tăng gần 72% so với năm 2015. Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 9,7%/năm (vượt chỉ tiêu Nghị quyết). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng các ngành công nghiệp-xây dựng tăng từ 23,19% năm 2015 lên 28,71% năm 2020; thương mại-dịch vụ tăng từ 39,08% năm 2015 lên 39,74% năm 2020; nông, lâm, thủy sản giảm từ 30,17% năm 2015 xuống còn 24,39% năm 2020. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 1.406 USD năm 2015 lên 1.990 USD vào cuối năm 2020 (tăng 41,5%). Thu ngân sách nhà nước tại địa bàn đến năm 2020 đạt 3.505 tỷ đồng (đạt chỉ tiêu Nghị quyết).

Nông nghiệp ngày càng phát triển theo chiều sâu. Việc dồn đổi, tích tụ đất nông nghiệp ở những nơi có điều kiện để xây dựng "cánh đồng lớn", phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ được chú trọng triển khai, một số sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao đáp ứng được tiêu chuẩn xuất khẩu[1]. Đã thành lập và đưa vào hoạt động Khu nông nghiệp công nghệ cao tại huyện Kon Plông, huyện Đăk Hà; đang đầu tư Khu nông nghiệp công nghệ cao tại thành phố Kon Tumhình thành 02 vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và công nhận 02 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Kon Plông và Đăk Hà. Chương trình mỗi xã một sản phẩm đã được triển khai, đến nay đã có sản phẩm OCOP được công nhận đạt hạng 03 (ba), 04 (bốn) sao. Diện tích cây cao su, cà phê đều đạt và vượt mục tiêu đề ra[2]. Diện tích Sâm Ngọc Linh Kon Tum và các loại dược liệu khác tiếp tục được mở rộng, trồng mới, tạo ra được các vùng chuyên canh nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến; trong đó, đã phát triển được trên 660 ha sâm Ngọc Linh[3]. Một số loại cây dược liệu như Hồng đẳng sâm, Đương quy… phát triển tốt; toàn tỉnh đã có khoảng 1.264,5 ha trồng dược liệu, sản lượng đạt khoảng 4.605 tấn. Nuôi trồng, khai thác thủy sản tăng trưởng khá, sản lượng thủy sản năm 2020 đạt 4.852 tấn, tăng 1.543 tấn so với năm 2015. Lĩnh vực lâm nghiệp phát triển theo hướng bền vững, đã trồng mới được 2.125,7 ha, diện tích rừng tự nhiên được phục hồi do khoanh nuôi bảo vệ 2.022 ha, góp phần duy trì và nâng độ che phủ rừng của tỉnh lên 62,85% (tăng 0,22% so với đầu nhiệm kỳ). Tổng sản phẩm ngành nông, lâm, thủy sản năm 2020 đạt 6.080 tỷ đồng, tăng 36,32% so với năm 2015. Tiềm năng đất đai được khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả, tạo nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển, nhất là việc khai thác quỹ đất phục vụ phát triển kết cấu hạ tầng trên địa bàn tỉnh[4]. Công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi đã được quan tâm, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ.

Ngành công nghiệp chuyển biến cả về quy mô và chất lượng. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng đều qua các năm, bình quân giai đoạn 2015-2020 ước tăng 10,83%/nămCông nghiệp chế biến được chú trọng và phát triển. Đến nay một số sản phẩm công nghiệp thế mạnh của tỉnh có chiều hướng phát triển tốt[5]. Tiềm năng, lợi thế về thủy điện được khai thác hiệu quả; đến năm 2020, có 30 công trình thủy điện đưa vào khai thác vận hành với sản lượng điện ước đạt 2,671 tỷ KWh/năm. Một số nghề thủ công truyền thống của các dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh tiếp tục được khôi phục, phát triển[6].

Lĩnh vực thương mại dịch vụ tăng trưởng khá cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng nhanh[7], bình quân giai đoạn 2015-2020 tăng 12,4%/năm. Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng cao, dự báo cuối năm 2020 đạt 150 triệu USD, bình quân tăng 12,63%/năm[8]. Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, chăm sóc sức khỏe, giải trí... có bước phát triển. Hạ tầng du lịch từng bước được đầu tư hoàn thiện, trong đó đã cho chủ trương đầu tư một số dự án phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn các huyện Sa Thầy, Đăk Tô, Kon Plông...; nhiều tour, tuyến, điểm du lịch được đưa vào khai thác[9], lượng khách du lịch đến tỉnh bình quân tăng 23%/năm.

Các ngành kinh tế mũi nhọn, sản phẩm chủ lực tiếp tục được rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế[10] và được đầu tư phát triển. Công tác quy hoạch, rà soát bổ sung và triển khai quy hoạch được thực hiện kịp thời. Chất lượng công tác quy hoạch từng bước được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tốt, đúng định hướng tiềm năng, thế mạnh của từng ngành, từng địa phương. Công tác triển khai lập quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được triển khai tích cực.

1.2. Các nguồn lực được huy động, khai thác, sử dụng có hiệu quả; kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư đồng bộ

Đã tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong toàn xã hội để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đặc biệt là tại ba vùng kinh tế động lực[11]. Các dự án trọng điểm của tỉnh được đẩy mạnh thực hiện, nhất là hạ tầng giao thông; trong đó đã đầu tư hoàn chỉnh tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn qua tỉnh Kon Tum; đầu tư cải tạo, nâng cấp, sửa chữa một số tuyến và đoạn tuyến có nguy cơ mất an toàn cao như đèo Lò Xo, đèo Văn Rơi, đèo Măng Đen, Quốc lộ 24, 14C, 40B; triển khai xây dựng tuyến tránh đường Hồ Chí Minh đoạn qua thành phố Kon Tum và đường giao thông kết nối đường Hồ Chí Minh đi Quốc lộ 24... Các tuyến giao thông nội tỉnh được đầu tư, nâng cấp; nhiều công trình, cụm công trình thủy lợi được đầu tư, nâng cấp, sửa chữa, phục vụ tốt nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất của Nhân dân[12]. Hạ tầng lưới điện, thông tin, truyền thông, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể thao, du lịch được đầu tư hoàn thiện. Năm 2020, có 99,3% hộ gia đình sử dụng điện; 100% thôn có điện; trên 89% hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Kết cấu hạ tầng đô thị được chỉnh trang, đầu tư nâng cấp, mở rộng, gắn với xây dựng các khu đô thị mới. Diện mạo đô thị có nhiều khởi sắc; thành phố Kon Tum ngày càng khang trang (đã hoàn thành Dự án Tổ hợp Trung tâm thương mại kết hợp nhà ở thương mại với tổng mức đầu tư 298,65 tỷ đồng, Khu đô thị Bắc Duy Tân, Khu chung cư Hoàng Thành; đang triển khai Dự án tổ hợp khách sạn trung tâm thương mại, dịch vụ FLC Kon Tum với tổng vốn đầu tư 1.332 tỷ đồng) và cho chủ trương đầu tư nhiều dự án phát triển đô thị trên địa bàn[13]; thị trấn Măng Đen, huyện Kon Plông được thành lập; hạ tầng huyện Ngọc Hồi đạt tiêu chí đô thị loại III; khu hành chính huyện Ia H'Drai được đầu tư, hình thành; hạ tầng trung tâm các huyện, xã, cụm xã được mở rộng, nâng cấp, ngày càng đồng bộ[14]. Các khu, cụm công nghiệp được tập trung đầu tư đưa vào hoạt động[15]; hiện đang xúc tiến thành lập Cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, Cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Làng nghề thị trấn Đăk Hà, Khu công nghiệp sản xuất, chế biến dược liệu tập trung...

Công tác xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực; đến cuối năm 2020 có 25 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt chỉ tiêu Nghị quyết). Cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã nông thôn mới ngày càng được hoàn thiện, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm nghèo, nâng cao cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội đối với khu vực nông thôn, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

1.3. Cải cách hành chính được đẩy mạnh; môi trường đầu tư từng bước cải thiện; các thành phần kinh tế ngày càng phát triển; hội nhập kinh tế quốc tế được tăng cường

Công tác cải cách hành chính có chuyển biến tích cực; cơ chế một cửa - một cửa liên thông hoạt động hiệu quả; đã thành lập và đưa vào hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh với 1.357 thủ tục được giải quyết tại Trung tâm, đạt tỷ lệ 95% trên tổng số thủ tục hành chính cấp tỉnh; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả một cửa cấp huyện, cấp xã tiếp tục được hoàn thiện, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Triển khai xây dựng, thực hiện Hệ thống thông tin điện tử và cổng dịch vụ công 3 cấp tỉnh, huyện, xã[16]. Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI), Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước của tỉnh được cải thiện[17].

Công tác sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện đúng tiến độ[18]; hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hóa được nâng lên. Doanh nghiệp ngoài nhà nước phát triển nhanh và đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của tỉnh; số lượng doanh nghiệp của tỉnh đến ngày 15-12-2019 là 3.084 doanh nghiệp, vốn đăng ký 34.033 tỷ đồng, tăng 877 doanh nghiệp, tăng 8.734 tỷ vốn so với năm 2015. Môi trường đầu tư, kinh doanh có nhiều chuyển biến rõ nét[19]; đến nay, đã chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định Luật Đầu tư cho 172 dự án, trong đó 167 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 15.787,4 tỷ đồng; kêu gọi được một số nhà đầu từ lớn, có tiềm lực về tài chính, công nghệ, kinh nghiệm như: Tập đoàn FLC, Vingroup, TH True Milk đã đến đầu tư tại tỉnh.

Kinh tế tập thể, hợp tác xã đã có bước phát triển[20], đời sống của các thành viên được cải thiện[21]. Hội nhập kinh tế quốc tế có chuyển biến tích cực; bên cạnh việc tiếp tục duy trì quan hệ hữu nghị truyền thống và đoàn kết đặc biệt giữa tỉnh Kon Tum và các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và tỉnh Ubon Ratchathani (Thái Lan), tỉnh đã tăng cường mở rộng quan hệ với các nước trong cộng đồng ASEAN, một số nước Châu Á và Châu Âu thông qua làm việc, tiếp xúc với từng đối tác cụ thể nhằm tăng cường thu hút đầu tư các nguồn lực nước ngoài, góp phần quảng bá hình ảnh của tỉnh, tạo cơ hội thu hút đầu tư, viện trợ.

2. Văn hóa-xã hội có nhiều tiến bộ; chất lượng giáo dục-đào tạo được nâng lên; công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân được chú trọng

Hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao chuyển biến tích cực. Các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng, nhất là cấp xã[22]. Nhiều giá trị văn hóa của các dân tộc được khôi phục, bảo tồn và phát huy[23]. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" và việc xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa đạt kết quả, có 587/1.045 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 56%; tỷ lệ thôn, làng, tổ dân phố văn hóa đạt 74%. Cơ sở hạ tầng, thiết chế thể thao được đầu tư[24]; phong trào thể dục thể thao quần chúng được đông đảo Nhân dân hưởng ứng, tham gia[25]; thể thao thành tích cao có bước phát triển[26].  

Chất lượng giáo dục-đào tạo chuyển biến tích cực, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2017 đạt 95,74%; năm 2018 đạt 95,87%; năm 2019 đạt 91,47%; kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và giáo dục trung học cơ sở được duy trì và nâng cao[27]. Hệ thống trường, lớp học tiếp tục được củng cố, sắp xếp, tạo thuận lợi cho người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; đến năm 2020, tỷ lệ phòng học kiên cố, bán kiên cố các cấp học đạt 98,3%, tăng 1,1% so với năm học 2015-2016; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư[28]. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, xã hội hóa giáo dục, đào tạo đạt kết quả khá[29], các huyện, thành phố đều phát triển được trường mầm non ngoài công lập; các cơ sở giáo dục được sắp xếp tinh gọn, hiệu quả, trong đó đã thực hiện hợp nhất các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề cấp huyện; sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh; hoàn thành việc thành lập và đưa vào hoạt động Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum trên cơ sở sáp nhập các trường: Cao đẳng Kinh tế-kỹ thuật Kon Tum, Cao đẳng Sư phạm Kon Tum, Trung cấp nghề, Trung cấp Y tế. Chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện, tỷ lệ lao động được đào tạo đến năm 2020 là 52% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết).

Chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Nhân dân được nâng lên. Tuổi thọ trung bình tăng từ 66,2 tuổi năm 2015 lên 67,2 tuổi năm 2020. Hạ tầng cơ sở và trang thiết bị khám, chữa bệnh được đầu tư, nâng cấp[30]; mạng lưới y tế từng bước được sắp xếp tinh gọn, hiệu quả; đã thành lập Trung tâm Kiểm soát bệnh tật trên cơ sở sáp nhập 07 đơn vị dự phòng tuyến tỉnh (Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trung tâm Kiểm dịch y tế, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm Phòng chống sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng, Trung tâm Truyền thông và Giáo dục sức khỏe); tổ chức lại Trung tâm y tế các huyện, thành phố trên cơ sở sáp nhập Trung tâm An toàn vệ sinh thực phẩm và Trung tâm DS-KHHGĐ; thành lập Bệnh viện Y dược cổ truyền - Phục hồi chức năng tỉnh Kon Tum trên cơ sở sáp nhập Bệnh viện Y dược cổ truyền và Bệnh viện Phục hồi chức năng; giải thể 11/14 Phòng khám Đa khoa khu vực. Sau khi sắp xếp lại đã giảm được 08 đơn vị tuyến tỉnh, 29 đơn vị tuyến huyện. Y tế dự phòng được đẩy mạnh, không để xảy ra các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm[31]. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi năm 2020 là 37,3% (giảm 2% so với năm 2015); tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm từ 23,7% năm 2015 xuống 22,2% năm 2020. Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình đạt kết quả tích cực, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,424% năm 2015 xuống còn 1,2% vào năm 2020 (đạt chỉ tiêu Nghị quyết). Có 82 xã được công nhận đạt Bộ tiêu chí Quốc gia y tế xã giai đoạn 2011-2020. Các cơ sở y tế tư nhân, y học cổ truyền ngày càng phát triển; đã cho chủ trương xây dựng một số cơ sở y tế ngoài công lập chất lượng cao[32]; tỷ lệ số giường bệnh/1 vạn dân đạt 27,5 giường.

An sinh xã hội, phúc lợi xã hội được đảm bảo[33]. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được nâng lên[34]; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm đạt 90,6%. Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, các chương trình, dự án đối với đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi được tập trung thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng; trong đó, đã ban hành và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 19-8-2016 của Tỉnh ủy "về tiếp tục xây dựng các xã đặc biệt khó khăn trong tình hình mới"; tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm 4,05%/năm (vượt chỉ tiêu Nghị quyết).

Các đề tài nghiên cứu khoa học, mô hình sản xuất tiên tiến được ứng dụng và nhân rộng[35]. Công tác đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện đầy đủ[36]. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng[37].

Môi trường được bảo vệ; đã xây dựng và đưa vào hoạt động các hệ thống xử lý chất thải[38], giảm thiểu tối đa tình trạng ô nhiễm môi trường. Công tác khắc phục hậu quả thiên tai được triển khai kịp thời, hiệu quả, hạn chế thấp nhất được thiệt hại. Đã triển khai kịp thời, hiệu quả các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Các nguồn tài nguyên được quản lý, sử dụng hiệu quả. Dự kiến đến năm 2020, tỷ lệ che phủ rừng (bao gồm diện tích cao su) khoảng 62,85% (đạt 98,6% chỉ tiêu Nghị quyết).

Thông tin - truyền thông phát triển mạnh mẽ; công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi, hiệu quả[39]. Cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ phát thanh-truyền hình từng bước được nâng cao, phong phú về nội dung, đa dạng loại hình dịch vụ, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin và giải trí của Nhân dân. Dịch vụ bưu chính, viễn thông phát triển rộng khắp; toàn tỉnh có 87/102 xã, phường, thị trấn có ấn phẩm báo chí đến trong ngày (đạt 85,3%); 100% xã, phường, thị trấn được cung cấp dịch vụ điện thoại cố định và mạng di động 3G (một số vùng đô thị đã phát triển mạng 4G).

3. Quốc phòng, an ninh được đảm bảo, trật tự xã hội được giữ vững, công tác đối ngoại được tăng cường

Đã kịp thời cụ thể hóa, tuyên truyền, quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh[40]. Nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện, các tiềm lực trong khu vực phòng thủ được củng cố, tăng cường. Tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ các cấp đúng kế hoạch, đạt chất lượng[41]. Chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang tỉnh được nâng lên. Công tác bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng, an ninh đảm bảo đúng kế hoạch[42]; tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ đạt 100% chỉ tiêu[43]. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, trong đó đã tập trung lãnh đạo xử lý tốt vụ việc người dân chiếm đất trái pháp luật tại xã Ia Chim, thành phố Kon Tum. Đã chủ động triển khai biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, không để xảy ra các hoạt động “Tin lành Đêga”, phục hồi tổ chức FULRO, biểu tình, bạo loạn. Số người tin theo tà đạo Hà Mòn giảm mạnh, địa bàn hoạt động được thu hẹp; các hoạt động vượt biên, trốn đi nước ngoài trái phép được phát hiện, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả[44]. Các loại tội phạm và vi phạm pháp luật được kiềm chế[45].

Đã triển khai quyết liệt, có hiệu quả các chỉ đạo của Trung ương và các giải pháp phòng, chống tham nhũng; trong đó, tập trung phát hiện, xử lý tình trạng “tham nhũng vặt”; rà soát, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, tham nhũng trong các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng ở địa phương. Việc kê khai, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập được triển khai nghiêm túc và có tác động nhất định, tạo sự chuyển biến về ý thức, hành động trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Không có trường hợp nào có đơn tố cáo, phản ánh về việc kê khai tài sản không trung thực. Các vụ việc, vụ án liên quan đến tham nhũng được phát hiện và xử lý kịp thời[46]. Công tác thanh tra, kiểm tra được triển khai thực hiện hiệu quả, đúng quy định. Trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, người đứng đầu trong việc tiếp công dân, đối thoại với Nhân dân, giải quyết, xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân được thực hiện nghiêm túc; đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và bí thư cấp ủy các cấp đã thực hiện nghiêm việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân, giải quyết các kiến nghị, phản ánh của dân theo Quy định số 11-QĐi/TW, ngày 18-02-2019 của Bộ Chính trị[47], Quyết định số 1408-QĐ/TU, ngày 25-9-2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy "về Quy chế tiếp xúc, đối thoại giữa bí thư cấp ủy, người đứng đầu chính quyền các cấp với Nhân dân"; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng các cơ quan đơn vị thực hiện nghiêm chế độ tiếp công dân định kỳ theo quy định. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã tiếp 2.563 lượt/2.964 người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị; đã tiếp nhận 4.760 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, đã giải quyết xong 2.529 đơn thuộc thẩm quyền (đạt tỷ lệ 98,5%). Công tác cải cách tư pháp có chuyển biến tích cực[48].

Hoạt động đối ngoại với các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia đạt kết quả tốt[49]; bước đầu đã thiết lập quan hệ hợp tác với một số địa phương của Nhật Bản, Úc, Pháp, I-xra-en... và ký kết bản ghi nhớ với thành phố Iksan và quận Jinan, tỉnh Jeonlabuk của Hàn Quốc; chỉ đạo triển khai đảm bảo đúng tiến độ công tác phân giới, cắm mốc tuyến biên giới Việt Nam-Campuchia.

4. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, hệ thống chính trị từng bước được kiện toàn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Đã kịp thời tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước. Đã thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch[50]; trong đó, đã tăng cường quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân khi sử dụng mạng xã hội. Tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nâng lên.

Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế được thực hiện đồng bộ, hiệu quả[51]; đã kịp thời triển khai thực hiện chủ trương bố trí Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã trên địa bàn tỉnh[52].

Công tác cán bộ được thực hiện đúng quy trình, quy định; việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện có hiệu quả, đúng kế hoạch[53]. Đa số cán bộ luân chuyển có sự trưởng thành, nhiều đồng chí phát huy tốt vai trò, trách nhiệm ở cương vị công tác mới. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ tăng về số lượng, nâng dần về chất lượng và hiệu quả công tác, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ, khắc phục được tình trạng hẫng hụt ở nhiều ngành, địa phương[54]. Đội ngũ cán bộ cấp xã từng bước được chuẩn hóa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ[55]. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, nhất là vấn đề chính trị hiện nay[56].

Đã kịp thời cụ thể hóa và triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả NQTW4 khóa XII "về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"[57]; đồng thời, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện[58], qua đó kịp thời chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế của các tổ chức đảng, đảng viên. Việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị "về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" đạt hiệu quả thiết thực; tạo được sự chuyển biến tích cực trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên[59].

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Công tác kết nạp đảng viên được thực hiện có hiệu quả, đảm bảo chất lượng[60]; đã khắc phục được tình trạng thôn, tổ dân phố không có tổ chức đảng; việc bố trí bí thư chi bộ kiêm thôn trưởng, tổ trưởng tổ dân phố đạt kết quả tích cực[61].

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng tiếp tục được thực hiện thường xuyên, đúng quy trình, quy định[62]. Đã tập trung kiểm tra, giám sát đối với những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực như quản lý đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng các công trình, dự án; qua kiểm tra, giám sát đã phát huy ưu điểm, khắc phục các khuyết điểm, ngăn ngừa sai phạm, đề xuất sửa đổi, bổ sung những vấn đề còn bất cập, xử lý kỷ luật nghiêm đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm[63], góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

5. Công tác dân vận tiếp tục được tăng cường; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính được nâng lên

Công tác dân vận của cả hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến tích cực với phương châm hướng mạnh về cơ sở. Trong đó, từ đầu nhiệm kỳ, tỉnh đã chỉ đạo tổ chức "Ngày hội bánh chưng xanh" nhân dịp Tết Nguyên đán hằng năm, qua đó đã tạo điều kiện cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đón Tết vui tươi, phấn khởi, tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng dân cư. Tập trung thực hiện có hiệu quả công tác dân vận của chính quyền, lực lượng vũ trang, nhất là tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, góp phần giải quyết những bức xúc, vướng mắc ngay từ cơ sở.

Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ngày càng đi vào nền nếp, đạt nhiều kết quả. Trong đó, thủ trưởng các cơ quan đơn vị đã thực hiện công khai dân chủ trong quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan, đơn vị bằng nhiều hình thức[64], luôn quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng và các ý kiến phản ánh, góp ý của cán bộ, công chức, viên chức để xem xét giải quyết. Niêm yết công khai các thủ tục liên quan để công dân, cơ quan, tổ chức biết[65]; bố trí nơi tiếp dân, thực hiện nghiêm việc tiếp dân và tổ chức hòm thư góp ý; Ủy ban nhân dân cấp xã đã công khai đầy đủ các nội dung về chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của Nhân dân và địa phương theo quy định; nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân trong việc thực hiện Quy chế dân chủ được nâng lên; các tổ chức trong hệ thống chính trị đã tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Thực hiện nghiêm quy định về dân chủ trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định canh, định cư khi thu hồi đất để triển khai các dự án trên địa bàn tỉnh; duy trì chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa bí thư các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chính quyền các cấp với Nhân dân trên địa bàn tỉnh.  

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội các cấp tiếp tục được củng cố, kiện toàn, tập hợp đông đảo quần chúng tham gia vào tổ chức đoàn, hội[66]; nội dung, phương thức, hiệu quả hoạt động được nâng lên. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do các cấp, các ngành phát động được Nhân dân tích cực tham gia, hưởng ứng và ngày càng phát huy hiệu quả. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội các cấp đã tích cực vận động Nhân dân tham gia xây dựng các phong trào, nhất là phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc", cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh"; xây dựng và nhân rộng các mô hình tự quản về an ninh trật tự, tổ hòa giải ở khu dân cư. Công tác vận động quần chúng tiếp tục được đổi mới, đã xây dựng và phát huy được vai trò của già làng, người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số, cốt cán phong trào trong công tác tuyên truyền, vận động... Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội đã chủ động thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền, nhất là đối với các chủ trương, dự án ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của Nhân dân[67]; thường xuyên rà soát, bổ sung và thực hiện tốt hương ước, quy ước ở các thôn, tổ dân phố, qua đó đã phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn tỉnh.

Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp được nâng lên, nhất là trong việc quyết định và giám sát việc triển khai những vấn đề quan trọng của địa phương. Công tác tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân từng bước được đổi mới[68], tạo điều kiện thuận lợi cho cử tri. Chất lượng các kỳ họp Hội đồng nhân dân từng bước được nâng lên. Công tác giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả[69]. Năng lực quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện của Ủy ban nhân dân và các cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục được nâng lên, nhất là trong việc điều hành ngân sách, tháo gỡ các khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội.

II. HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM

1. Lĩnh vực kinh tế

Kinh tế tăng trưởng chưa bền vững, kết cấu hạ tầng còn yếu kém, chưa đồng bộ. Việc huy động nguồn lực để đầu tư phát triển gặp nhiều khó khăn; một số dự án kêu gọi đầu tư chậm triển khai thực hiện và kéo dài. Hiệu quả hoạt động của mạng lưới thương mại nông thôn còn thấp; thương mại biên giới phát triển chưa ngang tầm với điều kiện của tỉnh. Kinh tế tập thể, hợp tác xã phát triển chậm, chưa xây dựng được các hợp tác xã kiểu mới, quy mô lớn. Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu có quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp.

Một số tiềm năng, lợi thế của tỉnh chưa được phát huy đúng mức, nhất là tiềm năng về du lịch và dược liệu. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, việc gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế. Phát triển dịch vụ, du lịch chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh; quy mô, chất lượng một số loại hình dịch vụ chưa cao. Việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới có nơi chưa thực chất, các tiêu chí đạt chưa bền vững.

Công tác quản lý đất đai, trật tự xây dựng, quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch còn hạn chế; tình trạng vi phạm Luật Lâm nghiệp còn diễn biến phức tạp.

2. Lĩnh vực văn hóa-xã hội

Cơ sở hạ tầng giáo dục còn thiếu, vẫn còn phòng học tạm tại một số nơi; chất lượng giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chuyển biến chậm[70]. Công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS, THPT và công tác đào tạo nghề hiệu quả chưa cao. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp.

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân có mặt còn hạn chế; chất lượng một số dịch vụ y tế chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là tuyến cơ sở; mạng lưới y tế hoạt động hiệu quả chưa cao.

Đời sống văn hóa, nhất là vùng sâu, vùng xa còn nghèo nàn. Hệ thống các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao từ tỉnh đến cơ sở chưa đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Một số di tích lịch sử, văn hóa chậm được khôi phục, tôn tạo. Phong trào thể dục, thể thao quần chúng chưa đều, chất lượng chưa cao; thể thao thành tích cao phát triển chưa mạnh. Thu hút nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước và xã hội hóa y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao còn khó khăn. Kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững.

3. Lĩnh vực quốc phòng-an ninh, đối ngoại: An ninh chính trị còn tiềm ẩn yếu tố gây mất ổn định. Công tác phối hợp giải quyết tình hình an ninh cơ sở liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, công tác đấu tranh xóa bỏ tà đạo Hà Mòn có thời điểm còn bị động, lúng túng. Công tác kiểm tra, kiểm soát người, phương tiện ra, vào hoạt động, cư trú ở khu vực biên giới, cửa khẩu có lúc, có nơi chưa chặt chẽ. Tội phạm còn diễn biến phức tạp, nhất là tội phạm về ma túy, tín dụng đen, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng pháo nổ.

4. Lĩnh vực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Việc nắm bắt dư luận xã hội, tư tưởng, tâm trạng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân có lúc chưa sâu sát, kịp thời.

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng và đảng viên còn hạn chế. Công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân[71], đảng viên là thôn trưởng, tổ trưởng tổ dân phố đạt tỷ lệ thấp. Cải cách hành chính còn hạn chế.

Công tác vận động quần chúng có lúc, có việc hiệu quả chưa cao; nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội có đổi mới nhưng kết quả còn hạn chế; công tác phản biện còn lúng túng, chất lượng chưa cao.

III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, tình hình kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh có sự chuyển biến và đạt được nhiều thành quả. Có 27/30 chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đề ra đều đạt và vượt (trong đó có 11/14 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt). Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) hằng năm luôn duy trì ở mức khá. Văn hóa- xã hội có nhiều tiến bộ. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hoạt động đối ngoại được tăng cường. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số chỉ tiêu không đạt Nghị quyết đề ra[72]. Kinh tế tăng trưởng còn phụ thuộc vào tài nguyên và nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, hàm lượng khoa học - công nghệ còn thấp; tích luỹ nội bộ của tỉnh còn ít. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, tài nguyên, khoáng sản có lúc, có nơi chưa tốt. Nguồn nhân lực của tỉnh chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; công tác đào tạo nghề, bố trí việc làm sau đào tạo còn hạn chế. Công tác kiểm tra, kiểm soát người, phương tiện ra, vào, cư trú trong khu vực biên giới có lúc, có nơi chưa chặt chẽ; an ninh nông thôn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định; tình trạng khiếu kiện, tranh chấp, lấn chiếm đất đai và việc bồi thường, giải phóng mặt bằng có nơi, có vụ việc phức tạp. Chất lượng, hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, chống các loại tội phạm còn có mặt chưa đồng bộ. Công tác vận động quần chúng hiệu quả chưa cao; việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội có mặt còn hạn chế.

Nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém

- Nguyên nhân khách quan: Do tác động của suy thoái kinh tế thế giới và tình hình sản xuất trong nước khó khăn; kết cấu hạ tầng của tỉnh, nhất là hạ tầng đô thị, giao thông còn yếu kém; nguồn vốn dành cho đầu tư phát triển còn hạn chế; tình hình thời tiết, thiên tai, dịch bệnh diễn biến bất thường. Ngay những tháng đầu năm 2020, tình hình dịch bệnh Covid-19 đã có những tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chưa cao; các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, “dân chủ”, “nhân quyền”, triệt để sử dụng Internet và mạng xã hội nhằm tuyên truyền, xuyên tạc các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc.

- Nguyên nhân chủ quan: Ý thức trách nhiệm thực thi công vụ; vai trò tham mưu, đề xuất của người đứng đầu và cán bộ, công chức ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa caonhất là sự trì trệ, thiếu tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức nhưng vẫn chưa có biện pháp khắc phục hiệu quả; một vài nơi vẫn còn tình trạng không sát công việc, chất lượng tham mưu, đề xuất thấp, chưa kịp thời; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ có lúc, có việc chưa tốt. Chính quyền địa phương một số nơi tổ chức triển khai công tác quản lý, bảo vệ rừng còn hạn chế; sự phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm, chủ rừng và các lực lượng khác chưa thực sự hiệu quả. Công tác kiểm tra, đôn đốc, xử lý các sai phạm có lúc chưa thường xuyên, kịp thời. Cải cách hành chính, nhất là vấn đề công chức, công vụ, thủ tục hành chính còn hạn chế. Một số cơ quan, ban, ngành chưa kịp thời bám sát mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đã đề ra để lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ công nhân, người lao động trong các doanh nghiệp còn hạn chế; một số tổ chức đảng ở cơ sở chưa chú trọng công tác tạo nguồn phát triển đảng viên ở khu dân cư. Một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức có lúc, có nơi còn bộc lộ tư tưởng chủ quan, thiếu cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Một bộ phận Nhân dân chưa có ý thức vươn lên thoát nghèo, còn trông chờ, ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Từ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

- Nghiên cứu, vận dụng đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ phải nhạy bén, sâu sát, nắm chắc tình hình cụ thể của địa phương, xác định rõ lĩnh vực đột phá để tập trung nguồn lực đầu tư, phát triển; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc và những vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở.

- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường, đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, quan tâm giải quyết tốt chính sách an sinh xã hội, chăm lo và nâng cao đời sống mọi mặt của Nhân dân; phát huy tối đa nội lực gắn với huy động mạnh mẽ các nguồn lực từ bên ngoài.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; lãnh đạo tỉnh phải thực sự vào cuộc, chủ động, trực tiếp làm việc và kêu gọi các doanh nghiệp, nhà đầu tư có tiềm lực, kinh nghiệm đến tìm hiểu và đầu tư trên địa bàn tỉnh. Luôn đồng hành cùng với doanh nghiệp, nhà đầu tư, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trong quá trình phát triển.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng. Thường xuyên sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, tăng cường đối thoại, lắng nghe và kịp thời giải quyết các vấn đề bức xúc, những nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, xa rời quần chúng.

- Coi trọng công tác xây dựng Đảng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là công tác cán bộ. Thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ ở cơ sở; phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp trong công tác vận động quần chúng, giám sát và phản biện xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tập trung vào những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, gắn với kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và khắc phục các khuyết điểm, hạn chế sau kiểm tra, giám sát. Xử lý nghiêm, kịp thời cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP GIAI ĐOẠN 2020-2025

I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH

1. Thuận lợi

Tình hình chính trị-xã hội tiếp tục được ổn định; quan hệ hợp tác phát triển giữa tỉnh Kon Tum với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước được thúc đẩy và mở rộng, nhiều nhà đầu tư lớn, có tiềm lực đang triển khai các dự án trên địa bàn tỉnh; một số công trình giao thông quan trọng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã có các nghị quyết chuyên đề để khai thác tiềm năng, lợi thế của tỉnh như: Nghị quyết về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh, nghị quyết về đầu tư, phát triển và chế biến dược liệu trên địa bàn tỉnh..., là cơ sở quan trọng để các cấp, các ngành tập trung triển khai thực hiện.

Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ tiếp tục có những cơ chế, chính sách phù hợp thiết thực, tạo điều kiện thuận lợi cho Tây Nguyên nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng phát triển nhanh và bền vững.

2. Khó khăn

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn nhiều yếu kém, chưa đồng bộ; sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm trên địa bàn tỉnh còn yếu, tăng trưởng thấp; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, năng suất lao động chưa cao.

Tình hình chính trị và kinh tế trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Giá một số mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh không ổn định. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh trên người và cây trồng, vật nuôi tiếp tục có nguy cơ xảy ra, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống của Nhân dân.

Năng lực thực tiễn và đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế, đây là một trong những trở ngại trong việc cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Tiếp tục xây dựng Đảng bộ, hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ và hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền; tăng cường đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội; củng cố niềm tin của Nhân dân và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc; huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế của tỉnh; tập trung thực hiện các lĩnh vực trọng tâm đột phá về phát triển nông nghiệp, nông thôn; phát triển đô thị và cải cách hành chính; bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mức sống của Nhân dân. Giữ vững ổn định quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống, không để bị động bất ngờ. Xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định, phát triển nhanh và bền vững.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

- Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2020-2025 từ 12%/năm trở lên. Đến năm 2025, tỷ trọng nông-lâm-thuỷ sản 18-19%, công nghiệp-xây dựng 32-33%, thương mại-dịch vụ 43-44%; GRDP bình quân đầu người khoảng 80 triệu đồng (tương đương trên 3.400 USD); Thu ngân sách Nhà nước tại địa bàn khoảng 5.000 tỷ đồng.

- Đến năm 2025: Quy mô dân số khoảng 620.000 người; trên 60% lao động qua đào tạo; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3-4%/năm; có ít nhất 45 xã (53%) đạt chuẩn nông thôn mới và 03 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới hoặc  hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

- Tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường 85%; tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 63%.

- Tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hằng năm đạt 90% trở lên. Đến năm 2025, có trên 90% xã, phường, thị trấn vững mạnh về quốc phòng, an ninh.

- Đến năm 2025, kết nạp trên 5.000 đảng viên mới. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm đạt trên 75%. Trên 76% quần chúng được tập hợp vào các đoàn thể chính trị-xã hội.

III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1Thực hiện tái cơ cấu đồng bộ kinh tế của tỉnh theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh

1.1. Nâng cao chất lượng xây dựng, thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội

Xây dựng Quy hoạch tỉnh Kon Tum thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đảm bảo chất lượng, tuân thủ đúng quy định của Luật Quy hoạch và phát huy tốt nhất các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung và lập mới các quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành... đảm bảo đồng bộ, kế thừa, ổn định và phù hợp với quy hoạch tỉnh. Nghiên cứu các giải pháp khả thi nhằm tổ chức thực hiện tốt các quy hoạch theo đúng tiến độ đã xác định, nhất là việc thu hút các doanh nghiệp có năng lực, tâm huyết ở cả trong và ngoài nước đầu tư các dự án có quy mô lớn, công nghệ tiến tiến, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, thân thiện với môi trường, tạo sức lan tỏa ở các lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế, như: Chế biến sâu, chế biến tinh các sản phẩm nông sản, dược liệu; năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời); phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa lịch sử, du lịch văn hóa tâm linh; các dự án về phát triển đô thị...

Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch tài chính 5 năm giai đoạn 2021-2025 đảm bảo chất lượng và khả thi, phù hợp với định hướng chung và cơ chế thị trường, làm cơ sở cho việc phân bổ hợp lý các nguồn lực, yếu tố sản xuất (vốn, đất đai, tài nguyên,...) phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và thực hiện các chính sách xã hội.

1.2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, công nghệ xanh, thân thiện với môi trường, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh để thúc đẩy kinh tế của tỉnh tăng trưởng cao và bền vững. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành và trong nội bộ từng ngành. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, thương mại, du lịch, công nghiệp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tích cực. Tiếp tục đầu tư phát triển các vùng kinh tế động lực, tạo sức lan tỏa và thúc đẩy các khu vực khác phát triển. Tăng cường kỷ luật tài chính-ngân sách nhà nước ở tất cả các cấp, các ngành. Làm tốt công tác tạo nguồn, nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách nhà nước.

Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Tăng cường năng lực và đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư. Tạo lập môi trường bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp; chính sách thu hút đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh; chính sách khuyến khích phát triển các ngành, lĩnh vực thế mạnh của tỉnh. Hỗ trợ kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển. Thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp ngoài nhà nước, phấn đấu đến năm 2025 thành lập mới 1.500 doanh nghiệp. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các thành phần kinh tế.

1.3. Phát triển các nhóm ngành, lĩnh vực

Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh dồn đổi, tích tụ đất đai, xác lập và phát triển một số vùng, khu sản xuất nông nghiệp tập trung, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, nông nghiệp hữu cơ gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ tại các huyện Đăk Hà, Kon Plông, Sa Thầy, Ia H'Drai, Kon Rẫy, thành phố Kon Tum và ở những địa bàn có điều kiện thuận lợi. Tiếp tục thúc đẩy mở rộng việc thực hiện liên kết 04 nhà: Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nông nhằm góp phần nâng cao chất lượng và giá trị nông sản hàng hóa. Khuyến khích các doanh nghiệp liên doanh, liên kết thực hiện bao tiêu sản phẩm, tạo đầu ra cho nông sản để hình thành chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giá trị cao. Phấn đấu đến năm 2025, ổn định diện tích trồng sắn toàn tỉnh khoảng 34.100 ha; diện tích cà phê khoảng 25.000 ha, sản lượng khoảng 63.270 tấn, trong đó sản lượng chế biến sâu khoảng 1.400 tấn; ổn định diện tích cao su khoảng 70.000 ha, sản lượng mủ đạt 105.000 tấn, đồng thời rà soát, chuyển đổi một số diện tích cao su kém hiệu quả sang trồng các cây khác phù hợp hơn; diện tích cây ăn quả khoảng 10.000 ha. Phát triển chăn nuôi đại gia súc (bò, dê) lấy sữa tại huyện Sa Thầy, Kon Plông và lấy thịt tại một số vùng có điều kiện.

Tập trung đầu tư phát triển các loại dược liệu phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, sinh thái của tỉnh, như Hồng đẳng sâm, Đương quy, Đinh lăng, ... Tăng cường đầu tư đồng bộ từ khâu bảo tồn, nghiên cứu khoa học, sản xuất, quản lý giống, nguồn giống gốc đến sản xuất, khai thác, chế biến, phân phối, tiêu thụ sản phẩm dược liệu. Tập trung thu hút đầu tư các cơ sở sơ chế, sản xuất, chế biến sâu các sản phẩm từ dược liệu, phấn đấu phát triển vùng dược liệu tỉnh Kon Tum thành vùng dược liệu trọng điểm quốc gia và trở thành trung tâm sản xuất dược liệu lớn của cả nước vào năm 2025, với diện tích Sâm Ngọc Linh khoảng 4.500 ha, các cây dược liệu khác khoảng 10.000 ha.

Phát huy lợi thế rừng và đất rừng để phát triển kinh tế lâm nghiệp. Tiếp tục rà soát, sắp xếp lại các công ty lâm nghiệp để đẩy mạnh phát triển trong lĩnh vực lâm nghiệp. Tăng cường quản lý, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả, bền vững tài nguyên rừng. Đẩy mạnh công tác trồng, chăm sóc, khoanh nuôi, phục hồi, cải tạo rừng. Đẩy nhanh tiến độ trồng rừng nguyên liệu theo quy hoạch, thực hiện tốt việc khai thác lâm sản theo phương án quản lý rừng bền vững. Thực hiện tốt công tác giao khoán quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gắn với tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và làm giàu từ rừng cho người dân, cộng đồng dân cư; gắn việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng với phát triển du lịch sinh thái; khuyến khích người dân nhận khoán và trồng rừng đối với các diện tích rừng nghèo. Bố trí diện tích đất rừng và đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp phù hợp để phát triển vùng trồng dược liệu tập trung quy mô lớn; gắn công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng với phát triển dược liệu.

Tiếp tục rà soát, điều chỉnh bổ sung các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực của tỉnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh của tỉnh, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và xu thế thị trường. Có chính sách hỗ trợ đào tạo lao động đối với các dự án phát triển sản phẩm chủ lực, nhất là lao động tại chỗ và lao động là người dân tộc thiểu số.

Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản, dược liệu và năng lượng tái tạo. Chú trọng thu hút các dự án sử dụng công nghệ cao nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu, tài nguyên và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Nâng cao chất lượng xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2025, giá trị xuất khẩu đạt 250 triệu USD. Tăng cường liên kết, phát triển du lịch, trọng tâm là du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tâm linh, du lịch cộng đồng, du lịch thể thao trên cơ sở bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích lịch sử, bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh. Tập trung đầu tư, khai thác hiệu quả Khu du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen, Khu đô thị du lịch Nghỉ dưỡng Đăk Rơ Wa và ven sông Đăk Bla, Vườn quốc gia Chư Mom Ray, Rừng đặc dụng Đăk Uy, Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng suối nước nóng Kon Đào, Rừng thông thị trấn Đăk Tô, lòng hồ thủy điện Ia Ly, Sê San, Plei Krông, Khu vực cột mốc quốc giới chung ba nước Việt Nam - Lào – Campuchia, gắn với Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y; đầu tư, khai thác hiệu quả khu Di tích lịch sử điểm cao 1015 (Sạc ly) - 1049 (Delta), huyện Sa Thầy, Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến thắng Đăk Tô- Tân Cảnh... Nâng lượng khách du lịch đạt khoảng 2,5 triệu lượt người vào năm 2025.

2Tập trung huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại

Tập trung huy động, khai thác nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế. Thực hiện tốt Đề án phát triển nguồn tài lực, vật lực tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng, tạo đột phá thu hút nguồn vốn khu vực tư nhân trong và ngoài nước theo phương thức đối tác công - tư để tập trung đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, đặc biệt đối với các dự án có sức lan tỏa rộng và tác động lớn tới phát triển kinh tế; trong đó, phối hợp với các tỉnh lân cận như Quảng Nam, Quảng Ngãi để mở rộng các tuyến giao thông kết nối liên vùng như Quốc lộ 40, Quốc lộ 24 để tăng cường giao lưu và phát triển kinh tế, xã hội. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư và tập trung nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm[73]; rà soát, chuẩn bị quỹ đất với quy mô phù hợp tại các huyện, thành phố để thu hút các dự án đầu tư có sử dụng đất với diện tích lớn. Tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thành các công trình hạ tầng tại khu trung tâm hành chính của tỉnh, các dự án chỉnh trang đô thị, thương mại, dịch vụ, vui chơi giải trí, các khu sản xuất tập trung để nâng cấp đô thị theo lộ trình[74]. Tiếp tục huy động vốn đầu tư kết cấu hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp[75]; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng thương mại, dịch vụ, nhất là các dự án hậu cần xuất nhập khẩu (Logistics) tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Nghiên cứu xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách huy động nguồn lực để đầu tư, chỉnh trang hạ tầng đô thị đảm bảo theo quy định của pháp luật và phù hợp với đặc thù của tỉnh. Công khai danh mục, tăng cường kêu gọi đầu tư các dự án nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống đô thị, như đầu tư trường học, bệnh viện chất lượng cao, các khu vui chơi giải trí, xử lý nước thải, rác thải. Quan tâm đầu tư xây dựng các công viên cây xanh tại các đô thị. Hoàn thành việc đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế, văn hóa, giáo dục theo tiến độ[76].

Tập trung nguồn lực thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới và Đề án tổng thể phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới tại các xã đã được công nhận đạt chuẩn; lồng ghép, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ các xã thực hiện tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu, xây dựng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu.

3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc; bảo đảm an sinh xã hội...

Đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, phấn đấu đến cuối năm 2025 có trên 60% lao động qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề đạt 44%. Củng cố và nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với bố trí, sử dụng và xuất khẩu lao động. Quan tâm đào tạo lao động có tay nghề cao theo hướng đạt chuẩn đầu ra theo quy định. Tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy tốt năng lực.

Thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nhất là chất lượng dạy và học ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phấn đấu trên 50% số trường mầm non, 70% số trường tiểu học, 50% số trường trung học cơ sở, 55% số trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, tăng cường trang bị dạy và học theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ. Làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng đào tạo từ bậc trung học cơ sở. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và cộng đồng mở trường dân lập, tư thục chất lượng cao. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo.

Củng cố, kiện toàn mạng lưới y tế các tuyến, nhất là tuyến cơ sở; nâng cao năng lực và thực hiện tốt công tác y tế dự phòng, phòng, chống các truyền nhiễm, không lây nhiễm. Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân; đến năm 2025, nâng tuổi thọ bình quân đạt 68 tuổi, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi còn 34%. Đầu tư cơ sở hạ tầng, hiện đại hoá trang thiết bị y tế và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; chú trọng kết hợp khám và điều trị bằng y học hiện đại với y học cổ truyền. Tăng cường hợp tác, liên kết khám, chữa bệnh giữa các cơ sở y tế trong tỉnh với các bệnh viện có chất lượng cao trong nước. Đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập chất lượng cao. Triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế và thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân[77].

Tiếp tục triển khai có kết quả công tác khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, các di tích lịch sử cách mạng gắn với phát huy các tuyến, điểm du lịch. Đầu tư đồng bộ gắn với sử dụng hiệu quả các thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở. Chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa. Thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" bảo đảm đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả; phấn đấu đến năm 2025, có 60% phường, xã, thị trấn có nhà văn hóa, 90% thôn, tổ dân phố đạt danh hiệu văn hóa. Tập trung phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục, thể thao quần chúng[78]; chú trọng đầu tư phát triển các môn thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao mà tỉnh có thế mạnh.

Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các thành tựu tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, nhất là một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế của tỉnh để làm động lực cho tăng trưởng kinh tế. Tăng cường ứng dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp, công nghiệp chế biến. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân về vai trò của khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh hợp tác với các cơ sở nghiên cứu có tiềm lực và kinh nghiệm để triển khai các dự án khoa học phục vụ nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chế biến phát triển sản phẩm mới, sản phẩm dược liệu và đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh, đáp ứng hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển sản xuất. Rà soát, tập trung đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm đặc thù, sản phẩm chủ lực của tỉnh.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước. Thực hiện chuyển đổi số quốc gia hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng. Nâng cao chất lượng dịch vụ truyền thông, xuất bản, báo chí, chủ động định hướng thông tin, tuyên truyền văn hóa, đạo đức xã hội nhằm xây dựng một xã hội lành mạnh, tốt đẹp; tăng cường kiểm soát, hạn chế thông tin giả, xấu, độc hại, phản cảm. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh, hệ thống Truyền thanh-truyền hình các huyện, thành phố; đa dạng hóa về nội dung và tăng cường thời lượng phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương trên các phương tiện truyền thông[79]

Thực hiện đầy đủ các chính sách đối với người có công với cách mạng, các chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục về bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, nhất là tại khu vực nông thôn, các làng nghề, khu, cụm công nghiệp, lưu vực sông, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm nặng. Nâng cao năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ thiên tai; quản lý chặt chẽ các nguồn tài nguyên, sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm gắn với bảo vệ môi trường. Khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo và các nguyên liệu, vật liệu mới, thân thiện với môi trường; có chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác bảo vệ và xử lý ô nhiễm môi trường.

4. Bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hộinâng cao hiệu quả công tác đối ngoại

Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá, dự báo tình hình; chủ động đấu tranh ngăn chặn âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; tiếp tục triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh xóa bỏ triệt để tà đạo Hà Mòn. Phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Chú trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh; xây dựng lực lượng vũ trang đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục nâng cao chất lư­ợng công tác giáo dục, bồi dư­ỡng kiến thức quốc phòng, an ninh.

Chú trọng công tác bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh văn hóa, tư tưởng, an ninh mạng; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên có quan điểm sai trái, cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng… không để các thế lực thù địch và các đối tượng phản động tác động, chuyển hóa tư tưởng. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn hoạt động của địch và các phần tử xấu lợi dụng không gian mạng để xâm hại an ninh quốc gia. Tiếp tục triển khai có hiệu quả phong trào "toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc"; đẩy mạnh đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, tập trung vào các tuyến, địa bàn và lĩnh vực trọng điểm, tội phạm trong thanh thiếu niên, trong lĩnh vực môi trường; phát hiện, giải quyết kịp thời các nhóm hoạt động phức tạp về an ninh trật tự, kiên quyết không để hình thành tội phạm có tổ chức; đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án phục vụ yêu cầu chính trị của địa phương. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phố biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức pháp luật của Nhân dân, nhất là thanh thiếu niên. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, đi đôi với ý thức tự giác, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về công tác phòng, chống tham nhũng. Chủ động thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; điều tra, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí, nhất là các vụ việc phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp, bảo đảm việc tiếp nhận, điều tra, truy tố, xét xử theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.

Tiếp tục củng cố và phát triển có chiều sâu các mối quan hệ hợp tác đã được thiết lập; triển khai có hiệu quả các hoạt động hội nhập quốc tế, trong đó củng cố, tăng cường quan hệ, hợp tác toàn diện với các tỉnh giáp biên của Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia. Phối hợp chặt chẽ với các tỉnh giáp biên của Lào và Campuchia để đề nghị Chính phủ ba nước xem xét, sớm mở các cửa khẩu phụ ở những nơi có đủ điều kiện và nâng cấp các cửa khẩu phụ lên cửa khẩu chính. Nghiên cứu thiết lập quan hệ hợp tác với một số địa phương của Pháp và các nước Âu-Mỹ có thế mạnh về du lịch, quy hoạch và quản lý đô thị; thực hiện có hiệu quả nội dung hợp tác đã ký kết với các địa phương của Hàn Quốc và mở rộng hợp tác với một số tỉnh của Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, I-xra-en...

5. Tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ

Tiếp tục đổi mới hình thức và nâng cao chất lượng công tác quán triệt, triển khai các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những thông tin và luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Chủ động điều tra, nắm bắt dư luận, diễn  biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, kịp thời xử lý những vấn đề tư tưởng tiêu cực nảy sinh ngay tại cơ sở; tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân khi sử dụng mạng xã hội.

Tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả NQTW 4 khóa XII, gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các quy định của Đảng về nêu gương; đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, cán bộ, đảng viên trong triển khai thực hiện nhiệm vụ của địa phương, đơn vị.

Tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Trung ương về sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với tinh giản biên chế. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, năng lực, trách nhiệm, tâm huyết với nhiệm vụ được giao. Triển khai thực hiện tốt công tác nhận xét, đánh giá cán bộ và công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ hằng năm. Đầu tư đúng mức cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, nhất là đối với cấp cơ sở.

Thực hiện nghiêm túc, đúng thực chất việc tự phê bình và phê bình hằng năm. Không ngừng đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ. Quan tâm công tác phát triển tổ chức đảng, đảng viên, nhất là trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước; đồng thời, thực hiện tốt công tác rà soát, sàng lọc đảng viên, kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng. Tiếp tục thực hiện chủ trương bí thư chi bộ kiêm thôn trưởng, tổ trưởng tổ dân phố.

Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng gắn với công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quan tâm vấn đề lịch sử chính trị và kịp thời giải quyết vấn đề lịch sử chính trị và chính trị hiện nay. Tăng cường công tác bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước. 

Triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo chương trình, kế hoạch đã đề ra; trong đó, đẩy mạnh công tác tự kiểm tra của tổ chức đảng, tăng cường kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; tiếp tục rà soát, lồng ghép các chương trình thanh tra, kiểm tra, giám sát tránh chồng chéo, trùng lắp.

Tăng cường, đổi mới nội dung, phương thức công tác dân vận của hệ thống chính trị; đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; nâng cao hiệu quả công tác dân vận của chính quyền. Thực hiện tốt Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa bí thư các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chính quyền với Nhân dân trên địa bàn tỉnh; quy định về trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện đầy đủ các nội dung công khai để Nhân dân được biết, được bàn, được tham gia thực hiện, giám sát; giải quyết kịp thời, thỏa đáng, đúng pháp luật những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân.

Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của các cấp uỷ, tổ chức đảng theo hướng xác định rõ những vấn đề cấp ủy quyết định, những vấn đề cấp ủy cho ý kiến và những vấn đề chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội chủ động triển khai thực hiện, tránh tình trạng cấp ủy bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo. Kịp thời bổ sung, hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy chế, quy trình công tác; đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy Đảng nhưng có trọng tâm, trọng điểm.

Thực hiện nhất quán việc thông qua các đảng đoàn, ban cán sự đảng, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn để lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh và các cơ quan tư pháp; thông qua các cấp ủy trực thuộc để lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với các lực lượng Công an, Quân sự, Bộ đội Biên phòng tỉnh và lãnh đạo toàn diện đối với các huyện ủy, thành ủy; thông qua đồng chí cấp ủy viên, đảng viên là người đứng đầu các sở, ngành để lãnh đạo đối với các cơ quan, đơn vị trong tỉnh.

6. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền

Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp; duy trì việc lồng ghép hội nghị tiếp xúc cử tri của đại biểu hội đồng nhân dân 3 cấp trên cùng một địa bàn, đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động giám sát; tập trung giám sát chuyên đề, giám sát việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan hành chính. Đẩy mạnh cải cách hành chính; thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở tất cả các cơ quan hành chính, tiến tới từng bước xây dựng chính quyền điện tử. Đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; có phong cách, lề lối làm việc sát dân, trọng dân, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Tập trung củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở, bảo đảm điều hành thông suốt, chỉ đạo, xử lý đúng đắn và quyết đoán những vấn đề thuộc thẩm quyền, trách nhiệm được giao, nắm bắt và xử lý có hiệu quả các vấn đề phát sinh; chăm lo xây dựng các thôn, tổ dân phố vững mạnh, an toàn.

Đẩy mạnh cải cách hành chính. Trong đó, nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng hành chính cho công chức, viên chức; rà soát, cắt giảm mạnh các thủ tục hành chính; hình thành trung tâm hành chính công cấp huyện, xây dựng thành công chính quyền điện tử của tỉnh.

7. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội; tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh và nâng cao công tác giáo dục, tuyên truyền, quán triệt việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội theo hướng tăng cường bám sát cơ sở, kịp thời nắm bắt, phản ánh đến cấp ủy, chính quyền và tham gia giải quyết các vấn đề liên quan về đời sống, tư tưởng, tâm trạng của các tầng lớp nhân dân; tăng cường công tác phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội với các cơ quan Nhà nước trong công tác giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền; xây dựng lực lượng cốt cán ở cơ sở, phát huy vai trò của đội ngũ cốt cán, người có uy tín trong cộng đồng, trong các dân tộc, tôn giáo trong công tác vận động quần chúng; vận động Nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do các cấp, các ngành phát động, nhất là phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc", "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh".

 

* Gợi ý một số nội dung cần tập trung thảo luận, tham gia ý kiến đối với Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh (Kèm theo Công văn số 21-CV/TBVK, ngày 22/4/2020 của Tiểu ban Văn Kiện)

* Tập trung tham gia ý kiến về những thành quả; hạn chế, khuyết điểm; một số kinh nghiệm; mục tiêu tổng quát; nhiệm vụ chủ yếu, giải pháp cơ bản nhiệm kỳ 2020-2025 được xác định trong dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh, cụ thể:

- Về đánh giá 5 năm thực hiện thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2015-2020:

+ Việc đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đã đúng thực trạng trên từng lĩnh vực theo yêu cầu tại Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị “về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” chưa? Việc đánh giá thành quả, nguyên nhân của thành quả đạt được trong nhiệm kỳ qua đã đúng thực chất và làm rõ được những điểm nổi bật, tiến bộ hơn so với nhiệm kỳ trước và so sánh với mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đề ra chưa? Những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm đã chính xác chưa? cần thêm, bớt những nội dung nào?

+ Việc xác định một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đã đầy đủ, đúng mức chưa? cần bổ sung thêm những kinh nghiệm nào?

- Về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2020-2025: Việc xác định và dự báo thuận lợi, khó khăn, mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ, chỉ tiêu chủ yếu và giải pháp cơ bản trong nhiệm kỳ 2020-2025 đã sát hợp, đầy đủ chưa? cần thêm, bớt những nội dung nào? Những nhiệm vụ trọng tâm, lĩnh vực đột phá cần tập trung thực hiện để đạt mục tiêu xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định, phát triển nhanh và bền vững.

PHỤ LỤC

-----

([1]) Như: Bí Nhật, bắp sú, cà chua bi, dâu tây, cà rốt, khoai tây, súp lơ, xà lách, cam, bưởi, chanh, bơ, chuối,...

([2]) Đến nay, diện tích cây cao su đã trồng được 74.167 ha, tăng 17.279 ha so với năm 2015; diện tích cà phê đạt 21.619 ha, tăng 6.349 ha so với năm 2015.

([3]) Trong đó diện tích trồng tập trung của các doanh nghiệp khoảng 630 ha, người dân trồng phân tán khoảng 30 ha.

([4]Như: Dự án Khu đô thị phía Nam cầu Đăk Bla, Khu đô thị Bắc Duy Tân, thành phố Kon Tum; Dự án phát triển đô thị Trung tâm hành chính huyện Ia H'Drai; dự án khai thác quỹ đất trên địa bàn một số huyện...

([5]) Tính đến năm 2020 ước đạt: Sản phẩm cà phê bột và cà phê hòa tan ước đạt 130 tấn bột; tinh bột sắn 260 nghìn tấn; cồn sinh học khoảng 9 triệu lít; sản phẩm từ cao su (dây thun khoanh) 1.600 tấn; điện sản xuất 2.674 triệu Kwh.

([6]Đến nay, đã tiến hành bảo tồn, phục hồi 09 nghề truyền thống, gồm: Dệt thổ cẩm; Rèn; Đan lát; Làm rượu cần; Chế tác nỏ; Chế tác các nhạc cụ âm nhạc truyền thống; Đẽo thuyền độc mộc; Tạc tượng; Gốm.

([7]) Năm 2016 đạt 14.010 tỷ đồng, dự kiến năm 2020 đạt 21.505 tỷ đồng.

([8]) Đến cuối năm 2019, giá trị xuất khẩu qua Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y là 201,37 triệu USD, giá trị hàng hóa nhập khẩu 555,94 triệu USD.

([9]) Các tour, tuyến, điểm du lịch kết nối giữa thành phố Kon Tum với Khu du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y; giữa Kon Tum và các tỉnh, thành phố khác… tiếp tục được mở rộng, phát triển.

([10]) Tỉnh đã tiến hành rà soát và xác định lại ngành, nhóm ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực của tỉnh đến năm 2020, định hướng đến 2025, gồm 04 ngành, nhóm ngành kinh tế mũi nhọn được tập trung phát triển, bao gồm: (1) Nhóm ngành nông-lâm nghiệp; (2) Nhóm ngành công nghiệp chế biến; (3) Ngành sản xuất, truyền tải và phân phối điện; (4) Ngành du lịch; 09 sản phẩm chủ lực của tỉnh, bao gồm: (1) Sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn; (2) Sản phẩm trồng trọt ứng dụng công nghệ cao (Sản phẩm trồng trọt và các sản phẩm chế biến từ sản phẩm trồng trọt); (3) Sản phẩm chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao (Sản phẩm từ chăn nuôi và các sản phẩm chế biến từ sản phẩm chăn nuôi); (4) Cà phê và các sản phẩm chế biến từ cà phê; (5) Cao su và các sản phẩm chế biến từ cao su; (6) Sâm Ngọc Linh, các sản phẩm chế biến từ Sâm Ngọc Linh và các loại dược liệu; (7) Gỗ và các sản phẩm sản xuất từ gỗ; (8) Điện; (9) Du lịch sinh thái Măng Đen.

([11]) Trong 05 năm 2016-2020, đã huy động và bố trí khoảng 7.681 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển tại 03 vùng kinh tế động lực của tỉnh. Đến nay: (1) Đối với thành phố Kon Tum: Đã đầu tư cơ bản hoàn thành hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Nam Đăk Bla. Hệ thống đường giao thông, thoát nước, cây xanh được chú trọng đầu tư đồng bộ. 100% tuyến đường trung tâm nội thành đã có hệ thống điện chiếu sáng công lộ; đang thực hiện Đề án bê tông hóa các đường hẻm nội thành thành phố Kon Tum. (2) Đối với huyện Ngọc Hồi: Đã được công nhận đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV và đang hoàn thiện các tiêu chí để thành lập thị xã. (3) Đối với huyện Kon Plông: Kết cấu hạ tầng trung tâm huyện và hạ tầng du lịch được tập trung đầu tư, từng bước đồng bộ. Đã và đang đầu tư các công trình: đường quanh hồ khu trung tâm, vườn hoa trung tâm huyện, đường từ Quốc lộ 24 đi thác Pa Sỹ, đài tưởng niệm chiến thắng Măng Đen, đường vào thác Đăk Ke, đường vào thôn Kon Tu Rằng, đầu tư tôn tạo, bảo tồn và phát triển làng văn hóa-du lịch Kon Tu Rằng... Một số dự án có quy mô lớn đang được triển khai đầu tư.

([12]) Hồ chứa nước Đăk Pokei; Hồ chứa nước Đăk Rơn Ga; Cụm công trình thủy lợi Ia H’Drai...

([13]) Cho chủ trương đầu tư Dự án Tổ hợp thương mại dịch vụ, vui chơi giải trí và nhà phố FLC Kon Tum (tổng vốn đầu tư 1.701 tỷ đồng). Bên cạnh đó, đã bố trí từ vốn NSNN triển khai 13 dự án đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, chỉnh trang đô thị với tổng mức đầu tư khoảng 2.369 tỷ đồng.

([14]) Trong đó, đã kêu gọi doanh nghiệp đầu tư xây dựng Bến xe khách tại huyện Kon Plông đạt tiêu chuẩn loại 3, hiện đã đưa vào khai thác; đồng thời, Bến xe huyện Sa Thầy, Bến xe huyện Tu Mơ Rông cũng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện.

([15]) Trên địa bàn tình hiện có 3 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp đi vào hoạt động với tổng diện tích quy hoạch với tổng diện tích quy hoạch 241,585ha trong tổng số 14 cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tiểu thủ công nghiệp được thành lập; hiện có 1 KCN Hòa Bình đã được đầu tư hạ tầng hoàn chỉnh và đi vào hoạt động với diện tích 60 ha trên tổng số 04 KCN với diện tích 426,76 ha theo danh mục quy hoạch các khu công nghiệp đến năm 2020 của tỉnh Kon Tum được Thủ tướng phê duyệt. Về thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Khu kinh tế cửa khẩu hiện có 52 dự án, với tổng số vốn đầu tư đăng ký 1.222,4 tỷ đồng, vốn thực hiện 575,4 tỷ đồng; Khu Công nghiệp Hòa Bình có 36 dự án, với tổng số vốn đầu tư đăng ký 664,4 tỷ đồng, vốn thực hiện 425,0 tỷ đồng; Cụm công nghiệp Đăk La có 4 dự án, với tổng số vốn đầu tư đăng ký 193,5 tỷ đồng, vốn thực hiện 8,0 tỷ đồng.

([16]Trong đó, triển khai xây dựng chính quyền điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc đạt được nhiều kết quả, nhất là việc kết nối vào trục liên thông văn bản quốc gia, gửi nhận văn bản điện tử 4 cấp từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã.

([17]) Xếp hạng Chỉ số PAPI tỉnh Kon Tum từ vị trí thứ 58/63 tỉnh/thành phố năm 2015 tăng lên xếp thứ 42/63 tỉnh/thành phố năm 2018 (với 43,21 điểm); Xếp hạng Chỉ số SIPAS xếp thứ 63/63 tỉnh/thành phố năm 2017 tăng lên xếp thứ 35/63 tỉnh/thành phố vào năm 2018 (đạt 81,81%).

([18]) Đã chỉ đạo triển khai thực hiện hoàn thành cổ phần hóa cho 02 doanh nghiệp (Công ty TNHH MTV Cấp nước Kon Tum và Công ty TNHH MTV Du lịch Kon Tum) và đang tiến hành cổ phần hóa Trung tâm Đăng kiểm 82.01.S theo đúng kế hoạch đã đề ra.

([19]Đến cuối năm 2019, đã có 363 dự án ngoài các khu kinh tế, khu công nghiệp được cấp phép đầu tư, trong đó có 334 dự án đang còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư 58.683,1 tỷ đồng.

([20]) Tính đến hết tháng 8/2019 trên địa bàn tỉnh hiện có 113 Hợp tác xã, 01 Liên hiệp hợp tác xã và 178 Tổ hợp tác. Số HTX, liên hiệp HTX hoạt động theo Luật HTX năm 2012 là 104/114 (bao gồm: 103 HTX, 01 liên hiệp HTX); 103 tổ hợp tác đăng ký hoạt động theo quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ.

([21]) Tổ hợp tác đã thu thút khoảng 1.888 thành viên, tạo thu nhập cho các thành viên ước đạt 11 triệu đồng/người/năm. Các HTX, Liên hiệp HTX trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 9.028 thành viên và người lao động; thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong HTX khoảng 44 triệu đồng/người/năm.

([22]) Đã xây dựng 07 nhà văn hóa xã từ nguồn kinh phí cấp huyện; đến năm 2020, có thêm 04 nhà văn hóa cấp xã được đầu tư xây dựng. Hiện có 3 trung tâm văn hóa cấp tỉnh, 10 trung tâm văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch cấp huyện, 07 Nhà văn hóa/Trung tâm văn hóa cấp huyện (Sa Thầy, Đăk Tô, Ngọc Hồi, Đăk Hà, Đăk Glei, Kon Plông và thành phố Kon Tum); 47/102 xã có nhà văn hóa.

([23]) Triển khai hỗ trợ cồng chiêng và tổ chức lớp truyền dạy cồng chiêng, xoang trong cộng đồng dân tộc Xơ Đăng (nhóm Ka Dong, Xơ Teng), Ba Na (nhóm Jơ Lơng), Gia Rai, Rơ Măm trên địa bàn các huyện Ngọc Hồi, Kon Rẫy, Đăk Tô, Sa Thầy và thành phố Kon Tum; xây dựng kế hoạch tổng kiểm kê di sản văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, kiểm kê di sản văn hóa truyền thống điển hình của dân tộc Xơ Đăng (nhóm Mơ Nâm) và dân tộc Hre trên địa bàn tỉnh...

([24]) Hiện toàn tỉnh có 26 sân vận động (tăng 15), 16 nhà thi đấu (tăng 5), 454 sân bóng đá (tăng 52), 531 sân bóng chuyền (tăng 49), 279 sân cầu lông (tăng 24), 62 sân tennis (tăng 25), 21 bể bơi (tăng 17) so với cuối năm 2015.

([25]) Tổ chức thành công Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân; các Giải đua thuyền độc mộc mừng xuân; Giải Bóng đá nam 07 người thanh niên dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum. Tỷ lệ người tham gia luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên đạt 28%; tỷ lệ gia đình tham gia luyện tập thể dục thể thao đạt 23%.

([26]) Duy trì luyện tập và tham gia thi đấu các môn: Bóng đá hạng nhì, bóng chuyền A1, Karatedo, Điền kinh, võ cổ truyền, Taekwondo và tham gia: Giải Võ thuật cổ truyền khu vực Miền Trung Tây Nguyên, Giải Bóng chuyền Hạng A toàn quốc, giải Karatedo khu vực Miền Trung - Tây Nguyên, Giải bóng đá hạng nhì quốc gia; Giải vô địch điền kinh các lứa tuổi trẻ toàn quốc; Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc khu vực II...

([27]) Năm học 2019-2020: Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi: Tiểu học 99,9%; Trung học cơ sở 97%.

([28]) Các phòng phục vụ học tập, nhà công vụ giáo viên, phòng nội trú, bán trú cho học sinh, công trình vệ sinh, nước sạch cũng được đầu tư xây mới. Giai đoạn 2015-2020, đã đầu tư thiết bị dạy học cho 62 phòng học tin học, 140 phòng học ngoại ngữ, hơn 3.200 bộ bàn ghế; bổ sung trang thiết bị cho các trường có học sinh bán trú, thiết bị phòng học bộ môn lý, hóa, sinh, thiết bị dạy học tối thiểu với kinh phí hơn 114 tỷ đồng.

([29]) Toàn tỉnh có 197 trường đạt chuẩn quốc gia (Mầm non: 57 trường, chiếm tỷ lệ 41% (vượt mục tiêu nghị quyết); Tiểu học: 82 trường, chiếm tỷ lệ 61,7% (vượt mục tiêu nghị quyết); THCS: 45 trường, chiếm tỷ lệ 40,5% (vượt mục tiêu nghị quyết); THPT: 13 trường, chiếm tỷ lệ 48,1% (vượt mục tiêu nghị quyết). Hiện có 21 trường mầm non tư thục, 02 trường mầm non dân lập và 07 trung tâm ngoại ngữ đang hoạt động.

([30]) Đã đầu tư hoàn thành 61 công trình: Bệnh viện Đa khoa tỉnh (nâng cấp lên 500 giường), Bệnh viện Y Dược cổ truyền, Bệnh viện Phục hồi chức năng, Trung tâm Y tế các huyện Đăk Glei, Ia H’Drai và trên 55 công trình trạm y tế và nhà ở tập thể cho viên chức trạm y tế; đầu tư nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh lên 750 giường (giai đoạn I: một số hạng mục dự kiến được đưa vào sử dụng trong năm 2020), Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi lên 250 giường (hạng mục Khu điều trị nội trú và kỹ thuật nghiệp vụ: dự kiến được đưa vào sử dụng trong năm 2020), Bệnh viện Y dược cổ truyền - Phục hồi chức năng lên 165 giường bệnh và xây  mới, cải tạo, mở rộng 25 trạm y tế. Trang bị 01 máy City scanner 128 lát cắt trị giá khoảng 29 tỷ đồng (Bệnh viện Đa khoa tỉnh);  khoảng 79 loại thiết bị hiện đại trong hồi sức cấp cứu, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm và phẫu thuật với tổng giá trị 61 tỷ đồng.

([31]) Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ hàng năm ở mức 97% trở lên (riêng năm 2018 là 93%); đã loại trừ bệnh phong quy mô cấp tỉnh từ năm 2015; tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư vẫn duy trì ở mức <0,1% dân số; triển khai dịch vụ chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ tại 100% cơ sở cung cấp dịch vụ tuyến tỉnh, huyện và trên 70% trạm y tế xã đã cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản cơ bản.

([32]) Đã cho chủ trương đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vạn An.

([33]) Hỗ trợ người có công với cách mạng 1.289 căn nhà, trong đó: xây dựng mới là 592 căn; sửa chữa là 697 căn. Từ năm 2016 đến năm 2019, Quỹ “Vì người nghèo” các cấp đã vận động được 87.561 triệu đồng; hỗ trợ xây dựng 1.094 căn nhà đại đoàn kết. Trợ giúp 4.418 lượt người nghèo khám chữa bệnh; trao thẻ bảo hiểm y tế với tổng kinh phí 1.449,4 triệu đồng; trao tặng 11.869 suất quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách, các đối tượng khó khăn trong dịp lễ, Tết. Quỹ cứu trợ trong tỉnh vận động được 14.678,3 triệu đồng để hỗ trợ Nhân dân khắc phục hậu quả do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo (số tiền là 9.806,5 triệu đồng). Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 931 “nhà đại đoàn kết” cho người nghèo; như Hội LHPN tỉnh xây dựng, sửa chữa 130 “Mái ấm tình thương”; Liên đoàn Lao động tỉnh xây dựng, sửa chữa 92 “Mái ấm công đoàn”; Tỉnh đoàn xây dựng 72 “Nhà nhân ái".

([34]) Tính đến 31-12-2019, tỷ lệ bao phủ BHXH so với lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 15,06% (41.864 người), đạt 100,4% kế hoạch so với Đề án thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh đến năm 2030 (15%); tỷ lệ bao phủ BHTN so với lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 11,7%, đạt 96,6% kế hoạch so với Đề án (12,11%), nếu tính đối tượng bảo lưu và  nghỉ giải quyết chế độ (1.200 người) thì tỷ lệ bao phủ chiếm khoảng 12,13%; tỷ lệ bao phủ BHYT là 90,6% dân số.

([35]) Đã tuyển chọn và nhân giống cây trồng mới, tăng năng suất, chất lượng để thay thế giống cũ của địa phương như: lúa, rau, hoa xứ lạnh (hoa Lily, hồ điệp, dendro, đồng tiền; cá Hồi, cá Tầm) chất lượng cao; Sâm Ngọc Linh, Hồng đẳng sâm (sâm dây), Ngũ vị tử, nấm ăn và nấm dược liệu... Triển khai nghiên cứu, ứng dụng về quy trình kỹ thuật nhân giống và kỹ thuật nuôi trồng trên các đối tượng có giá trị kinh tế cao như: cá tầm, cá lăng, thác lát, điêu hồng, cá rô đồng đầu vuông, cá chẽm… Triển khai các mô hình trình diễn ứng dụng các chế phẩm sinh học trong xử lý phụ phẩm hữu cơ làm phân bón, cải tạo đất, sử dụng trong canh tác cây trồng để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng; ứng dụng công nghệ vi sinh làm giá thể hữu cơ... Triển khai nghiên cứu, sản xuất thành công 2 sản phẩm “Nước giải khát sâm dây” đóng lon và “cao sâm dây” từ nguồn nguyên liệu của địa phương; nghiên cứu, sản xuất cà phê chất lượng cao bằng công nghệ lên men tại huyện Đăk Hà.

([36]) Trong đó, đã đăng ký và được cấp chỉ dẫn địa lý "Ngọc Linh" đối với sản phẩm Sâm Ngọc Linh củ; tiến hành đăng ký thương hiệu, mã vạch cho các sản phẩm từ Sâm Ngọc Linh; đăng ký chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm cà phê Đăk Hà.

([37]) Số người có trình độ Thạc sỹ và nghiên cứu viên chính trở lên trong lĩnh vực khoa học-công nghệ tăng từ 12 người lên 17 người năm 2020 (trong đó, có 01 tiến sỹ, 07 thạc sỹ (năm 2015 có 06 thạc sỹ))

([38]) Nhà máy xử lý rác thải thành phố Kon Tum của Công ty TNHH Song Nguyên Kon Tum (công suất xử lý 70 - 100 tấn/ngày); khu xử lý chất thải rắn tại huyện Đăk Hà của Công ty TNHH Thương mại và Công nghệ môi trường DH (công suất xử lý 25 tấn/ngày)... Tổng lượng rác thải được thu gom trên địa bàn toàn tỉnh là 255,077 tấn/ngày, xử lý là 168,87 tấn/ngày, đạt tỷ lệ 66,2%.

([39]) Đã triển khai phần mềm Quản lý văn bản và điều hành VNPT Iofice cho tất cả các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh để gửi nhận văn bản đến đi. Triển khai ứng dụng có hiệu quả chữ ký số trong hoạt động trao đổi thông tin giữa các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh; đưa phần mềm Hệ thống một cửa điện tử VNPT iGate vào ứng dụng để giải quyết các thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công...

([40]) Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia…

([41]) Cấp tỉnh đạt kết quả tốt; diễn tập cấp huyện, thành phố đạt 100% chỉ tiêu, trong đó 90% đạt kết quả tốt; 102/102 xã, phường, thị trấn diễn tập chiến đấu phòng thủ kết hợp diễn tập quy chế phối hợp đạt 100% khá trở lên; chất lượng các cuộc diễn tập ngày càng được nâng lên, sát tình hình thực tế.

([42]) Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh đối tượng I: 05; đối tượng II: 177; đối tượng III: 978; đối tượng IV: 10.528; chức sắc tôn giáo 44 người; chức việc 577 người; già làng 282 người; giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên 65.282 em; học kỳ trong Quân đội 950 lượt cháu.

([43]) Năm 2015: 400 công dân; năm 2016: 850 công dân; năm 2017: 702 công dân; năm 2018: 803 công dân; năm 2019: 800 công dân; năm 2020: 851 công dân.

([44]) Phát hiện, ngăn chặn 23 đối tượng, vận động 13 đối tượng quay về, tiếp nhận 01 đối tượng UNHCR trao trả, khởi tố 01 đối tượng về tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài.

([45]) Số vụ vi phạm, tội phạm giảm 10% so với năm 2015. Lực lượng Công an các cấp đã phát hiện 3.216 vụ phạm pháp hình sự; đã khởi tố 1.832 vụ; đề nghị truy tố 1.400 vụ (tỷ lệ trung bình đạt khoảng 75%, trong đó án hình sự nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt 95%); đã tiếp nhận giải quyết 3.462 tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, đã giải quyết 3.140 tin, đạt 90,7%.

([46]) Từ năm 2015 đến 2019, 11 vụ/29 bị cáo liên quan đến tham nhũng được đưa ra xét xử.

([47]Đã ban hành và thực hiện nghiêm Kế hoạch số 97-KH/TU, ngày 18-6-2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy "về trách nhiệm của Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân"; trong đó, định kỳ hằng tháng, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tiếp xúc, đối thoại với công dân tại các huyện, thành phố, đối thoại với đại biểu phụ nữ, thanh niên, công nhân, viên chức, người lao động. Bí thư các cấp ủy đã cụ thể hóa và thực hiện nghiêm chế độ tiếp xúc, đối thoại với công dân theo quy định.

([48]) Đã thực hiện việc tổ chức các phiên tòa theo chủ trương cải cách tư pháp; tiến hành nối mạng, truyền hình trực tuyến các phiên tòa đến Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và các cơ quan, đơn vị; thành lập Trung tâm giám định pháp y của tỉnh; thực hiện tốt việc quản lý các tổ chức hành nghề luật sư, công chứng...

([49]) Đã đánh giá và tổ chức ký kết 09 Bản ghi nhớ về tăng cường quan hệ hợp tác và phát triển kinh tế-xã hội với các tỉnh Nam Lào; ký kết và triển khai Bản ghi nhớ hợp tác với các tỉnh Rat-ta-na-ki-ri, Stung-treng (Campuchia). Trong đó, đã triển khai xây dựng và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, giao thương vùng biên giới hai nước Việt Nam-Lào qua cặp cửa khẩu Quốc tế Bờ Y (Kon Tum, Việt Nam)- Phu Cưa (Ắt-ta-pư, Lào); phát triển các dịch vụ hỗ trợ hoạt động thương mại tại cửa khẩu như kho ngoại quan, điểm tập kết hàng hóa xuất nhập khẩu; đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo, y tế...

([50]) Trong đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã xây dựng Kế hoạch số 102-KH/TU, ngày 10-7-2019 thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII "về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới"; thành lập Ban Chỉ đạo 35 của tỉnh (trên cơ sở kiện toàn Ban Chỉ đạo 94 tỉnh); xây dựng và đưa vào hoạt động diễn đàn "Ngọc Linh Xanh" để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet và mạng xã hội.

([51]) Đã hoàn thành việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế hoạt động của Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh; tổ chức lại Văn phòng Tỉnh ủy để phục vụ chung cho các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy; tổ chức lại các đầu mối trực thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhrà soát và giải thể 02 ban chỉ đạo, ban quản lý dự án không hiệu quả. Kết quả: Đã giảm được 12 đầu mối trực thuộc các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy và cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, giảm 10 trưởng phòng, 01 phó phòng và 06 biên chế so với trước đây.

Hoàn thành chủ trương Trưởng Ban Tuyên giáo đồng thời là Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị 10/10 huyện, thành phố; thực hiện chủ trương Trưởng Ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tại 10 huyện, thành phố; thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã. Ban hành các đề án thực hiện việc hợp nhất một số cơ quan cấp ủy với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện. Rà soát, chấm dứt việc hợp đồng lao động làm công tác chuyên môn tại các cơ quan, đơn vị. Thành lập Đảng bộ Khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh trên cơ sở hợp nhất Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh và Đảng bộ Khối doanh nghiệp tỉnh. Thực hiện hợp nhất các cơ quan, đơn vị có chức năng tương đồng của huyện Ia H'Drai: Hợp nhất Ban Tổ chức Huyện ủy và Phòng Nội vụ huyện thành Cơ quan Tổ chức-Nội vụ huyện; Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy và Thanh tra huyện thành Cơ quan Kiểm tra-Thanh tra huyện; Văn phòng Huyện ủy và Văn phòng HĐND-UBND huyện thành Văn phòng Huyện ủy-HĐND-UBND huyện.

Đã sắp xếp các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh thuộc các lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, Văn hóa thể thao và Du lịch, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Lao động-Thương binh và Xã hội; Tài nguyên và Môi trường. Qua đó, đã giảm 91 đơn vị, 134 cán bộ lãnh đạo. Đối với cấp huyện, đến nay đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp và thành lập trung tâm dịch vụ nông nghiệp, ban quản lý dự án đầu tư và xây dựng, Trung tâm Văn hóa - Thể thao - Du lịch và Truyền thông, Trung tâm Môi trường và Dịch vụ đô thị. Đồng thời đã ban hành Đề án sáp nhập các thôn, tổ dân phố trong toàn tỉnh năm 2019, theo đó sau khi sáp nhập toàn tỉnh còn 756 thôn, tổ dân phố, giảm 118 thôn, tổ dân phố.

([52]) Đã bố trí 366 Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã tại 100% xã trên địa bàn tỉnh.

([53]) Đã cử đi đào tạo, bồi dưỡng 9.621 lượt cán bộ, công chức, viên chức. Trong đó: Sau đại học 45 đồng chí; cao cấp lý luận chính trị 428 đồng chí; trung cấp lý luận chính trị 1.363 đồng chí; bồi dưỡng bí thư cấp huyện 11 đồng chí; bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy 1.279 đồng chí.

Đã thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự đề nghị chỉ định 9 Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, bầu bổ sung 4 Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy và 2 Phó Bí thư Tỉnh ủy; giới thiệu bầu bổ sung 1 Chủ tịch và 02 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Điều động, phân công 2 Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, 39 lượt Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Điều động, bổ nhiệm 149 lượt cán bộ giữ các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; trong đó, cấp trưởng 43 đồng chí, cấp phó 106 đồng chí. Bổ nhiệm lại 71 đồng chí; trong đó: Cấp trưởng 15 đồng chí, cấp phó 56 đồng chí.

([54]) Hiện nay, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo (thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý) là người dân tộc thiểu số: cấp tỉnh 38/73 (chiếm 52,05%), cấp huyện (trừ Công an, quân sự, Biên phòng) 38/137 (chiếm 27,74%). Cán bộ lãnh đạo là nữ cấp tỉnh 35/73 (chiếm 47,95%), cấp huyện 25/137 (chiếm 18,25%).

([55]) Tổng số cán bộ, công chức cấp xã là 1.902 người (trong đó, có 562 cán bộ chủ chốt và 838 công chức cấp xã, còn lại là các chức danh khác). Số cán bộ chủ chốt đạt chuẩn (xét trên 3 tiêu chí: học vấn phổ thông, trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị): 479/562 người (đạt 85,23%) tăng 10,58% so với năm 2015. Trong đó đạt chuẩn về học vấn 92,35%, chuyên môn 91,99% và về lý luận chính trị 96,44%.; Số công chức xã số đạt chuẩn (xét trên 02 tiêu chí: học vấn phổ thông, trình độ chuyên môn) là 802/838 người (đạt 95,58%); trong đó: 95,7% đạt chuẩn về trình độ học vấn, 99,4% đạt chuẩn về trình độ chuyên môn.

([56]) Đã tiến hành rà soát tiêu chuẩn chính trị nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 đối với 60 đồng chí; rà soát tiêu chuẩn chính trị 1.217 lượt cán bộ phục vụ bổ sung quy hoạch nhiệm kỳ 2015-2020 và xây dựng quy hoạch nhiệm kỳ 2020-2025 của các cấp ủy trực thuộc Tỉnh ủy và cán bộ lãnh đạo, quản lý các sở, ban, ngành tỉnh đề nghị; rà soát, thẩm định tiêu chuẩn chính trị 240 lượt cán bộ quy hoạch và bổ sung quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025 và cán bộ lãnh đạo quản lý diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý; trong đó 02 đồng chí quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, nhiệm kỳ 2021-2026.

([57]) Chương trình số 26-CTr/TU, ngày 20-01-2017 của Tỉnh ủy.

([58]) Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã tổ chức 04 cuộc kiểm tra NQTW4 gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị.

([59]) Qua triển khai thực hiện, trên địa bàn tỉnh có 01 tập thể, 02 cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; 30 tập thể và 40 cá nhân được Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng.

([60]) Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, toàn Đảng bộ tỉnh đã kết nạp được 5.175 đảng viên, đạt 103,5 % chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, tăng 19,12% so với tổng số đảng viên từ đầu nhiệm kỳ; trong đó số đảng viên là trong độ tuổi thanh niên tăng 17,98%; số đảng viên người dân tộc thiểu số tăng 16,03%; số đảng viên trong các tôn giáo là tăng 29,28%.

([61]) Đến nay, có 874/874 thôn, tổ dân phố có tổ chức đảng; có 441/874 thôn trưởng, tổ trưởng tổ dân phố là đảng viên (chiếm 50,46%,); 67/441 bí thư chi bộ kiêm thôn trưởng, tổ trưởng tổ dân phố (chiếm 15,19%).

([62]) Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp đã kiểm tra đối với 1.002 lượt đảng viên và 1.084 lượt tổ chức đảng; giám sát 431 lượt đảng viên và 713 lượt tổ chức đảng. Trong đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tiến hành 26 cuộc kiểm tra đối với 118 lượt tổ chức đảng và 28 đảng viên; giám sát 19 cuộc đối với 90 lượt tổ chức đảng và 24 đảng viên.

([63]) Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp đã xem xét thi hành kỷ luật 18 tổ chức đảng, 683 đảng viên (tăng 177 đảng viên so với nhiệm kỳ 2010-2015).

([64]) Như: Niêm yết tại cơ quan, đơn vị, thông báo tại hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, thông báo bằng văn bản gửi cán bộ, công chức, viên chức; đăng trên trang thông tin nội bộ của cơ quan, đơn vị.

([65]) Các nội dung: Bộ phận chịu trách nhiệm giải quyết công việc có liên quan; thủ tục hành chính giải quyết công việc; mẫu đơn từ, hồ sơ cho từng loại công việc; phí, lệ phí theo quy định; thời gian giải quyết từng loại công việc...

([66]) Trong đó, Hội Cựu chiến binh đạt tỷ lệ 88,7%; Công đoàn đạt tỷ lệ 91,6%; Đoàn Thanh niên đạt tỷ lệ 75,8%; Hội Nông dân đạt tỷ lệ 74,6%; Hội Liên hiệp Phụ nữ đạt tỷ lệ 71,5%.

([67]Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội các cấp đã tiến hành 1.704 cuộc giám sát; tổ chức 1.500 cuộc họp và 3.665 đợt lấy ý kiến phản biện đối với các chương trình, dự án; đồng thời tích cực, chủ động tham gia ý kiến đối với các đề án, báo cáo trình Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

([68]) Đã thực hiện kết hợp việc tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp tại cùng một địa bàn.

([69]) Trong đó, đã tiến hành tích hợp, lồng ghép các cuộc giám sát của Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân tại cùng một thời điểm, trên cùng địa bàn.

([70]) Nhiều trường học thiếu trang thiết bị dạy học, thiếu phòng học bộ môn, phòng tin học, phòng ngoại ngữ; cơ sở vật chất phục vụ ăn, ở bán trú cho học sinh các trường dân tộc bán trú chưa bảo đảm.

([71]) Nhiệm kỳ 2015-2020 chỉ kết nạp được 03 đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng. 

([72]) Chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người, độ che phủ rừng, quy mô dân số.

([73]) Như: Nâng cấp Quốc lộ 24 đoạn qua tỉnh Kon Tum, Quốc lộ 14C, Quốc lộ 40B, cao tốc Bờ Y - Ngọc Hồi - Pleiku, đường trục chính phía Tây thành phố Kon Tum, các cầu qua sông Đăk Bla, hạ tầng đô thị hai bên bờ sông Đăk Bla...

([74]) Nâng cấp thành phố Kon Tum đạt đầy đủ các tiêu chí đô thị loại II; huyện Ngọc Hồi đạt tiêu chí đô thị loại III; thị trấn Đăk Tô, Đăk Hà đạt các tiêu chí đô thị loại IV; trung tâm huyện lỵ các huyện Kon Rẫy, Tu Mơ Rông, Ia H’Drai đạt các tiêu chí đô thị loại V.

([75]) Khu công nghiệp Sao Mai, Khu sản xuất, chế biến dược liệu tập trung; Khu công nghiệp Đăk Tô và các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

([76]) Như: Bệnh viện Đa khoa tỉnh từ bệnh viện hạng II lên bệnh viện hạng I (750 giường bệnh); Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi (250 giường bệnh); Bệnh viện huyện Ia H’Drai (60 giường bệnh); Bệnh viện Y học cổ truyền - Phục hồi chức năng (165 gường bệnh); Bệnh viện tâm thần quy mô 100 giường bệnh; Trường phổ thông dân tộc nội trú Đăk Hà; Trung tâm thể dục thể thao tỉnh; Trung tâm văn hóa - nghệ thuật tỉnh; Nhà thi đấu tổng hợp tỉnh; di tích lịch sử Ngục Kon Tum; di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh...

([77]) Đến năm 2025, số giường bệnh/1 vạn dân đạt 38 giường; tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt 95%; số bác sỹ/1 vạn dân đạt 11,5; tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi còn dưới 32,5%o, dưới 5 tuổi còn dưới 51%o; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi) dưới 17%; 100% xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế; 100% trạm y tế xã, phường, thị trấn có bác sỹ làm việc.

([78]) Phấn đấu đến năm 2025, có 40% dân số tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, 27% hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình thể thao, hình thành 500 câu lạc bộ thể dục, thể thao.

([79]) Truyền hình Internet, truyền hình vệ tinh, truyền hình số mặt đất…

http://baokontum.com.vn/xay-dung-dang/cong-bo-du-thao-bao-cao-chinh-tri-trinh-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-lan-thu-xvi-de-lay-y-kien-tham-gia-cua-cb-dv-va-cac-tang-lop-nhan-dan-14861.html

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Văn Bản Mới

TÀI LIỆU gửi kèm CV.3016.BTGTU

tuyên truyền về chống khai thác hải sản bất hợp pháp...

Lượt xem:69 | lượt tải:26

CV.3016.BTGTU

về gửi tài liệu tuyên truyền chống khai thác hải sản bất hợp pháp...

Lượt xem:60 | lượt tải:17

CV.3014.BTGTU

Báo cáo sơ kết công tác tuyên giáo 6 tháng đầu năm 2020

Lượt xem:87 | lượt tải:39

CV.12149.VPTW

V/v gửi Phát biểu của đc TBT, CTN bế mạc HNTW 12, khóa XII

Lượt xem:57 | lượt tải:26

THÔNG BÁO

Kết quả, thời gian và danh sách thi chung kết tuyên truyền biển, đảo VN 2020

Lượt xem:148 | lượt tải:79

CV.3003.BTGTU

Tuyên truyền hưởng ứng và Thể lệ Cuộc thi ảnh nghệ thuật, chủ đề "Tự hào một dải biên cương"

Lượt xem:119 | lượt tải:27

CV.2989.BTGTU

gửi tác phẩm tham gia giải thưởng VHNT, báo chí về đề tài Hải quân, giai đoạn 2016-2020

Lượt xem:122 | lượt tải:54
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập33
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm32
  • Hôm nay5,466
  • Tháng hiện tại322,220
  • Tổng lượt truy cập6,964,299
cuoc thi 90 nam covid
     Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
   
 - Giấy phép số 03/GP- TTĐT, ngày 21 tháng 9 năm 2015
     - Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum, số 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum, tỉnh Kon Tum
     - Người chịu trách nhiệm chính: Bà Lê Thị Kim Đơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
     - Điện thoại: 0260.3862301. Fax: 0260. 3865464. Email: bantuyengiaotinhuykt@gmail.com; phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây