Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 7-2016 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 7-2016

Thứ ba - 28/06/2016 03:05

A. VĂN BẢN MỚI

I. VĂN BẢN CỦA TỈNH

1. Ngày 30/5/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 22/2016/QĐ-UBND về việc bãi bỏ Quyết định số 44/2009/QĐ-UBND ngày 31/7/2009 của UBND tỉnh về ban hành chính sách hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh đi học đại học, sau đại học và chính sách thu hút cán bộ, sinh viên tốt nghiệp về công tác tại tỉnh.

Theo đó, kể từ ngày 01/6/2016, chấm dứt việc thực hiện chính sách hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức đi học đại học, sau đại học và chính sách thu hút cán bộ, sinh viên tốt nghiệp về công tác tại tỉnh. Đối với các trường hợp đã được cấp có thẩm quyền cử đi học đại học, sau đại học và các trường hợp đã thực hiện quy trình thu hút trước ngày 01/6/2016 tiếp tục được hưởng chính sách hỗ trợ theo Quyết định số 44/2009/QĐ-UBND ngày 31/7/2009 của UBND tỉnh Kon Tum.

Quyết định có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký.

2. Ngày 1-6-2016, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 01 về Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020, có tính đến năm 2025.

Sau gần 5 năm thực hiện Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới, đến nay tỉnh Kon Tum đã có 9 xã đạt tiêu chí nông thôn mới. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội vùng nông thôn trong tỉnh được đầu tư xây dựng đáng kể, diện mạo nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân. Để tiếp tục phát huy kết quả đạt được, đẩy mạnh thực hiện Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2020, mới đây tại Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV, đã ban hành Nghị quyết số 01, ngày 1/6/2016 về Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020, có tính đến năm 2025.

Nghị quyết đề ra mục tiêu tiếp tục củng cố và phát triển vững chắc đối với các xã đạt chuẩn nông thôn mới, đi đôi với việc tập trung xây dựng các xã có điều kiện, khả năng, đảm bảo các xã mỗi năm đạt thêm từ 1 đến 2 tiêu chí trở lên. Phấn đấu đến năm 2020, toàn tỉnh có 100% số xã đạt chuẩn các tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch, thủy lợi, điện, bưu điện, nhà ở dân cư, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, giáo dục, y tế, an ninh trật tự xã hội và có 25 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới; đến năm 2025 có 50% số xã đạt chuẩn xã nông thôn mới.

3. Ngày 8/6/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 612/QĐ-UBND về việc quy định giá thóc dùng để tính thuế sử dụng đất nông nghiệp vụ Đông Xuân năm 2016 trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, giá thóc dùng để tính thuế sử dụng đất nông nghiệp trên các địa bàn khu vực 1 (các phường, thị trấn) là 6.063 đồng/kg; khu vực II (các xã) là 5.540 đồng/kg.

UBND tỉnh giao Cục Thuế tỉnh chủ trì, phối hợp các đơn vị có liên quan hướng dẫn cụ thể việc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp vụ Đông Xuân năm 2016 theo quy định.

4. Ngày 13/6/2016, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1280/KH-UBND về phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) tỉnh Kon Tum giai đoạn 2016 - 2020.

Theo đó, mục tiêu đề ra là phấn đấu đến năm 2020, hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về KH&CN từ tỉnh đến các huyện, thành phố; 100% cán bộ quản lý KH&CN được bồi dưỡng, chuẩn hoá theo quy định. Tỷ lệ các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ từ ngân sách được ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn sản xuất đạt 60%; phấn đấu thương mại hóa 02-03 kết quả nghiên cứu.  Hàng năm hỗ trợ trực tiếp ít nhất 02 doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển công nghệ cao để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Xây dựng được 02-03 sản phẩm mang thương hiệu, địa danh của tỉnh đối với các sản phẩm chủ lực, sản phẩm có lợi thể cạnh tranh của tỉnh. Nâng cao hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh thông qua việc thực hiện cơ chế đặt hàng, cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng và cấp phát kinh phí theo cơ chế quỹ. Nâng cao hiệu quả của các tổ chức KH&CN, hoàn thành việc chuyển đổi tổ chức KH&CN công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Phấn đấu có 03-05 doanh nghiệp KH&CN được thành lập. Đảm bảo 100% các kết quả nghiên cứu khoa học cấp tỉnh được đăng ký và lưu trữ trên hệ thống thông tin KH&CN. Xây dựng 01-02 tổ chức KH&CN có mô hình tiên tiến so với trong nước.

Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đề ra, Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề ra phương hướng: Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý và hoạt động KH&CN; tập trung các nguồn lực để triển khai các định hướng phát triển KH&CN chủ yếu; tiếp tục nâng cao tiềm lực KH&CN của tỉnh; phát triển thị trường KH&CN, doanh nghiệp KH&CN và các hoạt động dịch vụ KH&CN; nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN cơ sở; tiếp tục đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN.

5. Ngày 14/6/2016, UBND tỉnh ban hành Công văn số 1304/UBND-KGVX chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố tập trung quán triệt, thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí do UBND tỉnh ban hành.

UBND tỉnh yêu cầu nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, địa phương trong việc phát ngôn, chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí tác nghiệp; phân công người phát ngôn, người được ủy quyền phát ngôn phải bảo đảm các tiêu chuẩn và năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao; công khai thông tin về người phát ngôn trên trang thông tin điện tử của đơn vị, địa phương.

Quan tâm, chấn chỉnh việc thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong công tác phát ngôn, nêu cao tính trách nhiệm trong phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, tổ chức quán triệt kịp thời, đầy đủ các quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin cho báo chí trong đội ngũ công chức, viên chức và người lao động của cơ quan, đơn vị.

Khi phát hiện thông tin phản ánh trên báo chí chưa chính xác hoặc chưa đầy đủ, phải kịp thời xác minh làm rõ; khi có căn cứ xác định thông tin báo chí đăng tải sai sự thật về lĩnh vực quản lý thì phải yêu cầu cơ quan báo chí đó đăng tải ý kiến phản hồi, cải chính theo đúng quy định của pháp luật.

Ngoài ra, UBND tỉnh giao Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng, kinh nghiệm phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí cho cán bộ được cử làm người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan, địa phương.

Thời gian qua, các sở, ban, ngành; UBND các huyện, thành phố đã thực hiện tương đối nghiêm túc Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trên địa bàn tỉnh, tạo thuận lợi cho các cơ quan báo chí trong quá trình thu thập, nắm bắt và xử lý thông tin, phục vụ kịp thời và có hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của địa phương. Tuy nhiên, việc thực hiện Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như: Việc tổ chức họp báo định kỳ để cung cấp thông tin chính thống cho báo chí chưa được một số cơ quan, địa phương quan tâm; trách nhiệm và kỹ năng cung cấp thông thông tin cho báo chí của một số lãnh đạo sở, ngành, địa phương còn hạn chế. Một số thông tin phản ánh trên báo, đài thiếu chính xác, thiếu khách quan, gây dư luận không tốt…

6. Ngày 21/6/2016, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch 1385/KH-UBND về tổ chức các hoạt động truyền thông nhân "Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam" - 01/7/2016.

Theo đó, chủ đề các hoạt động truyền thông nhân "Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam" - 01/7/2016 là "Chung tay thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân". Thời gian triển khai từ ngày 25/6/2016 đến ngày 10/7/2016 trên phạm vi toàn tỉnh.

Các hoạt động bao gồm:

(1) Tổ chức tuyên truyền thường xuyên trên sóng phát thanh và truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh; Đài Phát thanh - Truyền hình các huyện, thành phố; Báo Kon Tum; Bản tin Sức khỏe và Đời sống của Ngành Y tế; các ấn phẩm của cơ quan Bảo hiểm xã hội và các ngành trong tỉnh, trong đó tập trung tuyên truyền những nội dung về chính sách, pháp luật BHYT, trọng tâm là việc tuyên truyền vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức hội, đoàn thể, các doanh nghiệp và cá nhân trong việc vận động, huy động mọi tầng lớp nhân dân thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật về BHYT; hướng dẫn các thủ tục, kê khai tham gia BHYT hộ gia đình, thủ tục khám bệnh, chữa bệnh và chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh BHYT.

(2) Nghiêm túc triển khai thực hiện Luật bảo hiểm y tế và các văn bản hướng dẫn; Chỉ thị số 06/CT-BYT ngày 13/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra phòng chống hành vi gian lận, trục lợi quỹ BHYT tại các cơ sở khám, chữa bệnh...

(3) Treo băng rôn, biểu ngữ trên các tuyến đường chính tại trung tâm các huyện, thành phố, khu đông dân cư và tại các cơ sở khám, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn tỉnh với các nội dung tuyên truyền chủ yếu như sau: Tham gia BHYT để chăm lo sức khỏe nhân dân, gia đình và cộng đồng; Thực hiện BHYT hộ gia đình để chăm sóc sức khỏe cho mọi thành viên trong gia đình; Cùng tham gia BHYT là chia sẻ yêu thương, trách nhiệm chăm lo sức khỏe cho các thành viên trong hộ gia đình; Thực hiện nghiêm Luật bảo hiểm y tế nhằm đảm bảo an sinh xã hội và sự phát triển bền vững; Sức khỏe cộng đồng gắn liền với BHYT toàn dân; Tham gia BHYT là trách nhiệm và quyền lợi của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi tổ chức và cộng đồng; Vì an sinh xã hội, vì hạnh phúc của mỗi nhà, mọi người hãy tham gia BHYT.

(4) Thực hiện phóng sự phản ánh tình hình thực hiện chính sách pháp luật về BHYT từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2015) đến nay. Nội dung bao gồm: tuyên truyền về chính sách, pháp luật BHYT; tổ chức công tác khám, chữa bệnh và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT; thực hiện chính sách BHYT đối với người thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo; người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ý kiến phản ánh của các đối tượng là người thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số về thủ tục cấp hoặc hỗ trợ mua BHYT và khám, chữa bệnh bằng thẻ BHYT tại các cơ sở y tế; ý kiến phản ánh của người lao động về mua BHYT trong doanh nghiệp và tình hình doanh nghiệp thực hiện chính sách BHYT cho người lao động.

II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG

Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt. Nghị định gồm 5 chương, 82 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016, trong đó có một số quy định theo hướng tăng mức phạt tiền và kéo dài thời gian tước giấy phép lái xe, cụ thể là:

- Đối với người điều khiển xe ô tô:

+ Người điều khiển xe ô tô không chấp hành hiệu lệnh hoặc không chấp hành đèn tín hiệu sẽ bị phạt tiền từ 1,2-2 triệu đồng (theo quy định cũ là 0,8 triệu -1,2 triệu đồng) và bị tước giấy phép lái xe 1-3 tháng (theo quy định trước là 1 tháng).

+ Người điều khiển xe ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền 16-18 triệu đồng (quy định cũ là 10-15 triệu đồng) và bị tước giấy phép lái xe 4-6 tháng (quy định cũ là 3 tháng). Người điều khiển xe ô tô không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn và chất ma túy của người thi hành công vụ cũng bị áp dụng mức phạt trên. Nếu dùng chân để điều khiển vô lăng xe ô tô khi xe đang chạy trên đường bị phạt từ 7-8 triệu đồng; mức phạt này cũng áp dụng đối với hành vi điều khiển xe lạng lách, đánh võng; trường hợp vi phạm quy định này mà không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc gây tai nạn giao thông sẽ bị phạt tiền từ 18-20 triệu đồng (quy định cũ là 15-20 triệu đồng) và bị tước giấy phép lái xe 4-6 tháng (quy định cũ là 4 tháng).

+ Người điều khiển xe ô tô trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy sẽ bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (GPLX) từ 22 - 24 tháng (trong trường hợp có GPLX) hoặc phạt tiền từ 16 - 18 triệu đồng (trong trường hợp không có GPLX hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng GPLX).

- Đối với người điều khiển xe mô tô, xe máy:

+ Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau: a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy; b) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông; c) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

+ Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau: a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h; b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ; c) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

- Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính bị phạt từ 100.000 - 200.000 đồng.

- Về trường hợp không cứu giúp người bị tai nạn giao thông khi có yêu cầu sẽ bị xử mức phạt như sau: Đối với cá nhân có thể bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000; Đối với tập thể trong trường hợp này có thể bị phạt từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng…

Bên cạnh đó, Nghị định này cũng có nhiều quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt.

B. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN

Trong tháng 07-2016, công tác tuyên truyền tập trung vào 02 nội dung trọng tâm sau:

1. Công tác tuyên truyền theo chủ đề, chủ điểm

- Tiếp tục tuyên truyền việc học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng theo Chỉ thị 01-CT/TW, ngày 22/3/2016 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 10-KH/TU, ngày 10/5/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

- Tiếp tục tuyên truyền thành công Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; biểu dương kịp thời những đơn vị và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bầu cử.

- Tuyên truyền về Kỳ họp thứ nhất, HĐND tỉnh khóa XI với những nội dung quan trọng như: Thông qua chương trình công tác năm 2016 của HĐND tỉnh khóa XI; bầu các chức danh lãnh đạo của HĐND tỉnh và UBND tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021.

- Tuyên truyền kết quả sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị  khóa XI; việc triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII; biểu dương, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; cổ vũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

- Tuyên truyền các ngày lễ lớn, ngày kỷ niệm diễn ra trong tháng 7[1]; hướng tới kỷ niệm 86 năm Ngày truyền thống công tác Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930-01/8/2016).

2. Công tác tuyên truyền thường xuyên

- Tiếp tục tuyên truyền những nội dung cơ bản, những nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu, giải pháp đột phá trong Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; những thành tựu đạt được về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị và đối ngoại của tỉnh, của đất nước trong thời kỳ đổi mới, nhất là thành tựu sau 25 năm thành lập lại tỉnh; 30 năm đổi mới của đất nước và kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020.

- Tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực phát triển kinh tế; xây dựng nông thôn mới; xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa; bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh… Bồi dưỡng, xây dựng các điển hình tiên tiến của địa phương, ngành mình. Phát động phong trào học tập, thi đua với các điển hình tiên tiến trong quá trình triển khai thực hiện, đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống.

- Tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ kinh tế- xã hội tháng 7 và những tháng còn lại của năm 2016; kết quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh; tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thích ứng với biến đổi khí hậu...

- Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta. 

- Thường xuyên tuyên truyền việc triển khai thực hiện Kết luận số 1663-KL/TU, ngày 24-4-2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh”; Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17- 4-2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh.

- Thường xuyên tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh, các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm; công tác quản lý bảo vệ tài nguyên, khoáng sản; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông...

C. TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI THÁNG 6 VÀ 6 THÁNG NĂM 2016

1. Tăng trưởng kinh tế

Ước tính tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Kon Tum 6 tháng đầu năm 2016 theo giá so sánh năm 2010 đạt 4.234,55 tỷ đồng, tăng 5,03%([2]) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm 1,14%; khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng 6,16% và khu vực Dịch vụ tăng 6,74%. Trong tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản  - 0,19 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp - xây dựng đóng góp 1,53 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ đóng góp 3,34 điểm phần trăm.

- Khu vực Nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm 2016 giảm  1,14%, chủ yếu là do vụ đông   xuân 2015 - 2016 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra khô hạn, thiếu nước với diện tích lên đến 4.198,27 ha gồm: 1.372,1 ha lúa; 2.533,3 ha cây công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu,....); 49,52 ha ngô, rau màu các loại và 243,35 ha cây trồng khác bao gồm: cây sắn, cây lâm nghiệp,... (những diện tích cây công nghiệp, cây lâm nghiệp chủ yếu là đang trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, do hạn hán thiếu nước nên dẫn đến tình trạng cây bị cháy, khô).

- Khu vực Công nghiệp - Xây dựng có mức tăng 6,16%, chủ yếu nhờ vào mức tăng cao của ngành công nghiệp chế biến với chỉ số sản xuất tăng 14,39% (một số sản phẩm có sản lượng tăng cao như bàn ghế các loại tăng 16,4%, đường tăng 20,33%...)

- Khu vực Dịch vụ có mức tăng 6,74%, trong đó các hoạt động dịch vụ có mức tăng trưởng cao như: Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 6 tháng năm 2016 đạt 653.973,73 triệu đồng, tăng 13,35 %, Tổng mức hàng hoá bán lẻ, doanh thu dịch vụ ước tính 6 tháng năm 2016 đạt 6.833.451 triệu đồng, tăng 12,80% so với cùng kỳ năm trước...

2. Tài chính, ngân hàng

- Thu, chi ngân sách

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt 915 tỷ đồng, đạt 37,35% so dự toán địa phương giao và bằng 92,70% so với cùng kỳ; Trong đó: Thu sản xuất kinh doanh trong nước đạt 805 tỷ đồng, đạt 39,85% dự toán; thu từ thuế xuất nhập khẩu và VAT hàng nhập khẩu đạt 53 tỷ đồng, đạt 15,82% dự toán; thu xổ số kiến thiết đạt 44 tỷ đồng, đạt 62,86% dự toán; ghi thu, ghi chi học phí, viện phí quản lý qua ngân sách 13 tỷ đồng đạt 52,00% dự toán.

Chi ngân sách địa phương 6 tháng đầu năm ước thực hiện 2.583 tỷ đồng, đạt 44,2% dự toán. Chi đầu tư phát triển 816,987 tỷ đồng, đạt 50,80%; Chi đầu tư từ nguồn xổ số kiến thiết đạt 34,81 tỷ đồng chiếm 46,30 % dự toán ; Ghi thu, ghi chi viện trợ, các khoản đóng góp đạt 13 tỷ đồng, tăng 30% so với dự toán.

- Kết quả hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng

+ Trong 6 tháng đầu năm thực hiện ý kiến chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chủ động rà soát các  khoản nợ vay của người dân, doanh nghiệp bị thiệt hại do hạn hán gây ra, kịp thời thực hiện các biện pháp tháo gõ khó khăn như cơ cấu lại thời gian trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, xem xét miễn giảm lãi vốn vay...Đồng thời, tiếp tục xem xét cho vay mới giúp khách hàng khắc phục khó khăn ổn định sản xuất, tích cực phối hợp cùng chính quyền địa phương, ban, ngành trong việc đánh giá, thống kê tổn thất thiệt hại từ nguồn vốn vay ngân hàng để báo cáo các cấp có thẩm quyền tiến hành hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP.

+ Hoạt động tín dụng

Tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn ước tính đến 30/6/2016 đạt 18.500 tỷ đồng, đạt 87% so với kế hoạch; Trong đó dư nợ ngắn hạn 10.500 tỷ đồng (chiếm 57% tổng dư nợ), dư nợ trung hạn 8.000 tỷ đồng (chiếm 43% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay VND 18.300 tỷ đồng (chiếm 99%), dư nợ cho vay ngoại tệ không đáng kể (dư nợ quy đổi khoảng 95 tỷ đồng). 

3. Đầu tư và xây dựng

a) Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn  6 tháng đầu năm 2016: 3.257.884 triệu đồng.

- Chia theo nguồn vốn

Vốn Nhà nước trên địa bàn thực hiện là: 1.187.787 triệu đồng, chiếm 36,46% trong tổng số nguồn vốn. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước: 605.922 triệu đồng, chiếm 51,01%; Trái phiếu chính phủ: 176.548 triệu đồng, chiếm 14,86% trong tổng số vốn Nhà nước trên địa bàn; Vốn tín dụng đầu tư phát triển: 56.973 triệu đồng, chiếm 4,80%; Vốn vay từ các nguồn khác: 129.136 triệu đồng, chiếm 10,87%; Vốn tự có của doanh nghiệp Nhà nước: 216.043 triệu đồng, chiếm 18,19%; Vốn khác: 3.165 triệu đồng, chiếm 0,27% trong tổng số vốn Nhà nước trên địa bàn. 

Vốn ngoài Nhà nước thực hiện là: 2.054.458 triệu đồng, chiếm 63,06% trong tổng số nguồn vốn, chia ra: Vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước: 636.706 triệu đồng, chiếm 30,99 % trong tổng số; Vốn đầu tư của dân cư: 1.417.752  triệu đồng, chiếm 69,01% tổng nguồn vốn.   

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  thực hiện là: 15.639 triệu đồng, chiếm 0,48% trong tổng số nguồn vốn đầu tư phát triển và chủ yếu vốn tự có của doanh nghiệp FDI.        

- Chia theo khoản mục

Vốn đầu tư XDCB:  2.497.104 triệu đồng, chiếm 76,65% trong tổng nguồn vốn. Trong đó vốn xây dựng và lắp đặt thực hiện 2.240.422 triệu đồng, chiếm 89,72% trong số vốn đầu tư XDCB.

Vốn đầu tư mua sắm TSCĐ dùng cho sản xuất không qua XDCB:  338.412 triệu đồng , chiếm 10,39% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ: 168.578 triệu đồng, chiếm 5,17% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động: 240.161 triệu đồng, chiếm 7,37% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư khác: 13.629 triệu đồng, chiếm 0,42% nguồn trong tổng vốn.

Trong  6 tháng  đầu  năm  2016 nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý  và vốn đầu tư phát triển trên địa bàn trên địa bàn tỉnh Kon Tum chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh như :  Đường giao thông Đắk côi- ĐắkPXy (Km0-39+060); Kè chống sạt lở bờ sông Đắk Bla –Kon Tum; Đường nông thôn liên xã và cầu Đắk Ang, huyện Ngọc Hồi; Đường giao thông Tu Mơ Rông - Ngọc Yêu; đường liên xã Đắk Xú - Plei Kần; Trung tâm dạy nghề huyện ĐắkGlei; Cải tạo, sửa chữa Nhà khách Quang Trung, Đường nội bộ văn phòng nhà nghỉ rừng đặc dụng; Bổ sung lưới điện Hà Mòn;  Nhà khách huyện Đắk Hà;  Đường dân sinh thôn Kô Xia 1+2 xã Ngọc Lây, huyện Tu Mơ Rông; Nâng cấp bệnh viện đa khoa Kon Tum từ 400 lên 500 giường;  CBĐT Đường bao quanh khu dân cư phía nam Thành phố Kon Tum; CBĐT  đường bao quanh khu dân cư phía bắc thành phố KonTum; Nâng cấp  Bệnh viện y học cổ truyền  Tỉnh Kon Tum... và một số công trình dự án thuộc  các nguồn vốn chương  trình mục tiêu quốc gia: Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững (Chương trình 30a, Chương trình 135); nguồn vốn đầu tư theo các chương trình mục tiêu: Chương trình phát triển kinh tế xã hội các vùng; Chương trình đầu tư phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình mục tiêu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư; Chương trình mục tiêu cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo; Chương trình mục tiêu đầu tư cơ sở hạ tầng khu kinh tế ven biển, khu kinh tế  cửa khẩu, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;  Chương trình mục tiêu đầu tư hệ thống y tế địa phương giai đoạn 2016-2020; Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa; Chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng du lịch; Chương trình mục tiêu quốc phòng an ninh trên địa bàn trọng điểm...

b) Xây dựng: Hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực trong những tháng đầu năm. Các đơn vị, doanh nghiệp tiếp tục đẩy nhanh việc thi công những công trình chuyển tiếp, đồng thời triển khai thực hiện các hợp đồng mới. 

- Ước thực hiện giá trị sản xuất 6 tháng đầu năm 2016 ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh Kon Tum theo giá hiện hành  đạt: 2.599.070 triệu đồng, tăng 15,71% so cùng kỳ năm trước. Chia ra:

Doanh nghiệp Nhà nước đạt 96.593 triệu đồng (chiếm 3,71% trong tổng GTSX), tăng 3,27% so cùng kỳ năm trước.

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt 1.389.393 triệu đồng, tăng 7,81% so cùng kỳ năm trước .

Các loại hình khác (Hộ dân cư và xã/phường/thị trấn) đạt 1.113.084 triệu đồng, tăng 28,84% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Xã, phường/thị trấn đạt 41.078 triệu đồng, tăng 21,24% so với cùng kỳ năm trước; Hộ dân cư đạt 1.072.006 triệu đồng, tăng 29,15% so với cùng kỳ năm trước.

- Ước thực hiện giá trị sản xuất 6 tháng đầu năm 2016 ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh Kon Tum theo giá so sánh 2010 đạt: 1.920.052 triệu đồng, tăng 15,97% so cùng kỳ năm trước, Chia ra:

Doanh nghiệp Nhà nước đạt 71.339 triệu đồng (chiếm 3,71% trong tổng GTSX) tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt 1.026.459 triệu đồng, tăng 8,06% so cùng kỳ năm trước

Các loại hình khác (Hộ dân cư và xã/phường/thị trấn) đạt 822.254 triệu đồng, tăng 29,12% so với cùng kỳ năm trước, Chia ra: Xã, phường/thị trấn đạt 30.338 triệu đồng, tăng 21,48% so với cùng kỳ năm trước; Hộ dân cư đạt 791.916 triệu đồng, tăng 29,43% so với cùng kỳ năm trước.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt có đến ngày 15/6/2016

+ Tình hình sản xuất Vụ đông xuân 2015 - 2016:

Tổng diện tích gieo trồng  (DTGT) cây hàng năm vụ đông xuân 2015 - 2016 tỉnh Kon Tum ước đạt: 11.353 ha, tăng 0,5% (+58 ha) so với cùng kỳ vụ đông   xuân 2014 - 2015. Trong đó diện tích cây lương thực có hạt là: 8.333 ha, giảm 0,6% (-47 ha); rau, đậu, hoa, cây cảnh diện tích 1.115 ha, tăng 7,8% (+81 ha) so cùng kỳ năm trước. Cụ thể một số loại cây trồng như sau: Cây lúa DTGT: 7.407 ha, giảm 2,4% (-179 ha) so cùng kỳ vụ đông   xuân 2014 – 2015; Cây ngô DTGT: 926 ha, tăng 16,6% (+132 ha) so cùng kỳ vụ đông   xuân 2014 - 2015. Diện tích ngô tăng cao là do chính quyền địa phương đã chủ động hướng dẫn bà con chuyển đổi một số diện tích trồng lúa thiếu nước tưới sang trồng ngô lai để tránh hạn; Cây mía: DTGT mía toàn tỉnh là: 1.771 ha, giảm 2,5% (-45 ha) so cùng kỳ năm trước.

Sản lượng lương thực Vụ đông xuân 2015 - 2016 ­ước đạt 34.157 tấn, giảm 10,6% (-4.030 tấn), so vụ đông xuân 2014 - 2015, trong đó sản lư­ợng lúa 31.188 tấn, giảm 12,8% (-4.563 tấn), sản lượng lúa giảm do ảnh hưởng của tình trạng hạn hán kéo dài khiến nhiều diện tích bị mất trắng và năng suất lúa giảm đáng kể; Sản lượng ngô 2.969 tấn, tăng 21,9% (+533 tấn) so vụ đông xuân 2014 - 2015, sản lượng ngô tăng chủ yếu do DTGT tăng.

Năng suất lúa ư­ớc đạt 42,11 tạ/ha, giảm 10,7% (-5,02 tạ/ha) so với vụ đông   xuân năm trước. Năng suất ngô ước đạt 32,06 tạ/ha, tăng 4,5% (+1,38 tạ/ha) so vụ đông xuân 2014 - 2015.

+ Tình hình khô hạn, thiếu nước và công tác khắc phục, phòng, chống hạn vụ đông xuân 2015 - 2016:

Tình hình hạn hán: Vụ đông xuân 2015 - 2016 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra khô hạn, thiếu nước với diện tích lên đến 4.198,27 ha gồm: 1.372,1 ha lúa; 2.533,3 ha cây công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu,....); 49,52 ha ngô, rau màu các loại và 243,35 ha cây trồng khác bao gồm: cây sắn, cây lâm nghiệp,... (những diện tích cây công nghiệp, cây lâm nghiệp chủ yếu là đang trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, do hạn hán thiếu nước nên dẫn đến tình trạng cây bị cháy, khô).

Đánh giá công tác phòng, chống hạn: Để chủ động đối phó với tình hình hạn hán vụ đông xuân 2015 - 2016, UBND tỉnh đã ban hành Văn bản số 2471/UBND-KTN ngày 22/10/2015 về việc tăng cường công tác phòng chống hạn vụ đông xuân 2015 - 2016 trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 2735/KH-UBND ngày 23/11/2015 về phòng, chống hạn vụ đông xuân năm 2015 - 2016 do ảnh hưởng của El Nino trên địa bàn tỉnh Kon Tum; Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 01/3/2016 về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống hạn trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo các huyện, thành phố, đơn vị liên quan xây dựng phương án chống hạn cụ thể cho từng vùng và tổ chức triển khai thực hiện. Đồng thời xem công tác phòng, chống hạn, phòng cháy chữa cháy rừng là nhiệm vụ cấp bách, ưu tiên hàng đầu.

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2016

Tính đến thời điểm ngày 15/6/2016 tổng DTGT cây hàng năm vụ mùa 2016 tỉnh Kon Tum là: 45.879 ha, giảm 3,6% (-1.721 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm 2015. Do ảnh hưởng nắng nóng kéo dài, mùa mưa đến muộn, lượng nước mưa đầu mùa chưa đảm bảo nên tiến độ xuống giống chậm đặc biệt là cây ngô và cây sắn.

Cây lúa DTGT: 7.192 ha, tăng 2,7% (+191 ha) so cùng kỳ vụ mùa năm trước.

Cây ngô DTGT: 4.529 ha, giảm 6,9% (-337 ha) so cùng kỳ vụ mùa năm trước.

Cây sắn DTGT: 32.763 ha, giảm 4,7% (- 1.614 ha) so cùng kỳ năm trước.

Khoai lang DTGT: 97 ha, giảm 11,0% (-12 ha)  so cùng kỳ năm trước.

Cây lạc DTGT: 74 ha, giảm 8,6% (-7 ha) so cùng kỳ năm trước.

Rau các loại DTGT: 844 ha, tăng 6,6% (+52 ha) so cùng kỳ năm trước.

Đậu các loại DTGT: 270 ha, tăng 1,9% (+5 ha) so cùng kỳ năm trước

Hoa các loại DTGT: 72 ha, tăng 1,4% (+1 ha) so cùng kỳ năm trước.

- Trồng trọt ước đến ngày 30/6/2016

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm Vụ mùa 2016: Ước đến thời điểm ngày 30/6/2016 tổng DTGT cây hàng năm vụ mùa 2016 tỉnh Kon Tum là: 51.286 ha, giảm 3,4% (-1.813 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm 2015. Do ảnh hưởng nắng nóng kéo dài, mùa mưa đến muộn, lượng nước mưa đầu mùa chưa đảm bảo nên tiến độ xuống giống chậm đặc biệt là cây ngô và cây sắn.

Cây lúa DTGT: 9.392 ha, tăng 2,4% (+218 ha) so cùng kỳ vụ mùa năm trước.

Cây ngô DTGT: 5.290 ha, giảm 6,0% (-338 ha) so cùng kỳ vụ mùa năm trước.

Cây sắn DTGT: 35.163 ha, giảm 4,6% (- 1.714 ha) so cùng kỳ năm trước.

Khoai lang DTGT: 97 ha, giảm 11,0% (-12 ha)  so cùng kỳ năm trước.

Cây lạc DTGT: 77 ha, giảm 9,4% (-8 ha) so cùng kỳ năm trước.

Rau các loại DTGT: 885 ha, tăng 3,9% (+33 ha) so cùng kỳ năm trước.

Đậu các loại DTGT: 272 ha, tăng 2,6% (+7 ha) so cùng kỳ năm trước

Hoa các loại DTGT: 72 ha, tăng 1,4% (+1 ha) so cùng kỳ năm trước.

+ Diện tích cây lâu năm

Kon Tum là tỉnh có sản lượng cây ăn quả không lớn. Khí hậu, thổ nhưỡng  không phù hợp với các loại cây ăn quả. Diện tích chủ yếu trồng rải rác ở các khu vườn hộ dân, sản lượng thu hoạch chủ yếu phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày.

Sản lượng cây công nghiệp lâu năm cũng không nhiều so với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên. Kon Tum chủ yếu trồng tập trung các cây trọng điểm là cao su và cà phê.

Hiện nay, diện tích cây cà phê là 15.425 ha, tăng 9% (+1.275 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích cây cao su là 74.686 ha, giảm 0,4 (-270 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Trong 6 tháng đầu năm, cây cà phê chưa cho sản lượng thu hoạch. Đối với cây cao su sản lượng thu hoạch cũng không nhiều vì giai đoạn này cây thay lá nên không khai thác được; Tình trạng hạn hán kéo dài cũng đã làm ảnh hưởng đến năng suất mủ của cây cao su cũng như các loại cây trồng lâu năm khác trên địa bàn.

- Chăn nuôi

+ Tình hình chăn nuôi

Tổng đàn trâu ước tính đến ngày 01/4/2016 là 22.777 con, tăng 4,32% (+943 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu có xu hướng phát triển và ổn định tổng đàn.

Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước tính: 323 tấn, tăng 9,86% (+29 tấn) so với cùng kỳ năm trước.  

Tổng đàn bò ước tính đến ngày 01/4/2016 là 63.693 con, tăng 6,06% (+3.639 con) so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân làm cho đàn bò tăng là do có Dự án Chăn nuôi bò giống thịt sinh sản chất lượng cao của Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển Nông nghiệp Ia H’Drai Kon Tum, đã nhập 500 con bò giống Úc về nuôi tại huyện, dự báo thời gian tới Công ty nhập thêm 10.000 con. Bên cạnh đó dịch bệnh ít xảy ra, không có gia súc bị tiêu hủy do dịch bệnh nguy hiểm, người dân chăn nuôi đang tăng cường đầu tư.

Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước tính: 2.646 tấn, tăng 4,42% (+112 tấn) so với cùng kỳ năm trước.  

Tổng đàn lợn ước tính đến ngày 01/4/2016 là 136.606 con tăng 3,08% (+4.086 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn lợn biến động tăng do trong kỳ không xảy ra dịch bệnh nguy hiểm trên đàn lợn, cơ quan Thú y thực hiện tốt việc phòng chống dịch trên đàn lợn kịp thời hiệu quả, giá cả ổn định, người chăn nuôi tính toán có lãi nên hộ đầu tư phát triển tăng đàn.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 12701 tấn, tăng 5,94%(+712 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng đàn gia cầm ước tính đến ngày 01/4/2016 là 867.360 con, tăng  8,04% (+64540 con); Trong đó đàn gà ước tính là 769.062 tăng 5,00% (+36.912 con) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thịt hơi gia cầm 936 tấn, tăng 13,59% (+112 tấn) so với cùng kỳ năm trước; Trong đó thịt gà là 816 tấn.

+ Tình hình dịch bệnh

Trong 6 tháng đầu  năm 2016 trên địa bàn tỉnh tái phát bệnh Lở mồm long móng (LMLM) ở huyện Đắk Glei. Từ ngày 06/4/2016 phát hiện một ổ bệnh LMLM trên đàn bò của 01 hộ gia đình thuộc thôn Đông Lốc, xã Đắk Man, huyện ĐắkGlei, số gia súc mắc bệnh 05 con bò đã điều trị khỏi bệnh.

Trong 6 tháng đầu  năm 2016  trên địa bàn tỉnh phát hiện dịch cúm gia cầm A/H5N6 tại 02/10 huyện, thành phố. Từ ngày 06 - 09/01/2016 tại 02 hộ chăn nuôi thuộc xã Đắk Kan, huyện Ngọc Hồi và từ ngày 09 - 13/01/2016 tại 01 hộ chăn nuôi thuộc xã Đắk Ngọc, huyện Đắk Hà; Tổng số gia cầm bệnh: 2.184 con (1.710 con gà,  474 con  vịt, ngan); số gia cầm chết: 1.495 con (1.100 con gà, 395 con vịt, ngan); số tiêu hủy: 3.144 con gia cầm (2.280 con gà, 864 con vịt, ngan).  Toàn bộ số gia cầm mắc bệnh nêu trên đều chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh cúm; đây là ổ dịch cúm có chủng vi rút lần đầu xuất hiện tại ổ dịch trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

Một số bệnh thông thường khác xảy ra tại một số địa phương đã được lực lượng Thú y phát hiện và điều trị kịp thời, không để lây lan ra diện rộng.

b) Lâm nghiệp

Ước tính đến thời điểm 30/6/2016, công tác trồng rừng tập trung là 300 ha, giảm 72,7% (-800 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năm nay mùa mưa đến muộn nên doanh nghiệp và Nhân dân triển khai trồng rừng chậm.

Công tác khai thác lâm sản: ước tính đến thời điểm 30/6/2016 sản lượng gỗ khai thác được 7.982 m³, giảm 41% (- 5.552 m³) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác là: 158.960 ster, tăng 5% (+7.569 ster) so với cùng kỳ năm trước.

c) Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính là 614 ha, tăng 7,9% (+45 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thuỷ sản ước tính là 1.631 tấn, tăng 3% (+47 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Sản lượng nuôi trồng nước ngọt ước tính là 1.025 tấn, tăng 2,3% (+23 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác nước ngọt ước tính là 606 tấn, tăng 4,1% (+24 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

5. Sản xuất công nghiệp

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 6 năm 2016:

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6 năm 2016 ước tính tăng 3,25% so cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao nhất  (tăng 10,68%); ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,26%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,02%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm tương đối thấp (giảm 11,62%) so cùng kỳ, nguyên nhân do hạn hán kéo dài nên lượng nước ở các hồ chứa xuống thấp, các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất của các nhà máy nhằm ổn định lượng nước trên các hồ chứa để duy trì hoạt động.

So với tháng trước chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6/2016 ước tính chỉ bằng 91,22%. Nguyên nhân chủ yếu do chỉ số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm ( giảm 15,86%); Đầu tháng 6 sản lượng tinh bột sắn của các nhà máy sản xuất tinh bột sắn giảm nhiều so tháng trước do đã vào cuối vụ thu hoạch nên nguyên liệu khan hiếm đã làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm thấp so tháng trước. Các ngành sản xuất khác có chỉ số sản xuất tăng nhẹ so tháng trước.

- Tình hình hoạt động  sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2016

Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2016 tăng 4,77% so cùng kỳ năm trước; Trong đó tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 14,39%), ngành khai thác cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải tăng 6,04%; ngành công nghiệp khai thác khoáng sản tăng nhẹ (tăng 3,54%); riêng ngành sản xuất và phân phối điện giảm thấp (giảm 12,88%) so cùng kỳ năm trước nguyên nhân là do từ những tháng cuối năm trước đến nay trên địa bàn tỉnh tình hình nắng hạn kéo dài, lượng nước ở các sông, hồ giảm thấp nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất.

Ước tính một số sản phẩm sản xuất trong 6 tháng đầu năm 2016 như sau: Đá xây dựng khai thác 297.986 m³, tăng 3,44% so cùng kỳ năm trước; Tinh bột sắn ước tính sản xuất 104.552 tấn, tăng 2,42% so cùng kỳ năm trước; lượng đường sản xuất 14.035 tấn, tăng 20,33% so cùng kỳ năm trước; bàn, ghế ước tính sản xuất 93.259 cái, tăng 16,40% so cùng kỳ năm trước, điện sản xuất ước tính 267,63 triệu Kwh, bằng 77,81% so cùng kỳ năm trước .

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5 năm 2016 giảm 21,04% so cùng kỳ năm trước. Trong đó giảm thấp nhất thuộc nhóm ngành sản xuất chế biến thực phẩm (giảm 30,65%), nguyên nhân là do thị trường xuất khẩu khó khăn, lượng tinh bột sắn của các nhà máy sản xuất ra tiêu thụ chậm; sản phẩm sản xuất thuộc các ngành như sản xuất trang phục, chế biến gỗ…có thị trường tiêu thụ ổn định và chỉ số tiêu thụ tăng tương ứng theo sản lượng sản xuất ra.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thời điểm 01/06/2016 giảm 7,97% so cùng thời điểm tháng trước; Ngành sản xuất tinh bột sắn chỉ số tồn kho có giảm so tháng trước; Tuy nhiên hiện tại thị trường tiêu thụ sản phẩm vẫn còn nhiều khó khăn; các ngành sản xuất khác tình hình tiêu thụ sản phẩm trong tháng tương đối thuận lợi nên chỉ số tồn kho sản phẩm đều giảm so cùng thời điểm tháng trước. So cùng thời điểm năm trước chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,52%; Trong đó ngành sản xuất tinh bột sắn chỉ số tồn kho tăng cao nhất (tăng 39,13%), ngành chế biến gỗ (tăng 12,35%) do lượng xuất khẩu thấp, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu bán trong thị trường nội địa nên lượng tiêu thụ chậm, ngành sản xuất bê tông (tăng 28,90%) do sản lượng sản xuất tăng, lượng sản phẩm nhập kho cao, trong khi đó các tháng đầu năm một số công trình xây dựng chưa tập trung thi công nên lượng tiêu thụ chậm, các ngành còn lại có chỉ số tồn kho giảm so cùng thời điểm năm trước.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong 6 tháng đầu năm 2016 hoạt động sản xuất tương đối ổn định, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so cùng kỳ năm trước; năm nay Công ty Cổ phần Đường Kon Tum ngoài nguồn nguyên liệu mía trong tỉnh còn thu mua thêm nguồn nguyên liệu mía ngoài tỉnh để sản xuất, thời gian hoạt động sản xuất kéo dài hơn so với năm trước nên sản phẩm đường sản xuất tăng cao; ngành chế biến tinh bột sắn tuy thị trường tiêu thụ sản phẩm có khó khăn nhưng trong những tháng đầu năm các đơn vị vẫn thu mua nguyên liệu và sản xuất bình thường. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định, lượng sản phẩm tồn kho tháng sau có xu hướng giảm so tháng trước. Đối với ngành sản xuất điện, sản lượng điện sản xuất trong 6 tháng đầu năm 2016 giảm thấp so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do từ những tháng cuối của năm trước đến nay trên địa bàn  nắng hạn kéo dài, lượng nước ở các hồ chứa giảm thấp nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất. 

6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Từ 01/01/2016 đến ngày 31/5/2016, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kon Tum đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 104 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 873,4 tỷ đồng,  số doanh nghiệp giải thể là 12 doanh nghiệp.  Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hoạt động tương đối ổn định và tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh.

7. Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 6 năm 2016 đạt 1.125.514,2 triệu đồng, giảm 2,77% so với tháng trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 930.363,4 triệu đồng, chiếm 82,66% trong tổng mức và giảm 2,81% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 124.699,5 triệu đồng, chiếm 11,08% trong tổng mức và giảm 3,01% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 70.451,3 triệu đồng, chiếm 6,26% trong tổng mức và giảm 1,88% so với tháng trước.

Nguyên nhân ước tính tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh tháng 6 giảm so với tháng trước là do: tháng 6 thời tiết  đã  vào mùa mưa, các đơn vị kinh doanh thương mại ít triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, lượng hàng hoá lưu thông và sức mua của người dân giảm so với tháng trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính 6 tháng đầu năm 2016 đạt 6.833.451 triệu đồng, tăng 12,80% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 5.655.607,2 triệu đồng, chiếm 82,76% trong tổng mức và tăng 12,88% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 753.134,3 triệu đồng, chiếm 11,02% trong tổng mức và tăng 14,55% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 424.709,5 triệu đồng, chiếm 6,22% trong tổng mức và tăng 8,87% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính 6 tháng đầu năm 2016 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: số lượng doanh nghiệp ngoài Nhà nước đăng ký mới đã đi vào hoạt động, một số doanh nghiệp ngừng hoạt động đã trở lại hoạt động và các cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ cá thể trên địa bàn tỉnh tăng, bên cạnh, một số doanh nghiệp đã chủ động mở rộng quy mô, hoạt động đa ngành nghề. Hơn nữa, trong những tháng đầu năm một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng.

b) Xuất, nhập khẩu

- Xuất khẩu

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tháng 6 năm 2016 đạt 4.727 ngàn USD, giảm 23,3% so với số thực hiện tháng trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 2.110 tấn; Sắn và các sản phẩm từ sắn (tinh bột sắn) 3.225 tấn; Gỗ xẻ các loại 593 m³ ; Cà phê nhân 57,6 tấn; Sản phẩm từ gỗ (bàn, ghế các loại) 66.165 cái.

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2016 đạt 35.920 ngàn USD tăng 79,97% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước. Chia ra: thành phần kinh tế Nhà nước 468 ngàn USD, chiếm 1,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; thành phần kinh tế tư nhân 35.452 ngàn USD, chiếm 98,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 19.549,6 tấn; Sắn và các sản phẩm từ sắn (tinh bột sắn) 19.926 tấn; Gỗ xẻ các loại 4.334,9 m³m3 ; Dây thun cao su 567,2 tấn; Cà phê nhân 825,4 tấn; Sản phẩm từ gỗ (bàn, ghế các loại) 172.094 cái.

Tình hình hoạt động xuất khẩu trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2016 tăng so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do: một số doanh nghiệp trên địa bàn có hoạt động xuất khẩu đã tìm được thị trường, có đơn đặt hàng và ký kết được hợp đồng xuất khẩu các mặt hàng sang các nước.

- Nhập khẩu

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tháng 6 năm 2016 đạt 845,5 ngàn USD, tăng 33,78% so với số thực hiện tháng trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 1.126 m³; Khoá thẻ Adel các loại 294 cái; Chất dẻo nguyên liệu (Precipitated Silica) 10 tấn; cà phê nhân 220 tấn.

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2016 đạt 2.508 ngàn USD giảm 63,05% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 8.233 m³; Khoá thẻ Adel các loại 784 cái; Chất dẻo nguyên liệu (Precipitated Silica) 90 tấn; cà phê nhân 660 tấn.

Nguyên nhân: tổng kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2016 giảm so với cùng kỳ năm trước là do lượng nhập khẩu mặt hàng gỗ giảm mạnh làm cho kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước.  

c) Vận tải

- Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính thực hiện tháng 6 năm 2016 đạt 653.874 triệu đồng, tăng 13,35 % so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 245.673 triệu đồng, tăng      13,89 so với cùng kỳ năm trước

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 405.722 triệu đồng, tăng 12,99 % so với cùng kỳ năm trước

 Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải đạt 413,75 triệu đồng, tăng 0,51% so với tháng trước.

- Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 6 tháng đầu năm 2016 đạt 653.973,73 triệu đồng, tăng 13,35 % so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

+ Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 245.673,39 triệu đồng, tăng 13,89 % so với cùng kỳ năm trước; Vận chuyển ước tính đạt 4.777,34 nghìn lượt khách, tăng 12,83 % so với cùng kỳ năm trước; Luân chuyển ước tính đạt 610.126,18 nghìn lượt khách.km, tăng 11,5 % so với cùng kỳ năm trước.

+ Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 405.722,48 triệu đồng, tăng  12,99 % so với cùng kỳ năm trước; Vận chuyển ước tính đạt 4.753,69 nghìn tấn, tăng 13,13 % so với cùng kỳ năm trước; Luân chuyển ước tính đạt 239.356,27 nghìn tấn.km, tăng 15,12 % so với cùng kỳ năm trước.

- Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước tính đạt 2.477,86 triệu đồng, tăng 18,56 % so với cùng kỳ năm trước.

d) Chỉ số giá

Trong tháng 6 năm 2016 chỉ số giá của nhiều nhóm ngành hàng có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước; đảm bảo cân đối cung - cầu các loại hàng hóa, dịch vụ, giá một số hàng hóa thiết yếu tiếp tục ổn định hoặc tăng nhẹ. Bên cạnh đó, giá xăng dầu và giá ga cũng được điều chỉnh tăng trong tháng làm cho chỉ số giá tiêu dùng tăng.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2016 đã tăng 0,36% so với tháng trước; tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; tăng 1,29% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2016 so với cùng kỳ năm trước tăng 1,05%.  Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 03 nhóm tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,28%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,13%; giao thông tăng 2,73%. Có 03 nhóm ổn định: đồ uống và thuốc lá; giáo dục và hàng hóa và dịch vụ khác. Có 05 nhóm giảm: Nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,25%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,06%; nhóm thuốc dịch vụ y tế giảm 0,28%; bưu chính viễn thông giảm 0,11%; Nhóm văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,11%.

- Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh: Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới với xu hướng giảm so với tháng trước, hiện giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 6/2016 được bán với giá khoảng là 3.099.000 đồng/chỉ giảm 0,16% so với tháng trước, tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch tại mức 22.214 đồng/USD tăng 0,42% so với tháng trước.

8. Các vấn đề xã hội 

a) Đời sống dân cư

- Đánh giá chung về tình hình biến động đời sống của dân cư

Trong  6 tháng đầu năm 2016, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum tương đối ổn định; Tuy giá cả thị trường có tăng nhẹ ở một số mặt hàng tiêu dùng như lương thực, thực phẩm trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Thân, đã làm ảnh hưởng đến đời sống dân cư nhưng không lớn. Song với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND-UBND tỉnh, cùng các ngành, các cấp đã thực hiện chương trình bình ổn thị trường phục vụ Tết Nguyên đán Bính Thân. Tỉnh Kon Tum đã trích từ ngân sách 85 tỷ đồng hỗ trợ 4 đơn vị là Siêu thị Thành Nghĩa- Nhà sách Nguyễn Văn Cừ, Công ty Cổ phần thương mại tổng hợp Kon Tum, Công ty TNHH TMDV Anh Thi, Siêu thị Vinmart dự trữ hàng hóa với các mặt hàng thiết yếu như lương thực (gạo tẻ, gạo nếp, đậu); thực phẩm công nghệ (dầu ăn, mắm, muối, bột ngọt, đường kính, hạt nêm, mì tôm...); thực phẩm chế biến; bánh kẹo, nước ngọt, sữa các loại; thực phẩm tươi sống; trứng gia cầm. Chương trình bắt đầu từ tháng 12 năm 2015 đến hết tháng 3 năm 2016. Ngoài ra, do thời tiết không thuận lợi hạn hán kéo dài đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, gieo trồng và sinh hoạt của Nhân dân trên địa bàn tỉnh. UBND tỉnh đã chỉ đạo các địa phương nạo vét kênh mương, thông dòng, chuẩn bị bơm tưới cứu cây trồng, xuất kinh phí hỗ trợ để người dân cứu lúa đông xuân, mua bồn trữ nước cấp cho các “điểm nóng” về nước sinh hoạt, hỗ trợ người dân đào giếng để giải quyết nước cho khu dân cư, trường học.

- Thực trạng đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương, đời sống dân cư nông thôn

+ Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương

Những năm qua, các cơ chế, chính sách lao động, tiền lương áp dụng đối với cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trong khu vực Nhà nước, ngoài Nhà nước, cũng như khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước luôn được điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng có bước phát triển đáng kể, theo đó cơ chế tiền lương, thu nhập của cán bộ, công nhân viên chức, người lao động đã có nhiều thay đổi, dần dần ổn định. Đặc biệt, kể từ tháng 5/2016 thực hiện Nghị quyết số 99/2015/QH13 ngày 11/11/2015 của Quốc hội quy định từ ngày 01/5/2016 điều chỉnh tăng mức lương cơ sở từ 1.050.000 đồng/tháng lên 1.210.000 đồng/tháng (tăng 5,7%), áp dụng cho các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang. Vì vậy, đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang dần được cải thiện hơn so với năm trước.

+ Thực trạng đời sống dân cư nông thôn

Những năm qua, tỉnh Kon Tum đã phát động ra quân đồng loạt xây dựng nông thôn mới, đã hỗ trợ trực tiếp và lồng ghép từ các chương trình, dự án với tổng nguồn vốn 184,6 tỷ đồng (hỗ trợ trực tiếp là 113 tỷ đồng, lồng ghép 71,6 tỷ đồng); tổ chức thực hiện Đề án chính sách hỗ trợ xây dựng các công trình Kinh tế - Xã hội thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Đối với 22 xã điểm, đến nay đã có 09 xã đạt tiêu chuẩn xã nông thôn mới: xã Hà Mòn, xã Đắk Mar, xã Đắk La (huyện Đắk Hà); xã Diên Bình, xã Tân Cảnh (huyện Đắk Tô); xã Đoàn Kết, xã Ia Chim, xã Hoà Bình (thành phố Kon Tum) và xã Sa Sơn (huyện sa Thầy).

Trong 6 tháng đầu năm 2016, tình hình hạn hán kéo dài đã làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của nông dân; giá bán sản phẩm sản xuất hàng nông nghiệp giảm ở một số mặt hàng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su đã làm ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của nông dân trên địa bàn tỉnh, nhất là những nông dân trồng cây cao su. Song, được sự chỉ đạo kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND - UBND tỉnh, Chính quyền địa phương các cấp, các ngành đã triển khai tốt các biện pháp khắc phục, nhằm ổn định tình hình sản xuất nông nghiệp nên đời sống nông dân vẫn ổn định.

- Giải quyết việc làm

Kết quả triển khai nguồn vốn Quỹ giải quyết việc làm tính đến 15/6/2016 đã giải ngân cho vay số tiền 7.273 triệu đồng, tạo việc làm mới cho 271 lao động. Tổng số lao động được tạo việc làm thông qua chương trình việc làm đến 31/5/2016 là 480 lao động (Trong đó, XKLĐ: 10 lao động; Thông qua nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm: 271 lao động; cung ứng lao động thông qua Trung tâm Dịch vụ việc làm: 199 lao động).

Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, từ đầu năm đến 15/6/2016 có 258 người nộp hồ sơ hưởng Bảo hiểm thất nghiệp, trong đó DTTS 30 người; số người có Quyết định hưởng trợ cấp là 218 người, tổng số tiền chi trợ cấp thất nghiệp từ đầu năm đến nay là: 3.136 triệu đồng.

Từ những thay đổi chính sách tiền lương và giải quyết việc làm, đời sống của cán bộ, công nhân viên chức và người lao động hưởng lương 6 tháng đầu năm 2016 được cải thiện hơn so với năm trước.

- An sinh xã hội

+ Công tác giảm nghèo

Kon Tum có hai huyện KonPlông và huyện Tu Mơ Rông thực hiện Nghị quyết 30a và ba huyện Đắk Glei, Sa Thầy, Kon Rẫy và huyện Ia H’Drai thực hiện theo Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định như huyện thực hiện Nghị quyết 30a. Sau 7 năm triển khai thực hiện, Nghị quyết đã thực sự mang lại hiệu quả thiết thực, nâng cao đời sống không chỉ ở các huyện thụ hưởng mà còn góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trong 5 năm qua, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh đã giảm mạnh, từ 33,36% cuối năm 2010 xuống 10,26% vào cuối năm 2015 (theo chuẩn nghèo ban hành theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg), bình quân mỗi năm giảm 4,62%.

+ Bảo trợ xã hội

Thường xuyên quan tâm đến các đối tượng hộ nghèo, hộ thiếu đói giáp hạt, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người già cô đơn...cụ thể:

 Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016, để Nhân dân trên toàn tỉnh đón Tết vui tươi, an toàn, lành mạnh và tiết kiệm, nhất là những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng chính sách. Các cơ quan, đơn vị, địa phương đã quan tâm, tổ chức thăm hỏi, động viên và tặng quà cho người nghèo, gia đình chính sách, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và những đối tượng khó khăn… để tất cả mọi người, mọi nhà đều đón Tết cổ truyền của dân tộc trong không khí vui vẻ, đầm ấm.

UBND tỉnh đã phân bổ 376,5 tấn gạo Chính phủ hỗ trợ nhân dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2016 cho các huyện, thành phố để hỗ trợ kịp thời cho Nhân dân (gồm 6.929 hộ/25.100 khẩu). Riêng huyện Đắk Glei đã chủ động xuất ngân sách huyện hỗ trợ cứu đói trong 03 ngày Tết cho 1.145 hộ/4.717 khẩu, với kinh phí thực hiện: 183,963 triệu đồng

Tổ chức thăm và tặng 10.223 suất quà cho người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và các đối tượng khác với tổng kinh phí là 3.534,471 triệu đồng, trong đó: tặng quà của Chủ tịch nước cho 22 cụ tròn 100 tuổi (22 triệu đồng); tặng quà của UBND tỉnh cho 146 cụ tròn 90 tuổi (58,4 triệu đồng)...

Các cơ quan, đơn vị, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và ngân sách của các huyện, thành phố hỗ trợ, đóng góp, ủng hộ người nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội 23.351 suất quà, trị giá 10.468,87 triệu đồng.

Các huyện, thành phố đã thực hiện cấp thẻ BHYT cho toàn bộ người nghèo, cận nghèo với tổng số 122.386 người (chia ra: 105.063 người nghèo, 12.977 người cận nghèo được hỗ trợ 100%, 4.346 người cận nghèo được hỗ trợ 70%) với tỷ lệ 100% người nghèo, cận nghèo được cấp thẻ BHYT (trong đó thẻ BHYT người nghèo, cận nghèo chiếm tỷ lệ 70,89%; thẻ BHYT theo các chính sách khác chiếm tỷ lệ 29,11%).

+ Thực hiện chính sách với người có công

Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016, UBND tỉnh đã tổ chức thăm và tặng 8.086 suất quà cho các đối tượng là người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh với tổng kinh phí là 1.691,84 triệu đồng, trong đó: UBND tỉnh tổ chức thăm, tặng 90 suất quà với tổng trị giá 45 triệu đồng cho người có công với cách mạng tiêu biểu (500.000 đồng/suất); chuyển 5.730 suất quà của Chủ tịch nước tặng người có công với cách mạng, tổng trị giá 1.160,4 triệu đồng (Mức 400.000 đồng: 78 suất; Mức 200.000 đồng: 5.652 suất); UBND các huyện, thành phố xuất ngân sách tổ chức thăm và tặng 1.688 suất quà cho người có công với cách mạng, tổng trị giá 335,49 triệu đồng; các sở, ngành và đoàn thể trong tỉnh tặng 578 suất quà cho người có công với cách mạng, tổng trị giá 150,95 triệu đồng.

b) Y tế

- Tình hình dịch bệnh dịch 6 tháng đầu năm 2016

Bệnh tay - chân - miệng: Có đến 31/5/2016: 137 ca mắc. Trong đó: (ĐắkGlei 55, Đắk Hà 20, Sa Thầy 7, Đắk Tô 3, TP. Kon Tum 20, Tu Mơ Rông 3, Kon Rẫy 17, Ngọc Hồi 6, KonPlông 3, IaH’Drai 3 ), tăng 95 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Bệnh sốt xuất huyết: Có đến 31/5/2016: 265 ca mắc sốt xuất huyết. Trong đó: (TP. Kon Tum 66, Sa Thầy 06, Đắk Hà 64, Đắk Tô 126, Ngọc Hồi 02, Tu Mơ Rông 01), tăng 258 ca so với cùng kỳ năm trước và tử vong 01.

Bệnh thuỷ đậu :Có đến 31/5/2016, toàn tỉnh đã ghi nhận 547 ca mắc. Trong đó: (Sa Thầy 73, Đắk Tô 150, Đắk Hà 113, TP. Kon Tum 68, Tu Mơ Rông 48, Đắk Glei 60, Kon Rẫy 06, Ngọc Hồi 26, Kon Plông 03), tăng 70 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Bệnh quai bị: Lũy tích đến 31/5/2016, toàn tỉnh đã ghi nhận 391 ca mắc, Trong đó: Đắk Hà 138, Ngọc Hồi 99, Đắk Tô 97, Tu Mơ Rông 19, Sa Thầy 14, IaH’Drai 07, Kon Tum 06, Đắk Glei 05, KonPlông 04, Kon Rẫy 02, tăng 170 ca so với cùng kỳ năm trước.

Bệnh Bạch Hầu:  Ghi nhận 01 vụ dịch nhỏ có 2 ca dương tính với vi khuẩn bạch hầu (01 người ở tỉnh Quảng Ngãi) và 01 trường hợp tử vong nghi do bạch hầu.

Sốt rét: Lũy tích đến 31/5/2016, toàn tỉnh đã ghi nhận 134 ca mắc, giảm 57 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Tổng số bệnh nhân lao mới phát hiện 22 người (AFB (+): 11; AFB(-): 05; lao ngoài phổi 06) .Tổng số bệnh nhân tâm thần mới phát hiện 06 người (tâm thần phân liệt: 02; động kinh: 04).

Số lũy tích nhiễm HIV/AIDS tính đến ngày 31/5/2016 là 364 người, trong đó bệnh nhân AIDS 226, tử vong 138. Tổng số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị thuốc ARV 92 người (người lớn: 86 và trẻ em: 06), điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone cho 66 bệnh nhân; 01 bệnh nhân bỏ trị.

- An toàn vệ sinh thực phẩm

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Có đến 31/5/2016 ghi nhận 03 vụ  ngộ độc thực phẩm, có 13 người mắc không có tử vong, nguyên nhân do độc tố nấm; tổng số ca mắc lẻ tẻ: 66 ca (nguyên nhân do ăn uống không bảo đảm vệ sinh), kiểm tra 2.306 cơ sở kinh doanh thực phẩm, xử phạt vi phạm hành chính 125 cơ sở do không đạt yêu cầu.

c) Giáo dục - đào tạo

- Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức thi tuyển học sinh lớp 10 trường Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Tất Thành từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 2016 và tuyển sinh lớp 10 trường trung học phổ thông Kon Tum từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 6 năm 2016.

- Công tác đào tạo nghề:

Tiếp tục đào tạo duy trì đào tạo cho 240 học viên, trong đó: Trường Trung cấp nghề đào tạo 208 học viên (169 DTTS); TTDN Măng Đen liên kết với Trường cao đẳng nghề công nghệ - Nông lâm Nam bộ tỉnh Bình Dương đào tạo cho 32 học viên (29 DTTS) nghề Trung cấp chăn nuôi - thú y.

Dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn: Tổ chức đào tạo nghề nông thôn cho 350 học viên. Trong đó: Đào tạo nghề nông nghiệp cho 280 học viên; nghề phi nông nghiệp 70 học viên.

Đối với người lao động sau học nghề đã áp dụng và phát triển nhiều mô hình kinh tế bền vững, có hiệu quả cao như: trồng cao su, cà phê, bời lời, chăn nuôi gia súc, gia cầm... Sau học nghề người lao động có cơ hội tự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, tự tạo việc làm tại chỗ thông qua canh tác, sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi phục vụ cho việc phát triển kinh tế hộ gia đình, tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau khi được đào tạo nghề chiếm trên 76%. Ngoài ra, thông qua công tác tư vấn giới thiệu việc làm người lao động được giới thiệu đến làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

d) Hoạt động văn hóa, thể thao

- Văn hóa

Trong 6 tháng đầu năm tỉnh Kon Tum đã tổ chức nhiều các hoạt động văn hóa văn nghệ chào mừng Kỷ niệm 86 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2016), chào mừng thành công Đại hội XII của Đảng và mừng xuân Bính Thân 2016 ...

Chương trình biểu diễn nghệ thuật với chủ đề “86 mùa xuân dâng Đảng” vào tối ngày 3/2 tại Quảng trường 16/3.

Tổ chức chương trình lễ hội bắn pháo hoa tại 4 điểm: 01 điểm tại quảng trường 16/3 thành phố Kon Tum, 01 điểm tại quảng trường huyện Đắk tô, 01 điểm tại trung tâm hành chính mới huyện Ngọc Hồi, 01 điểm tại thôn 2 thị trấn Sa Thầy huyện Sa Thầy.

Phát hành số Tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lịch đặc biệt chào mừng xuân Bính Thân 2016 và chào mừng thành công Đại hội XII của Đảng.

Kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ (08/3), 63 năm Ngày truyền thống ngành Điện ảnh Việt Nam (15/3/1953 - 15/3/2016); 41 năm ngày giải phóng tỉnh Kon Tum (16/3/1975 - 16/3/2016) và tuyên truyền cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021...

Tổ chức hoạt động trải nghiệm - khám phá di sản văn hóa các dân tộc tỉnh Kon Tum (trình diễn trò chơi dân gian, chế tác nhạc cụ, các nghề thủ công truyền thống… tại Bảo tàng tỉnh).

Trưng bày 15 tủ sách, với tổng số 510 sách, tài liệu tại Thư viện tỉnh; thực hiện các Đợt phim miễn phí phục vụ Nhân dân từ ngày 18/01/2016 đến ngày 05/02/2016 tại rạp chiếu bóng 16/3 và chiếu phim phục vụ các xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và các đồn biên phòng trên địa bàn tỉnh.

Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện, thành phố tổ chức nhiều chương trình nghệ thuật “Mừng Đảng, mừng xuân, mừng đất nước, quê hương đổi mới” như: tổ chức “ngày hội bánh chưng xanh vì người nghèo” tại huyện Sa Thầy; Tổ chức lễ Hội chợ Hoa Xuân tại thành phố Kon Tum; Tổ chức các trò chơi dân gian tại huyên Đắk Tô; Tổ chức chương trình hòa nhạc vào đêm Giao thừa và liên hoan văn nghệ các ban nhạc toàn huyện vào đêm mồng 3 Tết Nguyên đán Bình Thân 2016 tại huyện Sa Thầy; Tổ chức văn nghệ quần chúng với chủ đề: “Mừng Đảng, Mừng Xuân, Mừng đất nước đổi mới” tại huyện KonPlông và huyện Tu Mơ rông; Tổ chức đêm văn nghệ quần chúng và Liên hoan Cồng chiêng - múa xoang và diễn tấu nhạc cụ dân tộc lần thứ II/2016 tại huyện Kon Rẫy; Tổ chức Hội báo Xuân và các chương trình văn nghệ tại Lễ hội đón giao thừa và gặp mặt sinh viên xuân Bính Thân 2016 tại huyện Đắk Hà; Tổ chức các hoạt động: Hội báo Xuân, đêm văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân, giải thể thao huyện mở rộng đầu xuân Bính Thân tại huyện Ngọc Hồi; Triển khai các hoạt động trò chơi dân gian phối hợp với Đội tuyên truyền lưu động tỉnh tổ chức các chương trình văn nghệ phục vụ cán bộ, chiến sỹ và Nhân dân một số xã trên địa bàn huyện Đắkglei.

Tổ chức liên hoan nghệ thuật dân gian Tây Nguyên gắn với tuần Văn hóa - Du lịch lần thứ 3 năm 2016. Tham gia liên hoan gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Các tiết mục liên hoan bao gồm: Trình diễn nghệ thuật chỉnh chiêng, giao lưu trình diễn cồng chiêng và các trò chơi dân gian; liên hoan tạc tượng gỗ dân gian; lễ hội đường phố (Carnaval); liên hoan ẩm thực.

Kỷ niệm 41 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2016); ngày Quốc tế lao động 1/5. 

Tiến hành khảo sát văn hoá truyền thống dân tộc B’râu làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum; triển khai xây dựng Đề án bảo tồn và phát huy không gian văn hoá cồng chiêng tỉnh Kon Tum giai đoạn 2016 – 2020.

Đưa đoàn nghệ nhân tham gia các hoạt động chào mừng ngày văn hoá các dân tộc Việt Nam (19/4) tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội.

- Thể dục, thể thao

Ngày 04 và 05 tết Bính Thân 2016, tổ chức giải đua thuyền độc mộc truyền thống có 81 vận động viên, 40 thuyền của 08 địa phương trong tỉnh tham gia và giải cờ tướng, có 17 vận động viên tham gia và tổ chức bay máy bay mô hình do câu lạc bộ URW Đà Nẵng bay biểu diễn phục vụ Nhân dân trong buổi sáng khai mạc giải (04 tết) tại cầu Đắk La, thành phố Kon Tum.

Tổ chức ngày chạy Olympic, tọa đàm kỷ niệm và Hội thao toàn ngành Văn hóa, Thể thao và du lịch nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Ngành TDTT (27/3/1946 - 27/3/2016).

Từ ngày 08 đến ngày 10 tháng 6 năm 2016 tỉnh Kon Tum tổ chức giải bóng đá trẻ em nam, nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn lần thứ XVI với 7 đội tham gia (04 đội nam, 03 đội nữ) đến từ Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh, Cơ sở xã hội Vinh Sơn 1, Cơ sở xã hội Vinh Sơn 2 và Trại phong thôn Đắk Kia.

e) Tình hình an ninh trật tự - an toàn giao thông

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 5/2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 29 vụ (giảm 8 vụ so với tháng trước). Trong đó: Giết người 02 vụ, cướp tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản 17 vụ, cưỡng đoạt tài sản 01 vụ, cố ý gây thương tích 05 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ,  giao cấu với trẻ em 01 vụ, tàng trữ  trái phép vũ khí quân dụng 01 vụ. Hậu quả: Chết 02 người, bị thương 08 người. Thiệt hại:  Mất 05 xe mô tô, 05 ĐTDĐ, 01 laptop, 2.467.300.000 đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 225.000.000 đồng.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 04 vụ (giảm 01 vụ so với tháng trước). Hậu quả: Chết 03 người (giảm 02 người so với tháng trước), bị thương 06 người (tăng 01 người so với tháng trước), hư hỏng 07 xe ô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 1.541 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 508 phương tiện, 847 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 1.640 trường hợp, thu 862.387.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Tình hình ANTT – ATGT 5 tháng đầu năm 2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 169 vụ. Trong đó: Giết người 03 vụ, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ, cố ý gây thương tích 31 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 04 vụ, cố ý gây thương tích + cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản 63 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 02 vụ, cưỡng đoạt tài sản 01 vụ, tàng trữ mua bán trái phép chất ma túy 14 vụ, đánh bạc 16 vụ, gây rối trật tự công cộng 05 vụ, vận chuyển buôn bán hàng cấm 04 vụ, cướp giật tài sản 02 vụ, cướp tài sản 03 vụ, cưỡng đoạt tài sản 02 vụ,  trốn khỏi nơi giam giữ 01 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 02 vụ, hiếp dâm 05 vụ (trong đó hiếp dâm trẻ em 04 vụ), giao cấu với trẻ em 03 vụ, hủy hoại tài sản 05 vụ, tàng trữ  trái phép vũ khí quân dụng 01 vụ. Hậu quả: Chết 03 người, bị thương 34 người. Thiệt hại: mất 21 xe mô tô, 01 ti vi, 20 điện thoại di động, 02 bộ máy tính để bàn, 02 laptop, 2.836.250.000  đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 1.044.734.000 đồng. Thu giữ: 13 xe mô tô, 19 điện thoại di động, 01 mã tấu, 3,273 gam ma túy tổng hợp, 19 gói ma túy, 1,364 gam heroin, 10,45 kg pháo nổ, 1.540 gói thuốc lá, 09 quả pháo, 01 hộp pháo (loại 36 ống) và 75.400.000 đồng tiền mặt.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 31 vụ. Hậu quả: Chết 31 người, bị thương 23 người, hư hỏng 19 xe ô tô, 38 xe mô tô, 01 máy cày.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 7.155 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 2.321 phương tiện, 3.868 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 8.028 trường hợp, thu 4.177.110.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

f) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng xảy ra 02 vụ cháy: Trong đó cháy nhà dân 02 vụ. Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 130 triệu đồng, nguyên nhân do chập điện 02 vụ. Lũy kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 13 vụ cháy, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 1.850.000.000 đồng.

D. TIN TỨC- SỰ KIỆN

I. TIN TRONG TỈNH

1. Ngày 13-6, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật Quốc phòng. Đồng chí Lại Xuân Lâm - Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị.

Theo báo cáo tại Hội nghị, qua 10 năm triển khai thực hiện Luật Quốc phòng trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, như: Công tác quản lý nhà nước về quốc phòng được triển khai thực hiện đồng bộ, nghiêm túc; công tác quốc phòng, quân sự thực hiện nề nếp, đạt chất lượng, hiệu quả. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được củng cố; tiềm lực quốc phòng được tăng cường; khu vực phòng thủ tỉnh, huyện được xây dựng ngày càng vững chắc...

Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện, Luật Quốc phòng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, vướng mắc về đối tượng điều chỉnh, chính sách quốc phòng, nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức của lực lượng vũ trang; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng; mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức về nhiệm vụ quốc phòng; phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh; cơ chế, chính sách xây dựng khu vực phòng thủ; bảo đảm ngân sách, vật tư, tài sản cho quốc phòng; cơ chế hoạt động của Hội đồng quốc phòng - an ninh. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được ban hành với nhiều quy định mới về bảo vệ Tổ quốc, quyền công dân; việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hoà bình ở khu vực và trên thế giới cần được thể chế hoá trong hệ thống pháp luật về quốc phòng, quân sự cho phù hợp Hiến pháp và tình hình đất nước trong giai đoạn cách mạng mới...

Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể tỉnh mà nòng cốt là lực lượng vũ trang tỉnh. Để tiếp tục triển khai thực hiện tốt Luật Quốc phòng, đồng chí yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương triển khai thực hiện một số nội dung, như: Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác quốc phòng, quân sự trong tình hình mới; thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang, thực hiện theo hướng tinh, gọn, số lượng phù hợp, đảm bảo chất lượng và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao; thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương kết hợp chặt chẽ với yêu cầu nhiệm vụ củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh. Tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý, xây dựng khu vực phòng thủ; quản lý chặt chẽ đất quốc phòng, các công trình quốc phòng trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ biên giới; bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ, lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường; bảo đảm các chế độ, chính sách cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, chính sách hậu phương quân đội theo đúng quy định…

Nhân dịp này, Chủ tịch UBND tỉnh đã tặng Bằng khen cho 03 tập thể và 05 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Luật Quốc phòng trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

* Sáng 16-6, Ủy ban Bầu cử (UBBC) tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.

Dự buổi làm việc có các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo công tác bầu cử tỉnh, Chủ tịch UBBC tỉnh; Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, Phó Trưởng ban Chỉ đạo công tác bầu cử tỉnh; Đào Xuân Quí - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Trưởng ban Chỉ đạo công tác bầu cử tỉnh, Phó Chủ tịch UBBC tỉnh; các thành viên Ban Chỉ đạo công tác bầu cử tỉnh và UBBC tỉnh; tổ giúp việc BCĐ công tác bầu cử tỉnh; tổ giúp việc UBBC tỉnh và các huyện, thành phố. 

Theo báo cáo của UBBC tỉnh: Với sự lãnh đạo sâu sát, toàn diện của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự phối hợp của các ngành, các cấp, sự tham gia tích cực của cử tri và nhân dân trên địa bàn tỉnh, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn tỉnh đã thành công tốt đẹp, bảo đảm dân chủ, đúng luật, an toàn, tiết kiệm và ngày bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân, với tỷ lệ cử tri đi bầu cao (99,93%), bầu ra được những đại biểu thực sự xứng đáng đại diện cho ý chí và nguyện vọng của người dân tại Quốc hội và HĐND các cấp.

Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội: Số cử tri trong danh sách: 318.529 người; Số cử tri tham gia bỏ phiếu: 318.320 người, đạt tỉ lệ: 99,93%; Số đại biểu Quốc hội được ấn định: 06 người; Số người ứng cử đại biểu Quốc hội: 10 người; Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 06 đại biểu, trong đó: 02 đại biểu được Trung ương giới thiệu và 04 đại biểu được địa phương giới thiệu. Cơ cấu, thành phần những người trúng cử cụ thể như sau: phụ nữ: 01 người (16,7%); dân tộc thiểu số: 03 người (50%), trẻ tuổi: 01 người (16,7%); tái cử: 02 người (33,3%); về trình độ: sau Đại học: 01 người (16,7%), Đại học: 05 người (83,33%).

Kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh: Số cử tri trong danh sách: 318.529 người; Số cử tri tham gia bỏ phiếu: 318.320 người, đạt tỉ lệ: 99,93%; Số đại biểu HĐND tỉnh được ấn định: 50 người; Số người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh: 83 người; Số người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh: 50 người, cơ cấu, thành phần cụ thể như sau: phụ nữ: 19 người (38%); dân tộc thiểu số: 25 người (50%); trẻ tuổi: 08 người (16%); tái cử: 16 người (32%); tôn giáo: 03 người (6%); ngoài Đảng: 06 người (12%); về trình độ chuyên môn:  trên Đại học: 24%, Đại học: 68%, các trình độ còn lại 08%; về lý luận chính trị: Trung cấp: 4%, Cao cấp, cử nhân: 78%.

Kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện; Số cử tri trong danh sách: 318.027 người; Số cử tri tham gia bỏ phiếu: 317.793 người, đạt tỉ lệ: 99,93%; Tổng số đại biểu HĐND cấp huyện được ấn định: 315 người; Tổng số người ứng cử đại biểu HĐND cấp huyện: 529 người; Tổng số người trúng cử đại biểu HĐND cấp huyện: 315 người, cơ cấu, thành phần cụ thể như sau: phụ nữ: 101 người (32,1%); dân tộc thiểu số: 144 người (45,7%); trẻ tuổi: 66 người (21%); ngoài Đảng: 22 người (7%); tái cử: 94 người (29,8%); tôn giáo: 26 người (8,3%); về trình độ chuyên môn: trên Đại học: 7,09 %, Đại học: 69,95%, các trình độ còn lại: 22,96%; về lý luận chính trị: Trung cấp: 26,26%, Cao cấp, cử nhân: 46,59%.

Kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã: Số cử tri trong danh sách: 303.234 người. Số cử tri tham gia bỏ phiếu: 302.922 người, đạt tỉ lệ: 99,90%. Tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được ấn định 2.609 người. Tổng số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 4.354 người. Tổng số người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã: 2602 người; cơ cấu, thành phần cụ thể như sau: phụ nữ: 824 người (31,7%); dân tộc thiểu số: 1.467 người (56,2%); trẻ tuổi: 1.018 người (39,1%); ngoài Đảng: 674 người (25,9%); tái cử: 1078 người (41,4%); tôn giáo: 532 người (20,4%); về trình độ chuyên môn: trên Đại học: 0,22%, Đại học: 26,39%, các trình độ còn lại: 73,42%; về lý luận chính trị: Trung cấp: 35,71%, Cao cấp, cử nhân: 3,68%. Số đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã bầu thiếu: 07 đại biểu (trong đó: thành phố Kon Tum thiếu 03 đại biểu; huyện Sa Thầy thiếu 02 đại biểu, huyện Ngọc Hồi thiếu 02 đại biểu).

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Hùng biểu dương những nỗ lực của tất cả các ngành, các cấp đã chỉ đạo sâu sát, tập trung, kịp thời, dân chủ, đúng pháp luật, xem công bầu cử là ngày hội của toàn dân, góp phần lớn vào sự thành công của cuộc bầu cử trên địa bàn tỉnh. Đề nghị các sở, ngành, địa phương rút kinh nghiệm từ tình hình thực tiễn trong công tác tham mưu để hoàn thiện, lưu trữ hồ sơ đúng quy định.

Nhân dịp này, UBND tỉnh tặng bằng khen cho 16 tập thể và 70 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.

II. TIN TRONG NƯỚC

1. Ý nghĩa, kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 diễn ra sau khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng vừa kết thúc thắng lợi. Kết quả Cuộc bầu cử càng có ý nghĩa vì diễn ra trong bối cảnh: trong thời gian chuẩn bị tổ chức bầu cử, tình hình hạn hán nghiêm trọng ở các tỉnh nam Trung bộ, Tây Nguyên và hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, sự cố hải sản chết bất thường tại một số tỉnh ven biển miền Trung đã tác động tiêu cực đến tâm trạng và tình hình tư tưởng, đời sống nhân dân vùng này. Bên cạnh đó, tình hình tội phạm, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, cháy nổ và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm có nhiều diễn biến phức tạp; tình hình biển Đông phức tạp, khó lường. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch trong và ngoài nước ngày càng ráo riết và tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, phá hoại gây nhiều khó khăn cho công tác tổ chức bầu cử.

Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo của các cấp ủy, các tổ chức đảng theo tinh thần Chỉ thị 51, ngày 04/01/2016 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021; sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 diễn ra ngày 22/5/2016 đã thành công tốt đẹp, bảo đảm dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật và thực sự là ngày hội của toàn dân tộc. Thành công đó được thể hiện ở một số mặt sau đây:

Thứ nhất, cuộc bầu cử là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân từ giai đoạn chuẩn bị cho đến ngày diễn ra cuộc bầu cử. Tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao (67.049.200 cử tri, đạt 99,35%), đại đa số thể hiện được ý thức chính trị, quyền lợi, trách nhiệm công dân trong việc đi bầu, lựa chọn những người xứng đáng đại diện cho mình tham gia chính quyền các cấp.

Thứ hai, cuộc bầu cử đã phát huy được tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch trong từng khâu, từng bước từ khi chuẩn bị đến khi kết thúc.

Thứ ba, công tác chỉ đạo, hướng dẫn bầu cử có nhiều đổi mới, bảo đảm tiến độ, đúng quy định pháp luật. Đặc biệt việc thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia giúp cho công tác chỉ đạo, ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời, chi tiết, cụ thể hơn, tạo điều kiện cho các địa phương thuận lợi trong tổ chức triển khai thực hiện.

Thứ tư, cuộc bầu cử diễn ra trong tình hình an ninh ổn định, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, không có các tình huống bất thường xảy ra.

Thứ năm, kết quả bầu cử cơ bản bảo đảm mục tiêu kế hoạch đề ra, bảo đảm thành phần, cơ cấu đại biểu phù hợp với dự kiến, tỷ lệ đại biểu là phụ nữ, người dân tộc thiểu số, trẻ tuổi, trình độ trên đại học cao hơn so với nhiệm kỳ trước, cơ bản phản ánh được tính đại diện rộng rãi cho các tầng lớp Nhân dân.

Thành công của cuộc bầu cử có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Thắng lợi của cuộc bầu cử là tiền đề để xây dựng, củng cố và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện các quy định của Hiến pháp 2013 trong thời kỳ mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Cuộc bầu cử vừa qua vẫn còn những nhược điểm, hạn chế cần được khắc phục:

Thứ nhất, cơ cấu đại biểu chưa đạt được như dự kiến ban đầu, nhất là tỷ lệ nữ, tỷ lệ người ngoài đảng.

Thứ hai, vẫn có trường hợp để xảy ra sai sót trong in ấn phiếu bầu dẫn đến việc phải hủy bỏ kết quả bầu cử và phải tiến hành bầu cử lại; Nhiều nơi bầu chưa đủ số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân, nhất là đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã; có nơi phải tiến hành bầu cử lần hai.

Thứ ba, trong công tác hiệp thương, giới thiệu, lựa chọn ứng cử viên, việc tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri để vận động bầu cử vẫn còn khiếm khuyết và chưa thống nhất tạo ra dư luận không tốt.

Thứ tư, một số văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của các cơ quan trung ương chậm được ban hành, một số biểu mẫu thống kê không điều chỉnh, bổ sung kịp thời; công tác tuyên truyền về quyền lợi và nghĩa vụ của cử tri, vận động cử tri tham gia bỏ phiếu bầu cử ở một số địa phương còn lúng túng.

Một số kết quả cụ thể:

(1) Đại biểu Quốc hội: Tổng số người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV là 870 người. Tổng số đại biểu trúng cử là 496. Cơ cấu kết hợp: Dân tộc thiểu số: 86 người (tỷ lệ 17,30%); thiếu 4 người so với dự kiến; Phụ nữ: 133 người (tỷ lệ 26,80%), thiếu 17 người so với số dự kiến; Độ tuổi: Trẻ tuổi (dưới 40 tuổi): 71 người (tỷ lệ 14,30%), cao hơn 21 người so với dự kiến; tăng 1,9% so với khóa XIII; Trình độ: Trên đại học: 310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6 người (tỷ lệ 1,20%).

(2) Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp: Cấp tỉnh: 3908 người, thiếu 8 đại biểu; Cấp huyện: 25.179 người, thiếu 120 đại biểu; Cấp xã: 291.273 người, thiếu 6.626 đại biểu.

2. Một số bài học kinh nghiệm qua 5 năm thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đạt kết quả bước đầu, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; bên cạnh đó, cũng đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm, đề nghị cấp ủy các cấp quán triệt, vận dụng trong quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, đó là:

Thứ nhất, ý thức trách nhiệm, tinh thần gương mẫu đi đầu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, có tác dụng quyết định trong triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị.

Thứ hai, về phương thức tổ chức thực hiện, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, gắn với nhiệm vụ then chốt là công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Trong tổ chức thực hiện, cấp ủy và lãnh đạo các cấp cần xác định nội dung, chủ đề trọng tâm, trọng điểm cho từng năm, từng giai đoạn, góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng, gây bức xúc trong đời sống xã hội để từ đó tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.  

Thứ ba, để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên, thành ý thức tự giác thì các tổ chức đảng, cơ quan, địa phương, đơn vị phải tìm ra được những cách làm thiết thực, hiệu quả, phù hợp; gắn việc thực hiện Chỉ thị với việc thực hiện Quy định những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, với các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào xã hội khác.

Thứ tư, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần kết hợp xây đi đôi với chống; kết hợp cổ vũ, động viên người tốt, việc tốt, tổ chức học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác với giữ gìn kỷ luật, kỷ cương; kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước. Để làm việc đó, cần phát huy dân chủ, công khai, minh bạch, gắn tổ chức học tập với công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và cơ chế nhân dân tham gia góp ý, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức về đạo đức, lối sống... ; cần có phương pháp, hình thức phù hợp để kịp thời biểu dương người tích cực học tập và làm theo tấm gương, đạo đức của Bác. Đồng thời có biện pháp mạnh để phê phán người không tự giác thực hiện, có chế tài cụ thể để kỷ luật nghiêm người sai phạm.

So với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” có các điểm mới như sau:

(1) Nội dung Chỉ thị 05-CT/TW đã nhấn mạnh hơn nữa về tầm quan trọng, vị trí, vai trò của việc học tập và làm theo Bác đối với công tác xây dựng Đảng một cách toàn diện, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; (2) Bộ Chính trị yêu cầu phải làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hoá, con người Việt Nam; (3) Nhấn mạnh vai trò của “người đứng đầu”. Trong công tác tổ chức thực hiện Chỉ thị, Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho cấp uỷ các cấp, trực tiếp là ban thường vụ cấp uỷ, đồng chí bí thư cấp uỷ chỉ đạo. Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư chỉ đạo việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng và xã hội; (4) Gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; (5) Gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương số 29-NQ/TW về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”; (6) Gắn “xây” với “chống”; tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, gắn với đánh giá, nhận xét cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hằng năm và cả nhiệm kỳ; (7) Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị; (8) Chỉ thị 05-CT/TW không giới hạn thời gian thực hiện như trong Chỉ thị 06-CT/TW và Chỉ thị 03-CT/TW. Lần này, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 05 rộng hơn về nội hàm, cao hơn về yêu cầu và lâu dài hơn về thời gian.

3. Một số kết quả quan trọng về công tác phát hiện, xử lý tội phạm tham nhũng kinh tế thời gian qua

Thời gian qua, công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng kinh tế có những chuyển biến tích cực. Số vụ việc, đối tượng liên quan đến tham nhũng kinh tế được phát hiện qua công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo tăng so với các năm trước. Nhiều vụ án tham nhũng về kinh tế nghiêm trọng, phức tạp mà toàn xã hội quan tâm đã được tháo gỡ, tiến độ điều tra, truy tố được đẩy nhanh. Các vụ án trọng điểm được xét xử nghiêm minh có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa, tạo sự đồng tình của xã hội.

Năm 2015 cơ quan thanh tra phát hiện 100 vụ, 172 đối tượng tham nhũng; bình quân mỗi năm giai đoạn 2011 - 2015 phát hiện 70 vụ, 104 người. Công tác thu hồi tài sản tham nhũng đạt 55,8% (năm 2014 chỉ đạt 22,3%, năm 2013 đạt 10%, năm 2011-2012 đạt dưới 5%). Cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố 191 vụ/444 bị can; Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 295 vụ/704 bị can; Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 253 vụ/531 bị cáo. Riêng Quý I/2016, Cơ quan điều tra các cấp trong ngành Công an đã khởi tố mới 39 vụ, 70 bị can về hành vi tham nhũng.

Phải thấy rằng, công tác phát hiện, xử lý tội phạm tham nhũng về kinh tế hiện nay tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần được các cấp, ngành, các cơ quan chức năng nghiên cứu tập trung giải quyết, đó là:

Thứ nhất, tội phạm tham nhũng kinh tế có yếu tố nước ngoài vẫn tiếp tục diễn ra phổ biến và có xu thế lan rộng, điển hình như các vụ án Trần Quốc Đông và đồng phạm xảy ra tại Ban quản lý các dự án đường sắt; vụ án Phạm Thị Bích Lương và đồng phạm xảy ra tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Nam Hà Nội;...

Thứ hai, “lợi ích nhóm” trong lĩnh vực kinh tế là nhân tố làm gia tăng tội phạm tham nhũng về kinh tế; tính chất có tổ chức của tội phạm tham nhũng về kinh tế ngày càng rõ nét, biểu hiện theo nhiều cấp độ: từ xây dựng chính sách, cơ chế, đến chương trình, dự án. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý lập các doanh nghiệp “sân sau”, liên kết, móc nối giữa người trong cơ quan nhà nước với các đối tượng ngoài xã hội, lợi dụng cơ chế “xin - cho”, những hạn chế, sơ hở của pháp luật để chạy cơ chế, chính sách, chạy dự án… nhằm trục lợi.

Thứ ba, các biểu hiện, nguy cơ tham nhũng về kinh tế trong các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục diễn biến phức tạp. Nổi cộm là các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện, xử lý tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước: Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam...

Thứ tư, một số hạn chế, vướng mắc về cơ chế, chính sách, pháp luật trong phát hiện, xử lý tội phạm tham nhũng về kinh tế chưa có chế tài cụ thể, chưa đủ mạnh; thiếu chế tài đối với Cơ quan điều tra khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố về tham nhũng.

Thứ năm, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu chưa quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc phát hiện, xử lý tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; chưa huy động được sự tham gia tích cực, mạnh mẽ của các cơ quan thông tin đại chúng và của người dân vào công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng.

4. Một số vấn đề cần quan tâm khi đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Trong thời gian qua, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã đạt được những kết quả nhất định, số lượng lao động tăng dần hàng năm, chất lượng được cải thiện và ngày càng nâng cao. Trong giai đoạn 2010 - 2015, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt xấp xỉ 450 nghìn người; hiện có 258 doanh nghiệp có giấy phép hoạt động làm dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam cũng không ngừng được củng cố và phát triển. Đáng chú ý là:

Thị trường Đài Loan: Lao động Việt Nam có khoảng trên 160 nghìn người (là nước cung ứng lớn thứ 2 vào Đài Loan); hiện có 124 doanh nghiệp được cấp phép đưa lao động Việt Nam sang Đài Loan làm việc. Lĩnh vực chủ yếu mà lao động người Việt Nam làm việc là sản xuất chế tạo chiếm 85%, phục vụ xã hội và cá nhân (hộ lý, y tá, chăm sóc người bệnh và giúp việc gia đình) chiếm 13%, còn lại là làm việc trong lĩnh vực xây dựng và lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 1,2%. Thu nhập trung bình của người lao động Việt Nam tại Đài Loan từ 11 - 15 triệu đồng/tháng.

Thị trường Hàn Quốc: Là thị trường trọng điểm tiếp nhận lao động của Việt Nam. Hiện có gần 55 nghìn lao động Việt Nam đang làm việc việc tại Hàn Quốc (khoảng 5 nghìn thuyền viên tàu cá gần bờ, 5 nghìn thuyền viên tàu cá xa bờ và 45 nghìn lao động đi làm việc theo chương trình cấp phép việc làm). Thu nhập bình quân người lao động Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc khoảng từ 22 - 33 triệu đồng/tháng.

Thị trường Nhật Bản: Việt Nam là nước có số lượng thực tập sinh được tiếp nhận nhập cảnh vào Nhật Bản lớn thứ 2 (sau Trung Quốc); hiện có khoảng trên 40 nghìn thực tập sinh Việt Nam đang thực tập nâng cao tay nghề tại Nhật Bản, thu nhập trung bình của mỗi thực tập sinh tại Nhật Bản từ 16 - 22 triệu đồng/tháng.

Thị trường Ả-rập Xê-út: Hiện có 50 doanh nghiệp Việt Nam đưa lao động sang làm việc tại thị trường này với số lượng gần 18 nghìn người, trong đó có 33 doanh nghiệp cung ứng lao động giúp việc gia đình. Lao động Việt Nam làm việc chủ yếu trong các ngành nghề xây dựng, nhà máy, cơ khí, vận tải và giúp việc gia đình, trong đó giúp việc gia đình hiện có 5 nghìn người. Thu nhập bình quân của người lao động tại thị trường này tương đối ổn định (từ 8 - 12 triệu đồng/tháng), đối với lao động giúp việc gia đình mức lương tối thiểu là 7 triệu đồng/tháng.

Thị trường Ma-lai-xi-a: Gần đây, số lượng lao động Việt Nam sang Ma-lai-xi-a làm việc giảm dần (năm 2013 có 7.500, năm 2014 là 5.100). Riêng năm 2015, số lao động tăng lên là 7.300 người. Có khoảng 140 doanh nghiệp đăng ký hoạt động dịch vụ đưa lao động sang làm việc tại Ma-lai-xi-a. Thu nhập của người lao động tại Ma-lai-xi-a đạt từ 5,5 - 7 triệu đồng/tháng.

Trong thời gian tới, thị trường lao động nhiều nước tiếp tục tiếp nhận người lao động Việt Nam sang làm việc: Hàn Quốc tiếp tục ký kết với Việt Nam về việc tiếp nhận người lao động sang làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình việc làm EPS (dành cho lao động phổ thông); Nhật Bản tiếp tục tiếp nhận điều dưỡng viên, hộ lý sang học tập và làm việc; Đài Loan tiếp nhận lao động tuổi từ 23 đến không quá 50 tuổi…

Để hoạt động đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc đạt hiệu quả cao, các cơ quan chức năng khuyến cáo người lao động có nhu cầu ra nước ngoài làm việc cần được trang bị đầy đủ các điều kiện cần thiết như trình độ về ngoại ngữ, trình độ tay nghề phù hợp với yêu cầu của nước tiếp nhận lao động…; cảnh giác trước những chiêu bài quảng cáo, “cò mồi” của một số tổ chức và cá nhân không có giấy phép đưa lao động ra nước ngoài làm việc. Cần liên hệ với các cơ quan có trách nhiệm, như Sở Lao động -Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố hoặc Cục Quản lý lao động ngoài nước (thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) để có thông tin chính thống về chỉ tiêu, điều kiện để người lao động Việt Nam được ra nước ngoài làm việc.

III. TIN THẾ GIỚI

1. Về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Ba-rắc Ô-ba-ma

Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Ba-rắc Ô-ba-ma cùng đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Hoa Kỳ đã thăm chính thức Việt Nam từ ngày 23 - 25/5/2016. Đây là chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma và là chuyến thăm Việt Nam lần thứ ba của một Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ kể từ ngày hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao (tháng 7/1995).

Mục đích chung của chuyến thăm:

Hai bên chia sẻ 3 mục đích chung: (1) Củng cố vững chắc hơn nền tảng và đà quan hệ hợp tác theo định hướng đã được khẳng định trong Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt Nam - Hoa Kỳ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Ô-ba-ma (tháng 7/2015) và Tuyên bố chung xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Ô-ba-ma (tháng 7/2013). (2) Tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực trọng tâm thuộc ưu tiên của hai bên, như hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo; khắc phục hậu quả chiến tranh; quốc phòng - an ninh. (3) Thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề khu vực và toàn cầu, đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới.

Bên cạnh những mục đích chung, mỗi bên cũng đề ra những mục đích riêng cần đạt được qua chuyến thăm:

Phía Hoa Kỳ mong muốn 3 điểm: (1) Chuyến thăm sẽ là một sự kiện lịch sử và dấu mốc trong quan hệ hai nước, ghi dấu ấn cá nhân của Tổng thống Ô-ba-ma trong nhiệm kỳ của mình và tăng thành tích đối ngoại của Đảng Dân chủ để phục vụ tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2016; (2) Thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực phía Hoa Kỳ quan tâm; đồng thời vận động Việt Nam tiếp tục thực hiện cải cách về luật pháp và dân chủ - nhân quyền; (3) Tranh thủ hơn nữa vai trò và vị thế đang ngày càng tăng của Việt Nam ở khu vực và trên thế giới.

Về phía Việt Nam, chúng ta cũng đề ra 3 mục tiêu: (1) Khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế toàn diện của Đại hội Đảng lần thứ XII, đưa quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục phát triển; (2) Hoa Kỳ thực hiện cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của Việt Nam; (3) Đối thoại thực chất, thẳng thắn, xây dựng về những vấn đề còn bất đồng.

Sáu lĩnh vực nổi bật mà hai bên đã đạt được qua chuyến thăm: (1) Về chính trị - ngoại giao, hai nước đã ra Tuyên bố chung nhất trí tăng cường quan hệ Đối tác toàn diện theo hướng thực chất, hiệu quả, bền vững; (2) Về kinh tế, hai bên nhất trí lấy hợp tác phát triển làm trọng tâm của quan hệ trong thời gian tới, tập trung nhiều hơn vào thúc đẩy hợp tác về lĩnh vực thương mại - đầu tư, khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, chống biến đổi khí hậu...; (3) Về quốc phòng - an ninh, Tổng thống Ô-ba-ma tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam, thể hiện bình thường hóa hoàn toàn quan hệ; cam kết sẽ hợp tác với Việt Nam về rà phá bom mìn và vấn đề xử lý chất độc dioxin tại sân bay Biên Hòa và sân bay Đà Nẵng; (4) Về giáo dục - đào tạo, Việt Nam đã cấp phép để thành lập Đại học Fulbright Việt Nam do phía Hoa Kỳ tài trợ. Hai bên ký Thỏa thuận khung về việc Việt Nam cho phép các tình nguyện viên Hoa Kỳ vào dạy tiếng Anh ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ Chương trình Hòa bình; (5) Về khoa học - công nghệ và y tế, hai bên đã ký kết Thỏa thuận thực thi trong khuôn khổ Hiệp định về sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân (Hiệp định 123) và một số thỏa thuận về các dự án dầu khí, điện mặt trời và điện gió; (6) Về hợp tác khu vực và toàn cầu, hai bên nhất trí tăng cường phối hợp trong ứng phó với các thách thức chung. Về vấn đề Biển Đông, hai bên tái khẳng định lập trường đã nêu trong tuyên bố Sunnylands của Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Hoa Kỳ tháng 2/2016; ra Công bố chung về Đối tác Việt Nam - Hoa Kỳ trong lĩnh vực chống buôn bán động vật hoang dã và biến đổi khí hậu.

Bên cạnh các kết quả đạt được qua chuyến thăm, hai bên vẫn còn tồn tại một số vấn đề khác biệt: (1) Hoa Kỳ vẫn chưa công nhận quy chế kinh tế thị trường (MES) của Việt Nam; (2) Mặc dù Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua lưỡng viện Nghị quyết số 28 về bãi bỏ Chương trình giám sát cá da trơn của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, song Nghị quyết này vẫn chưa được Hạ viện thông qua để Tổng thống có thể ký thành luật; (3) Hai bên còn có quan điểm khác nhau về vấn đề dân chủ - nhân quyền.

Ý nghĩa chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Ba-rắc Ô-ba-ma: (1) Chuyến thăm đã góp phần “bình thường hóa” hoàn toàn quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ theo đúng nghĩa của nó; (2) Chuyến thăm thể hiện sự đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam và góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; (3) Chuyến thăm thể hiện rõ sự coi trọng của lãnh đạo hai nước đối với việc củng cố và tăng cường quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ.

Những cơ sở quan trọng để thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thời gian tới: Việt Nam và Hoa Kỳ có 3 điểm tương đồng cơ bản: (1) Duy trì khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, hợp tác, thịnh vượng, tôn trọng luật pháp quốc tế và các thỏa thuận khu vực; đảm bảo tự do, an ninh và an toàn hàng hải, hàng không; (2) Cùng với các đối tác quan trọng như Trung Quốc, Nga, Nhật, Ấn Độ, EU, Hàn Quốc, Úc, Niu Zilân, Canada…, đóng góp tích cực vào việc xây dựng và củng cố các cấu trúc khu vực về chính trị - an ninh, kinh tế…, với ASEAN đóng vai trò trung tâm; (3) Duy trì xu thế đa cực hóa và dân chủ hóa quan hệ quốc tế ở khu vực.

2. Quan hệ Việt Nam với các nước

- Chủ tịch nước Trần Đại Quang thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Cam-pu-chia từ ngày 12 đến 16/6/2016. Đây là chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của đồng chí Trần Đại Quang trên cương vị Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đến Lào và Cam-pu-chia.

Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao, triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương; thực hiện tốt các thỏa thuận trong Tuyên bố chung nhân chuyến thăm Việt Nam vừa qua của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Bun-nhăng Vo-la-chít; tăng cường các biện pháp nhằm thực hiện hiệu quả, nghiêm túc các thỏa thuận cấp cao giữa hai nước và kết quả Kỳ họp lần thứ 38 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam-Lào, phấn đấu hoàn thành thắng lợi Hiệp định hợp tác song phương giữa Chính phủ hai nước giai đoạn 2016-2020; phối hợp với Quốc hội Việt Nam tăng cường giám sát việc triển khai các thỏa thuận và hiệp định giữa hai nước; cũng như sẽ xem xét rà soát các văn bản pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho cộng đồng người Việt tại Lào trong lao động, kinh doanh, học tập và ổn định cuộc sống tại Lào, góp phần phát triển kinh tế xã hội của Lào.

Tại Vương quốc Cam-pu-chia, hai bên trao đổi các biện pháp tăng cường hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực: chính trị, an ninh, kinh tế, thương mại...; nhất trí khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, địa phương hai nước tăng cường giao lưu và hợp tác; phối hợp và ủng hộ nhau trên các diễn đàn khu vực và quốc tế.

Phía Lào và Cam-pu-chia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn ở Biển Đông; nhất trí cùng các nước ASEAN thúc đẩy giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; cùng các bên thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); tăng cường phối hợp chặt chẽ với nhau và với các nước, các tổ chức quốc tế trong quản lý, sử dụng bền vững và có hiệu quả nguồn nước sông Mê Công.

- Đoàn Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam tham dự Đại hội lần thứ 37 của Đảng Cộng sản Pháp diễn ra từ ngày 02 đến 05/6 tại thủ đô Pari (Pháp). Hai bên trao đổi về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước, quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và một số vấn đề quốc tế cùng quan tâm. Hai bên thống nhất đánh giá quan hệ truyền thống hữu nghị giữa hai Đảng là mối quan hệ đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh gây dựng và được nhiều thế hệ lãnh đạo hai Đảng không ngừng vun đắp; nhất trí cho rằng, quan hệ hai Đảng đã thực sự phát triển trên nhiều mặt, đi vào chiều sâu, góp phần củng cố quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Pháp. Đảng Cộng sản Pháp khẳng định quan điểm ủng hộ tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông, giải quyết các tranh chấp thông qua biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, tuân thủ luật pháp quốc tế trong đó có UNCLOS 1982; ủng hộ lập trường, quan điểm, giải pháp giải quyết vấn đề Biển Đông của Đảng Cộng sản Việt Nam.

3. Một số tình hình thế giới đáng chú ý thời gian gần đây

- Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 10 (ADMM 10) tổ chức ngày 25/5/2016 tại Viêng Chăn (Lào), với chủ đề “Tăng cường hợp tác quốc phòng vì một cộng đồng ASEAN năng động”. Hội nghị tập trung thảo luận về tình hình an ninh khu vực, quốc tế và thông qua một số tài liệu hợp tác trong khuôn khổ ADMM. Hội nghị ra Tuyên bố chung: tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hoà bình, ổn định tự do hàng hải, hàng không tại Biển Đông theo các nguyên tắc đã được luật pháp quốc tế công nhận; bày tỏ quan ngại về tần suất, quy mô và sự phức tạp của các mối đe dọa phi truyền thống; kiên trì theo đuổi các cam kết về mục đích và nguyên tắc của Hiến chương ASEAN. 

Tham dự Hội nghị, đoàn Việt Nam khẳng định lập trường kiên trì chủ trương giải quyết các vấn đề trên biển bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng các tiến trình ngoại giao, pháp lý trên cơ sở luật pháp quốc tế; ủng hộ và cam kết đóng góp tích cực vào nỗ lực hợp tác của cộng đồng quốc tế nhằm ngăn ngừa hoạt động khủng bố, hỗ trợ khủng bố dưới mọi hình thức; cam kết thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ các thỏa thuận, cam kết đã đạt được trong tiến trình ADMM, ADMM+ (Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng).

- Diễn đàn An ninh khu vực châu Á- Thái Bình Dương (còn gọi là Đối thoại Shangri-La thường niên) lần thứ 15, diễn ra từ ngày 03 đến 05/6/2016 tại Xinh-ga-po. Tham dự Diễn đàn có khoảng 600 đại biểu, gồm Bộ trưởng Quốc phòng, học giả, chuyên gia quân sự đến từ 25 nước. Đối thoại lần này tập trung thảo luận về những thách thức an ninh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay như: xung đột chủ quyền biển đảo, chủ nghĩa khủng bố, vấn đề hạt nhân của Triều Tiên và một số nguy cơ an ninh phi truyền thống khác. Chủ đề được các đại biểu quan tâm nhiều nhất là vấn đề Biển Đông. Nhiều đại biểu đến từ các nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan… cho rằng, những căng thẳng trên Biển Đông chủ yếu đến từ những hoạt động đơn phương làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông; điều cấp thiết là cần phải đảm bảo tự do an toàn, an ninh hàng hải và hàng không, tầng dưới mặt nước cũng như môi trường biển; trước mắt, cần ưu tiên tìm kiếm những công cụ quản lý xung đột, căng thẳng hoặc leo thang quân sự, tăng cường hợp tác để phòng ngừa.

Về phía Trung Quốc, họ vẫn ngang nhiên tuyên bố rằng “không sợ rắc rối” ở Biển Đông và cảnh báo bất cứ quốc gia nào “xâm phạm chủ quyền” ở vùng biển này. Trung Quốc bác bỏ việc Trung Quốc bị cô lập, cho rằng nhiều nước châu Á trong hội nghị có thái độ “nồng ấm hơn”, “hữu nghị hơn” với Trung quốc so với một năm trước đây. Về phán quyết sắp tới của Tòa Trọng tài quốc tế đối với vụ kiện của Philippines, Trung quốc nhắc lại không công nhận thẩm quyền của tòa…

Đoàn Việt Nam tham dự Đối thoại Shangri La đánh giá tình hình an ninh khu vực hiện nay vẫn tiềm ẩn những nhân tố phức tạp, dù chưa đến mức bùng phát xung đột, nhưng cần được dự báo, ngăn chặn và hóa giải kịp thời. Về vấn đề Biển Đông, Việt Nam cho rằng, hiện nay Việt Nam và một số nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền còn tồn tại những tranh chấp và khác biệt với Trung Quốc; điều này làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn trên không, trên biển và dưới đáy biển, hủy hoại môi trường, cản trở các hoạt động lao động hòa bình trên biển…kéo theo sự can dự của các quốc gia trong và ngoài khu vực; vì vậy cần giải quyết kịp thời để tránh chạy đua vũ trang, đối đầu chiến lược.

4. Hội nghị cấp cao mở rộng Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G7)

Hội nghị cấp cao mở rộng Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G7) tổ chức ngày 26 và 27/5/2016 tại I-xê Si-ma, tỉnh Mi-ê (Nhật Bản). Một số vấn đề nổi cộm mà hội nghị quan tâm đó là:

Về Biển Đông, các đại biểu bày tỏ quan ngại về tình hình căng thẳng gia tăng trên các vùng biển ở châu Á và cho rằng, những tuyên bố chủ quyền được đưa ra phải căn cứ vào luật pháp quốc tế và các nước cần kiềm chế “các hành động đơn phương có nguy cơ làm gia tăng căng thẳng”, đồng thời “tránh sử dụng vũ lực hoặc cưỡng ép nhằm tìm cách đạt được những tuyến bố về chủ quyền”; về việc CHDCND Triều Tiên thử hạt nhân và tiến hành các vụ phóng sử dụng công nghệ tên lửa đạn đạo, các nhà lãnh đạo G7 đã lên án và yêu cầu Triều Tiên không tiến hành thêm những hành động khiêu khích hoặc gây bất ổn, đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế thực thi đầy đủ các lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc đối với CHDCND Triều Tiên; về cuộc khủng hoảng ở U-crai-na, các nhà lãnh đạo G7 chỉ trích việc Nga sáp nhập bán đảo Crưm, tái khẳng định duy trì chính sách trừng phạt chống Nga, đồng thời hối thúc tất cả các bên thực thi các cam kết liên quan theo thỏa thuận ngừng bắn ở miền Đông U-crai-na.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tham dự Hội nghị và phát biểu với chủ đề “Ổn định và thịnh vượng ở châu Á”. Thủ tướng đánh giá cao các sáng kiến của các nước G7 và các tổ chức quốc tế; chia sẻ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam, nhất là tác động của hạn hán, xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long; kêu gọi các nước đối tác phát triển tiếp tục quan tâm, đẩy mạnh hỗ trợ Việt Nam và các nước Mê Công tăng cường quản lý, bảo vệ nguồn nước và ứng phó biến đổi khí hậu. Về vấn đề Biển Đông, Thủ tướng chia sẻ những quan ngại của các nước G7 và các nước ASEAN về các thách thức đối với hòa bình, ổn định, tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông; kêu gọi các quốc gia liên quan kiềm chế, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, tăng cường các biện pháp xây dựng lòng tin và ngoại giao phòng ngừa, sớm tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Trong thời gian diễn ra Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có chuyến thăm chính thức Nhật Bản. Hai bên đã ký kết 5 văn kiện, trong đó có 4 văn kiện về vốn vay ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam với tổng số tiền 166 tỷ Yên (tương đương 1,5 tỷ USD) và Hợp đồng mua bán cổ phần giữa Tổng Công ty Hàng không Việt Nam và Tập đoàn Hàng không ANA Holdings Inc của Nhật Bản. Nhật Bản cam kết hỗ trợ Việt Nam khoản viện trợ khẩn cấp không hoàn lại 300 triệu Yên (khoảng 2,5 triệu USD) để ứng phó tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn cũng như quản lý và sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công.

________

 


[1] Ngày sinh Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (09/7/1912 – 09/7/2016); Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Lào (18/7/1977 – 18/7/2016); Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7); Ngày Việt Nam gia nhập ASEAN (28/7/1995-28/7/2016)...

([2]) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Kon Tum 6 tháng năm 2016 theo giá so sánh 2010 là số liệu ước tính chưa được Tổng cục Thống kê thẩm định theo Quyết định 715/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

Số 1024 - CV/BTGTU

V/v đăng ký tham gia tập huấn về phương pháp nghiên cứu và biên soạn Lịch sử.

Lượt xem:4942 | lượt tải:0

Số 1025 - CV/BTGTU

V/v tuyên truyền APEC Việt Nam năm 2017

Lượt xem:135 | lượt tải:0

Công văn số 1017-CV/BTGTU

về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền "Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào 2017"

Lượt xem:480 | lượt tải:0

Hướng dẫn số 30-HD/BTGTU

tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga

Lượt xem:326 | lượt tải:0

Công văn số 996-CV/BTGTU

V/v hưởng ứng Cuộc thi "Sáng kiến vì Cộng đồng" lần thứ II

Lượt xem:134 | lượt tải:82

Công văn số 994-CV/BTGTU

sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình 76 của Tỉnh ủy

Lượt xem:145 | lượt tải:135

Hướng dẫn số 38-HD/BTGTW

Đề cương và hướng dẫn tuyên truyền, tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga

Lượt xem:260 | lượt tải:0
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập39
  • Hôm nay3,536
  • Tháng hiện tại104,482
  • Tổng lượt truy cập209,626
 ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
      Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
      Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
      Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum. Điện thoại: 0260.3862301. Email: phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây