Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 4-2017 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 4-2017

Thứ hai - 27/03/2017 02:51

A. VĂN BẢN MỚI

I. VĂN BẢN CỦA TỈNH

1. Ngày 03-3-2017, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 18 – HD/BTGTU về hướng dẫn tuyên truyền  về công tác biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Lào, Việt Nam-Campuchia năm 2017. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu

1. Mục đích

- Tăng cường nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, các địa phương, các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân khu vực biên giới về ý nghĩa, sự cần thiết của công tác phân giới, cắm mốc, việc xây dựng và quản lý, gìn giữ bảo đảm an ninh biên giới; về chủ trương xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển của Việt Nam.

- Phát huy tính chủ động, tích cực của hệ thống chính trị, các lực lượng trong công tác phối hợp tuyên truyền về phân giới, cắm mốc và quản lý biên giới trên đất liền các tuyến Việt Nam- Trung Quốc, Việt Nam- Lào, Việt Nam- Campuchia.

2. Yêu cầu

- Bảo đảm sự chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của toàn hệ thống chính trị cũng như của lực lượng tuyên truyền; nội dung thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, bảo đảm thế chủ động thông tin trong tuyên truyền; hình thức và biện pháp phong phú, đa dạng, quan tâm đến các yếu tố đặc thù như địa bàn, ngôn ngữ… để chuyển tải được các nội dung của công tác biên giới tới các đối tượng khác nhau.

- Tạo sự thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên và toàn xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác biên giới trên đất liền, nhất là nhiệm vụ vừa “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”, vừa “Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.

II. Nội dung, hình thức tuyên truyền

1. Nội dung

1.1. Đối với tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc

- Tiếp tục tuyên truyền về kết quả, ý nghĩa lịch sử của việc hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc biên giới giữa hai nước và giá trị của việc xây dựng, quản lý đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển; các văn bản pháp luật liên quan đến công tác biên giới, lãnh thổ, các hiệp định, hiệp ước hai bên đã ký kết về công tác biên giới và yêu cầu, nhiệm vụ của công tác quản lý biên giới trong giai đoạn hiện nay. Tuyên truyền triển khai thực hiện 03 văn kiện quản lý biên giới đất liền Việt Nam- Trung Quốc; Hiệp định hợp tác và bảo vệ khai thác tài nguyên du lịch Thác Bản Giốc và Hiệp định tàu thuyền đi lại tại khu vực tự do đi lại ở cửa sông Bắc Luân đã ký kết tháng 11/2015, có hiệu lực từ tháng 01/2016 và kết quả triển khai trên thực tế.

- Tăng cường thông tin tuyên truyền mối quan hệ hữu nghị giữa hai Đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước; các hoạt động giao lưu, hợp tác phát triển kinh tế- xã hội; đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động, chia rẽ của các thế lực thù địch trong vấn đề biên giới quốc gia, các vấn đề tranh chấp đang trong quá trình đàm phán và các hiệp định về biên giới nước ta ký với nước ngoài.

1.2. Đối với tuyến biên giới Việt Nam – Lào

- Tiếp tục tuyên truyền về ý nghĩa lịch sử của việc hoàn thành công tác tăng dày và tôn tạo, xây dựng hệ thống mốc quốc giới hiện đại đối với cả hai quốc gia Việt Nam và Lào trong bối cảnh hiện nay. Tuyên truyền về ý nghĩa, lợi ích của việc xây dựng và quản lý biên giới hòa bình, hữu nghị cùng phát triển; các văn bản pháp lý liên quan đến quản lý, bảo vệ biên giới, các văn bản song phương về biên giới được hai bên ký kết, nhất là Nghị  định thư về đường biên giới và mốc quốc giới và Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu khi có hiệu lực.

- Tuyên truyền về quan hệ hữu nghị, đoàn kết, truyền thống gắn bó giữa nhân dân, chính quyền hai nước; các hoạt động giao lưu, hợp tác phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hóa…của cộng đồng dân cư hai bên biên giới, các hoạt động kết nghĩa, giao lưu giữa các địa phương, các cụm dân cư, mô hình kết nghĩa thôn, bản và đồn biên phòng giữa hai nước; khẳng định sự quan tâm, ủng hộ, tình cảm gắn bó thuỷ chung giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân ta với Đảng, Chính phủ và nhân dân các bộ tộc Lào.

- Đẩy mạnh các nội dung tuyên truyền ý thức trách nhiệm, khuyến khích, vận động quần chúng nhân dân ở cả hai biên giới chấp hành các quy định của pháp luật liên quan đến công tác quản lý biên giới, thực hiện nghiêm túc thỏa thuận giữa Chính phủ hai nước về việc di cư tự do và kết hôn không giá thú; chú trọng tuyên truyền tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế - xã hội, gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng khu vực biên giới. Kịp thời biểu dương các đơn vị, cá nhân có thành tích trong công tác bảo vệ biên giới, lãnh thổ và phát triển kinh tế vùng biên.

 - Tăng cường tuyên truyền, thông tin đối ngoại về tình hữu nghị, quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào; quan hệ hợp tác phát triển của tỉnh Kon Tum với các tỉnh giáp biên của Lào. Kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề về biên giới lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo chia rẽ tình đoàn kết đặc biệt giữa nhân dân hai nước.

1.3. Đối với tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia

- Đẩy mạnh tuyên truyền về kết quả phân định biên giới, công tác phân giới, cắm mốc; ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển; các văn bản pháp luật liên quan đến công tác biên giới, lãnh thổ, các hiệp định, hiệp ước được hai bên ký kết về việc giải quyết biên giới Việt Nam- Campuchia, về công tác quản lý, bảo vệ đường biên, cột mốc theo quy định của pháp luật mỗi nước.

 - Chủ động nắm bắt thông tin, tình hình, diễn biến và tâm trạng nhân dân về các vấn đề có liên quan đến công tác biên giới. Kịp thời có phương pháp tiếp cận, đề xuất hướng xử lý và giải quyết các vấn đề nhạy cảm về công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa.

- Tuyên truyền để nhân dân hai bên biên giới hiểu đúng, ủng hộ, tăng cường các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa nhân dân, chính quyền khu vực biên giới hai nước theo hướng thực chất, hiệu quả, xây dựng hợp tác, giao lưu văn hoá và phát triển kinh tế- xã hội giữa các cụm dân cư khu vực biên giới.

 - Tuyên truyền về quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt Nam- Campuchia; các hoạt động đối ngoại giữa tỉnh Kon Tum với tỉnh Ratanakiri Vương quốc Campuchia. Ngăn chặn, đấu tranh phản bác kịp thời, hiệu quả với các quan điểm, thông tin và hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, biên giới, lãnh thổ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân và mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam- Campuchia.

2. Hình thức tuyên truyền

Căn cứ vào điều kiện, nhiệm vụ cụ thể của từng địa phương, đơn vị để xác định hình thức tuyên truyền phù hợp, thiết thực, hiệu quả:

- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh, tài liệu tuyên truyền, báo, pa nô, áp phích, tờ rơi, triển lãm, thi tìm hiểu, thi sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật, các hội chợ thương mại quốc tế tại khu vực cửa khẩu; tổ chức toạ đàm; các hình thức giao lưu giữa chính quyền các địa phương và nhân dân hai bên biên giới.

- Đối với các huyện biên giới cần chú trọng tổ chức tuyên truyền miệng, qua hệ thống loa truyền thanh ở cơ sở, qua các buổi sinh hoạt tại khu dân cư; hoạt động giao lưu, kết nghĩa; tranh thủ uy tín của già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong cộng đồng để tuyên truyền.

III. Tổ chức thực hiện

1. Ban Tuyên giáo, tuyên huấn các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh: Tham mưu xây dựng kế hoạch tuyên truyền, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị trong năm 2017.

2. Sở Thông tin và Truyền thông: Hướng dẫn Cổng thông tin điện tử tỉnh, trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tích cực đăng tải các văn bản pháp luật liên quan đến công tác biên giới, lãnh thổ; thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Lào về việc di cư tự do và kết hôn không giá thú; các hiệp định, hiệp ước về việc giải quyết biên giới Việt Nam- Campuchia được hai bên ký kết.

3. Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch: Chủ động tham mưu UBND tỉnh tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ với các lực lượng của Lào và Campuchia tại khu vực biên giới. Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai tuyên truyền cổ động trực quan về công tác biên giới trên đất liền, gắn với tuyên truyền phát triển kinh tế- xã hội của địa phương.

4. Ban chỉ đạo phân giới cắm mốc của tỉnh: Thường xuyên cung cấp thông tin các vấn đề liên quan đến công tác phân giới, cắm mốc để Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy định hướng và cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí, truyền thông của tỉnh trong việc tuyên truyền được kịp thời, chính xác.

5. Báo Kon Tum, Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh: Duy trì các chuyên trang, chuyên mục “Vì chủ quyền an ninh biên giới quốc gia”; chủ động phối hợp với địa phương, đơn vị xây dựng các tin, bài, phóng sự biểu dương các đơn vị, cá nhân có thành tích trong công tác bảo vệ biên giới, lãnh thổ và phát triển kinh tế vùng biên.

Đề nghị các địa phương, đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Định kỳ báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ để theo dõi, tổng hợp.

2. Ngày 03-3-2017, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 19 – HD/BTGTU về hướng dẫn công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2017. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu

1. Mục đích

Tăng cường nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.

- Giúp cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu chính xác, đẩy đủ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về các vấn đề liên quan đến biển, đảo phù hợp với quy định của Việt Nam và luật pháp quốc tế; trách nhiệm của Việt Nam trong việc xây dựng, củng cố, bảo vệ, phát triển mối quan hệ hoà bình, hữu nghị với các quốc gia có liên quan trên Biển Đông.

- Đấu tranh có hiệu quả đối với các hoạt động tuyên truyền của các thế lực cơ hội, thù địch trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề chủ quyền trên biển làm tổn hại khối đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ đối ngoại truyền thống tốt đẹp của Việt Nam với các nước láng giềng.

2. Yêu cầu

- Công tác tuyên truyền biển, đảo là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên, liên tục của các cấp ủy đảng, chính quyền, của cả hệ thống chính trị, có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh-quốc phòng của đất nước trong bối cảnh hiện nay.

- Bám sát các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các diễn biến mới về tình hình Biển Đông để thông tin tuyên truyền đầy đủ, chính xác và kịp thời. Quan tâm xử lý tốt dư luận xã hội về các vấn đề có liên quan đến biển, đảo.

II. Nội dung tuyên truyền

1. Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến, quán triệt đường lối, chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về các vấn đề có liên quan tới biển, đảo, trong đó lưu ý bám sát các nội dung, nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”; Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP của Chính phủ về “Chương trình hành động thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, các nghị quyết Hội quyết Trung ương trong năm 2017 có liên quan đến vấn đề biển, đảo.

2. Tuyên truyền những cơ sở, chứng cứ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thông tin về các chủ trương, chính sách mới; các văn bản, thoả thuận song phương và đa phương giữa Việt Nam với các quốc gia, các tổ chức quốc tế có liên quan tới biển, đảo Việt nam. 

 3. Tăng cường tuyên truyền về phát triển kinh tế biển, nhằm khẳng định tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Chú trọng tuyên truyền phát triển các ngành công nghiệp dầu khí, đánh bắt xa bờ, kinh tế hàng hải, du lịch biển, đảo..

4. Tuyên truyền các hoạt động hợp tác quốc tế về biển, đảo, nghiên cứu khoa học, biến đổi khí hậu và những cam kết, hành động của Việt Nam đối với hiện tượng biến đổi khí hậu; các hoạt động phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Việt Nam với nước ngoài trong quản lý, bảo vệ, khai thác và phát triển tài nguyên, môi trường biển; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và bảo vệ an ninh, trật tự an toàn khu vực ven biển và trên vùng biển thuộc chủ quyển, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam.

5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại. Tiếp tục đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề Biển Đông và mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia có liên quan trên Biển Đông. Trao đổi, đối thoại với các cá nhân có nhận thức chưa đúng, đầy đủ hoặc sai lệch về quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về biển, đảo.

III. Tổ chức thực hiện 

1. Ban Tuyên giáo, tuyên huấn các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh: Căn cứ các văn bản hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh và Chương trình phối hợp tuyên truyền biển, đảo giữa Tỉnh uỷ Kon Tum với Đảng uỷ Quân chủng Hải quân để tham mưu xây dựng kế hoạch tuyên truyền về biển, đảo, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị trong năm 2017.

2. Sở Thông tin và Truyền thông:

- Chỉ đạo và hướng dẫn Cổng thông tin điện tử tỉnh, trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố tích cực tuyên truyền về các chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về các vấn đề có liên quan tới biển, đảo; những cơ sở, chứng cứ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Phối hợp chặt chẽ với sở, ngành, địa phương tổ chức Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam- Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại các huyện theo kế hoạch.

3. Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch: Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thường xuyên tuyên truyền cổ động trực quan trên hệ thống các cụm panô, bảng khẩu hiệu về chủ đề biển, đảo của Tổ quốc; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ gắn với các bài hát ca ngợi về biển, đảo quê hương.

4. Báo Kon Tum, Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh: Duy trì và nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục "Vì biển đảo quê hương". Nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, tích cực trong việc khai thác, cung cấp thông tin về biển, đảo Việt Nam và tình hình Biển Đông. Kịp thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề bảo vệ chủ quyền, biển, đảo.

5. Hội Nhà báo tỉnh, Hội Văn học nghệ thuật: Tăng cường động viên, khuyến khích hội viên nhà báo, văn nghệ sĩ tích cực sáng tác về đề tài biển, đảo, người chiến sĩ Hải quân

Đề nghị các địa phương, đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Định kỳ báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ để theo dõi, tổng hợp.

3. Ngày 13-3-2017, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 20 – HD/BTGTU về hướng dẫn công tác thông tin đối ngoại năm 2017. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu

- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, của tỉnh trong năm 2017, phục vụ mục tiêu bảo vệ và phát triển đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; đồng thời quảng bá tiềm năng, thế mạnh của vùng đất, con người, văn hoá, du lịch đặc trưng của Kon Tum đến với bạn bè trong và ngoài nước.

- Bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị trong hoạt động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, mối quan hệ gắn kết giữa thông tin đối ngoại và thông tin đối nội.

II. Các nhiệm vụ trọng tâm năm 2017

1. Tuyên truyền việc triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh về công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới: Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 09-5-2012 về “Thực hiện Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị khoá XI về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020”; Kế hoạch số 42-KH/TU ngày 26-11-2008 “Thực hiện Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 10-9-2008 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới”; Quyết định số 363-QĐ/TU ngày 25-10-2016 “về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại tỉnh Kon Tum”; Chương trình hành động số 1553/CTr-UBND ngày 29-8-2012 về thực hiện Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại tỉnh Kon Tum giai đoạn 2012-2020; Quyết định số 744/QĐ-UBND ngày 24-7-2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành kế hoạch thông tin đối ngoại trung hạn của tỉnh Kon Tum giai đoạn 2015-2017.

2. Tiếp tục kiện toàn công tác tổ chức, cơ chế chỉ đạo, phối hợp cung cấp thông tin giữa Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại của tỉnh với các địa phương, đơn vị.

3. Đa dạng hóa hình thức, phương thức tuyên truyền; nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền của các cơ quan báo chí, truyền thông theo phương châm “Chính xác, kịp thời, linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng”.

 4. Phát huy tốt công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại bằng nhiều kênh thông tin đa dạng như: Thông qua các đoàn ra, đoàn vào; đăng cai tổ chức các sự kiện, các hội nghị, hội thảo xúc tiến đầu tư thương mại, đối ngoại nhân dân; giao lưu văn hóa...Để tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, giới thiệu quảng bá hình ảnh, văn hoá, những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

5. Nâng cao hiệu quả công tác dự báo tình hình khu vực và thế giới. Xây dựng cơ chế phối hợp xử lý nhanh chóng, chính xác, hiệu quả các vấn đề quan trọng, nhạy cảm, đột xuất để chủ động định hướng dư luận và đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các  thế lực cơ hội, thù địch, nhất là trong vấn đề Biển Đông, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

6. Tăng cường tập huấn nghiệp vụ công tác thông tin đối ngoại cho lãnh đạo các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, lực lượng tham mưu công tác thông tin đối ngoại, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí. Tập trung vào những vấn đề thiết thực, đáp ứng  tốt nhu cầu của các đối tượng, địa bàn cụ thể.

7. Thực hiện tốt công tác phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với các cơ quan báo chí đến tác nghiệp, quảng bá hình ảnh của địa phương phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh.

III. Tổ chức thực hiện

1. Các huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ, Uỷ ban Mặt trận và các đoàn thể tỉnh:

Xây dựng kế hoạch hoạt động thông tin đối ngoại cụ thể gắn với triển khai nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị năm 2017.

- Chủ động nắm bắt, dự báo tình hình liên quan đến nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền đối ngoại tại địa phương, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, được dư luận quan tâm.

- Tăng cường chỉ đạo việc cập nhật thông tin trên trang thông tin điện tử của địa địa phương, đơn vị; thực hiện nghiêm Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, góp phần thực hiện tốt công tác thông tin đối ngoại của tỉnh.

2. Các sở, ban, ngành liên quan: Bám sát Kế hoạch số 122/KH-UBND ngày 16-01-2017 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về Công tác thông tin đối ngoại tỉnh Kon Tum năm 2017 để triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung đã đề ra.

3. Báo Kon Tum, Đài phát thanh- Truyền hình tỉnh

- Thường xuyên đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả công tác thông tin, quảng bá hình ảnh, văn hoá, con người tỉnh Kon Tum trên sóng phát thanh truyền hình của tỉnh, Báo Kon Tum điện tử, trao đổi thông tin với các Đài PT-TH trong khu vực góp phần thu hút khách du lịch, nhà đầu tư đến Kon Tum, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao hình ảnh của Kon Tum ra bên ngoài.

- Kết hợp chặt chẽ giữa thông tin đối ngoại với thông tin đối nội. Khai thác thông tin trên các phương tiện báo chí truyền thông phải có sự kiểm duyệt kỹ lưỡng, tránh đưa những thông tin thiếu kiểm chứng, giật gân, câu khách làm ảnh   hưởng tới hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại.

- Nâng cao chất lượng, tính thuyết phục trong công tác đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc về tình hình biên giới, tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền.

Đề nghị các đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Định kỳ báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ để theo dõi, tổng hợp báo cáo.

4. Ngày 16-3-2017, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 30-KH/BTGTU về tuyên truyền phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu

- Tổ chức quán triệt, tuyên truyền những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí (gọi tắt là Nghị quyết); Kết luận 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (gọi tắt là Kết luận 21); nhất là quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Kết luận 10-KL/TW, ngày 26-12-2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” (gọi tắt là Kết luận 10). Qua đó, làm chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

- Công tác tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng, lãng phí cần được tiến hành đồng bộ, bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng, từng thời điểm và tình hình cụ thể; phải bảo đảm tính trung thực, khách quan, đúng với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phục vụ kịp thời công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của các cơ quan có trách nhiệm và nhu cầu thông tin của nhân dân.

- Gắn tuyên truyền thực hiện Nghị quyết, Kết luận 21, Kết luận 10, Chỉ thị 50-CT/TW ngày 7-12-2015 của Bộ Chính trị khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; với tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

II. Nội dung tuyên truyền

1. Tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là những nội dung cơ bản của Nghị quyết, Kết luận 21 và Kết luận 10; làm rõ tầm quan trọng của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tạo sự chuyển biến về nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nguy cơ, tác hại của tham nhũng đối với việc giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

2. Tuyên truyền, quán triệt mục tiêu, quan điểm phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Kết luận 10–KL/TW. Làm rõ, cụ thể hóa mục tiêu kiên quyết khắc phục những hạn chế, yếu kém, tạo chuyển biến rõ rệt trong 5 năm tới, ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí.

Quán triệt sâu sắc 3 quan điểm của Kết luận 10-KL/TW:

Một là, phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí; không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.

Hai là, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm. Gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

Ba là, kiên quyết, kiên trì, khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị để không dám tham nhũng; cơ chế bảo đảm để không cần tham nhũng.

3. Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng được nêu trong Kết luận 10-KL/TW:

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm và tính tiên phong, gương mẫu của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là của người đứng đầu.

- Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ cán bộ, đảng viên; hoàn thiện, thực hiện nghiêm các quy định về công tác tổ chức, cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

- Kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ.

- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát, bổ sung, sửa đổi, xây dựng, ban hành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí; thực hiện tốt công tác giám định và nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí.

- Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực để ngăn ngừa tham nhũng, lãng phí; xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí.

- Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng.

- Từng bước mở rộng hoạt động phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng.

Gắn tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí với tuyên truyền triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng và Chị thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua đó đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; tạo chuyển biến về tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, khuyến khích tự tu dưỡng, rèn luyện, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm túc phương châm: “Đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”; xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí, trước hết là trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cần gắn với trách nhiệm quản lý về mặt nhà nước của mỗi bộ, ngành, địa phương, mỗi cơ quan, đơn vị để thực hiện có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong Đảng, trong xã hội.

4. Tuyên truyền kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí của tỉnh; kết quả thanh tra, kiểm tra các vụ việc và điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến tham nhũng; kết quả xử lý các vụ việc, đối tượng thuộc phạm vi kiểm tra, giám sát của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường tuyên truyền, biểu dương gương người tốt, việc tốt, tập thể, cá nhân điển hình trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

5. Tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, phần tử cơ hội lợi dụng vấn đề tham nhũng, lãng phí để “bôi nhọ” chế độ, chống phá cách mạng Việt Nam, chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

III. Tổ chức thực hiện

1. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ

- Phối hợp với Ban Nội chính Tỉnh ủy, Uỷ ban kiểm tra Tỉnh uỷ và các sở, ngành liên quan của tỉnh tham mưu giúp Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo, định hướng  nội dung tuyên truyền, cung cấp thông tin về phòng chống, tham nhũng, lãng phí; các vụ việc, vụ án được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm xảy ra ở địa phương.

- Phương thức chỉ đạo, định hướng tuyên truyền: Thông qua hội nghị giao ban báo chí, hội nghị báo cáo viên, tài liệu sinh hoạt chi bộ định kỳ. Trường hợp cần thiết hoặc khẩn cấp tổ chức họp báo cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho báo chí.

2. Các huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ, Mặt trận Tố quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh

- Tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết, Kết luận 21, Kết luận 10 đến cán bộ, đảng viên và nhân dân bằng các hình thức phù hợp.

- Chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện Kết luận số 10-KL/TW ngày 26-12-2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống nham nhũng, lãng phí” của các cấp ủy.

- Thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời phát hiện những vấn đề nảy sinh trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết và các kết luận của Trung ương về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí để xử lý, giải quyết.

- Tăng cường giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

3. Báo Kon Tum, Đài phát thanh- Truyền hình tỉnh

- Tăng cường tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chủ động tham gia phát hiện các biểu hiện, các hành vi tham nhũng, lãng phí; thông tin kịp thời, chính xác, trung thực cho các cơ quan chức năng; lên án, đấu tranh đối với các biểu hiện, hành vi tham nhũng lãng phí và các hành vi bao che cho tham nhũng, lãng phí.

- Tích cực giới thiệu, biểu dương các gương điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt; động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội nhằm lợi dụng vấn đề này, để tuyên truyền vu khống và lối kéo người dân gây mất an ninh trật tự.

4. Hội Nhà báo tỉnh

Chỉ đạo hội viên tăng cường có các bài viết, phóng sự về công tác đấu tranh, phòng chống, tham nhũng, lãng phí; ưu tiên trao giải cho các tác phẩm báo chí chất lượng cao của tỉnh hằng năm về chủ đề này; tiếp tục động viên hội viên sáng tác và tham dự Giải báo chí toàn quốc với chủ đề: “Báo chí với công tác đấu tranh, phòng chống, tham nhũng, lãng phí” do Hội Nhà báo Việt Nam phát động.

5. Ngày 3/3/2017, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 123/QĐ-UBND về việc phân công nhiệm vụ của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum nhiệm kỳ 2016-2021, cụ thể:

1. Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh: Lãnh đạo, quản lý toàn diện mọi hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh và trực tiếp chỉ đạo, điều hành các lĩnh vực công tác: (1) Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; Dự toán ngân sách nhà nước hằng năm, trung hạn và dài hạn của tỉnh. Chủ trương đầu tư các dự án vốn ngân sách do tỉnh quản lý, các dự án đầu tư PPP và các nguồn vốn khác (Chủ tịch chủ trì, cùng các Phó Chủ tịch UBND thảo luận, quyết định). (2) Nội chính; Địa giới hành chính; Cải cách hành chính; Tổ chức bộ máy và công tác cán bộ. (3) Những vấn đề chung về công tác Đối ngoại, Thi đua, khen thưởng, dân tộc, tôn giáo. (4) Phụ trách công tác dân vận của khối chính quyền. (5) Nhiệm vụ đột xuất, nhạy cảm; giải pháp, cơ chế, chính sách quan trọng và có tính đột phá trên các lĩnh vực. (6) Theo dõi, chỉ đạo phát triển vùng kinh tế động lực thành phố Kon Tum. (7) Theo dõi, chỉ đạo các Ban Chỉ đạo của tỉnh (theo quyết định của cấp có thẩm quyền). (8) Phụ trách địa bàn thành phố Kon Tum, Kon Rẫy các Sở, ngành: Công an, Quân sự, Biên phòng, Thanh tra, Nội vụ.

* Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao quyền cho các Phó Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại tố cáo thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh theo lĩnh vực được phân công cho các Phó Chủ tịch UBND tỉnh tại văn bản này. Trường hợp phức tạp, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh, UBND tỉnh quyết định.

2. Các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh:

2.1. Đồng chí Nguyễn Đức Tuy - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Ban cán sự đảng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh: Thay mặt Chủ tịch UBND tỉnh điều hành các hoạt động chung của UBND tỉnh khi Chủ tịch đi vắng hoặc được ủy quyền.

Phụ trách ngành và lĩnh vực công tác sau: (1) Tài nguyên và Môi trường; Xây dựng; Công Thương; Giao thông vận tải; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Các Ban quản lý dự án xây dựng chuyên ngành giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp và dân dụng; Ban quản lý dự án đầu tư khu vực. (2) Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và các chương trình mục tiêu thuộc lĩnh vực phụ trách. (3) Giúp Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của doanh nghiệp; chỉ đạo công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư. (4) Chủ trì công tác thẩm định và chỉ đạo triển khai thực hiện các quy hoạch ngành thuộc khối sau khi được phê duyệt. (5) Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ phát triển đất, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng; Trưởng Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp tỉnh. (6) Xử lý các vấn đề thường xuyên về tôn giáo. (7) Theo dõi, chỉ đạo phát triển vùng kinh tế động lực huyện Kon Plông gắn với khu du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen. (8) Theo dõi, chỉ đạo các Ban chỉ đạo của tỉnh (theo quyết định của cấp có thẩm quyền); trực tiếp chỉ đạo các Hội thuộc lĩnh vực phụ trách, gồm: Hội Thủy lợi, Hội Kiến trúc sư, Hội Sinh vật cảnh, Hội Khoa học kỹ thuật cầu đường, Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp và Hiệp Hội doanh nghiệp. (9) Thay mặt Ban cán sự đảng UBND tỉnh giữ mối quan hệ phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy (ngoài quan hệ phối hợp do Ủy viên Ban cán sự đảng, Phó Chủ tịch khác phụ trách); thay mặt UBND tỉnh giữ mối quan hệ phối hợp với Thường trực HĐND tỉnh và các Ban của HĐND tỉnh. (10) Phụ trách địa bàn huyện Ia H’Drai, Kon Plông và các Sở, ngành, đơn vị: Văn phòng UBND tỉnh, Xây dựng, Công Thương, Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công ty TNHH MTV cấp nước; Công ty TNHH MTV môi trường đô thị; các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp; Quỹ phát triển đất tỉnh; Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh.

2.2. Đồng chí Lại Xuân Lâm - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh: Phụ trách ngành và lĩnh vực công tác sau: (1) Giáo dục và Đào tạo; Khoa học và Công nghệ; Phát thanh và Truyền hình; Thông tin và Truyền thông (bao gồm cả Báo chí; Cổng thông tin điện tử tỉnh; các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông); giúp Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại của tỉnh. (2) Giúp Chủ tịch UBND tỉnh theo dõi công tác tư pháp, thi hành án. (3) Các chương trình mục tiêu thuộc lĩnh vực phụ trách. (4) Giữ mối quan hệ phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đối với các lĩnh vực được phân công; giữ mối quan hệ với Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh và với Tòa án nhân dân tỉnh. (5) Chủ trì công tác thẩm định và chỉ đạo triển khai thực hiện các quy hoạch ngành thuộc khối sau khi được phê duyệt. (6) Theo dõi, chỉ đạo các Ban Chỉ đạo của tỉnh (theo quyết định của cấp có thẩm quyền); trực tiếp chỉ đạo các Hội thuộc lĩnh vực phụ trách, gồm Hội Nhà Báo, Hội Cựu giáo chức, Hội Tem, Hội Khuyến học, Hội Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật, Hội Luật gia và Đoàn Luật sư tỉnh. (7) Phụ trách địa bàn huyện Tu Mơ Rông, Đăk Tô và các Sở, ngành: Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, Phát thanh và Truyền hình, Thông tin và Truyền thông, Tư pháp.

2.3. Đồng chí Trần Thị Nga, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh: Phụ trách ngành và lĩnh vực công tác sau: (1) Y tế; Văn hóa - Thể thao và Du lịch; Lao động, Thương binh và Xã hội; Bảo hiểm xã hội; Công tác dân tộc (bao gồm cả Chương trình 135). (2) Giúp Chủ tịch UBND tỉnh xử lý vấn đề thường xuyên về công tác Thi đua - Khen thưởng; công tác đối ngoại và biên giới; công tác dân tộc. (3) Giữ mối quan hệ phối hợp với Ban Dân vận Tỉnh ủy, với Mặt trận và các đoàn thể, quản lý nhà nước về Hội. (4) Giúp Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo; phụ trách các chương trình mục tiêu thuộc lĩnh vực được phân công; phụ trách công tác an toàn lao động và phòng chống cháy nổ. (5) Chủ trì công tác thẩm định và chỉ đạo triển khai thực hiện các quy hoạch ngành thuộc khối sau khi được phê duyệt. (6) Theo dõi, chỉ đạo các Ban Chỉ đạo của tỉnh (theo quyết định của cấp có thẩm quyền); trực tiếp chỉ đạo các Hội thuộc lĩnh vực phụ trách, gồm: Ban đại diện Hội người cao tuổi, Hội Văn học nghệ thuật, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Bảo trợ Người khuyết tật và trẻ mồ côi, Hội Chữ thập đỏ, Hội Nạn nhân chất độc da cam/diôxin, Hội Y dược học, Hội Điều dưỡng, Hội Cựu thanh niên xung phong, Hội Đông y, Liên đoàn cầu lông, Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào, Hội Liên lạc người Việt Nam ở nước ngoài, Hội Liên lạc người Việt Nam ở nước ngoài, Ban liên lạc tù chính trị, Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia, Liên đoàn Bóng chuyền, Liên đoàn Bóng đá, Hội Bóng bàn, Liên đoàn quần vợt, Hội Truyền thống Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Hiệp hội Du lịch. (7) Phụ trách địa bàn huyện Sa Thầy, Đăk Hà và các Sở, ngành: Ngoại vụ; Y tế; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Lao động - Thương binh và Xã hội; Ban Dân tộc tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh.

2.4. Đồng chí Lê Ngọc Tuấn - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh: Phụ trách ngành và lĩnh vực công tác sau: (1) Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính; Ngân hàng; Khu kinh tế cửa khẩu; Kinh tế đối ngoại; Quỹ đầu tư phát triển tỉnh; kinh tế hợp tác - hợp tác xã. (2) Giải quyết thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản sau chủ trương đầu tư đến quyết toán dự án hoàn thành. Xem xét việc đề nghị cho chủ trương đầu tư dự án PPP và các nguồn vốn khác ngoài ngân sách trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì thảo luận cùng các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định. (3) Công tác Xúc tiến đầu tư. (4) Phụ trách Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên - tỉnh Kon Tum và các chương trình mục tiêu thuộc lĩnh vực được phân công. (5) Chủ trì công tác thẩm định và chỉ đạo triển khai thực hiện các quy hoạch ngành thuộc khối sau khi được phê duyệt. (6) Chủ tịch Hội đồng xổ số kiến thiết tỉnh, Trưởng Ban đại diện Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh. (7) Theo dõi, chỉ đạo các Ban Chỉ đạo của tỉnh (theo quyết định của cấp có thẩm quyền); trực tiếp chỉ đạo các Hội thuộc lĩnh vực phụ trách (Liên minh hợp tác xã tỉnh). (8) Phụ trách địa bàn huyện Ngọc Hồi, Đăk Glei và các Sở, ngành: Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính; Thống kê; Kho bạc; Ngân hàng; Thuế; Hải quan; Liên Minh HTX tỉnh; Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Kon Tum. (9) Theo dõi, chỉ đạo phát triển vùng kinh tế động lực Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y gắn với xây dựng và phát triển thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi.

3. Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, xử lý công việc theo các mối quan hệ sau:

Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh căn cứ quy hoạch, kế hoạch, dự toán ngân sách hằng năm, chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện toàn bộ công việc theo nhiệm vụ được phân công. Trường hợp điều chỉnh quy hoạch, phát sinh ngoài kế hoạch, vấn đề phức tạp nhạy cảm thì báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh, UBND tỉnh quyết định.

Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký văn bản theo đúng thẩm quyền quy định tại Quy chế làm việc của UBND tỉnh; các Phó Chủ tịch không ký văn bản thuộc thẩm quyền của Chủ tịch, trừ khi được ủy quyền.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

6. Ngày 7/3/2017, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 568/KH-UBND về triển khai thực Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

Kế hoạch đã đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu về tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số đến năm 2020, cụ thể như sau:

Về tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số:

Đối với cấp tỉnh: Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số tham gia vào các cơ quan, đơn vị, tổ chức, đơn vị cấp tỉnh tối thiểu là 15% tổng số biên chế được giao.

Đối với cấp huyện:

Huyện có người dân tộc thiểu số từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của huyện: tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số tham gia vào các cơ quan, đơn vị tối thiểu là 10% tổng số biên chế được giao.

Huyện có người dân tộc thiểu số từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của huyện: tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số tham gia vào các cơ quan, đơn vị tối thiểu là 20% tổng số biên chế được giao.

Huyện có người dân tộc thiểu số từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của huyện: tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số tham gia vào các cơ quan, đơn vị tối thiểu là 30% tổng số biên chế được giao.

Huyện có người dân tộc thiểu số trên 70% tổng dân số của huyện: tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số tham gia vào các cơ quan, đơn vị tối thiểu là 35% tổng số biên chế được giao. 

Đối với cấp xã:

Xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của xã: tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số phải đạt tối thiểu là 10% tổng số cán bộ, công chức tại xã.

Xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của xã: tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số phải đạt tối thiểu là 15% tổng số cán bộ, công chức tại xã.

Xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của xã: tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số phải đạt tối thiểu là 30% tổng số cán bộ, công chức tại xã.

Xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của xã: tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số phải đạt tối thiểu là 40% tổng số cán bộ, công chức tại xã.

Xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên 70% tổng dân số của xã: tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số phải đạt tối thiểu là 50% tổng số cán bộ, công chức tại xã.

Tỷ lệ công chức người dân tộc thiểu số của Ban Dân tộc tỉnh, Phòng Dân tộc ở cấp huyện: Ban Dân tộc tỉnh có tỷ lệ công chức người dân tộc thiểu số tối thiểu là 40% tổng số biên chế được giao. Phòng Dân tộc có tỷ lệ công chức người dân tộc thiểu số tối thiểu là 50% tổng số biên chế được giao.

Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan, đơn vị: Cấp tỉnh, mỗi đơn vị có tỷ lệ tối thiểu là 10% trên tổng số cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu của đơn vị. Cấp huyện, mỗi đơn vị cấp huyện có tỷ lệ tối thiểu là 20% trên tổng số cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu của đơn vị. Cấp xã, tỷ lệ tối thiểu là 30% trên tổng số cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số trên địa bàn.

II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG

Nghị định số 21/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 20/2011/NĐ-CP ngày 23/3/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Nghị định có 03 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 24/02/2017 và áp dụng cho kỳ tính thuế từ năm 2017. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:

Một là, sửa đổi, bổ sung Đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp:

- Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận đất để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp).

- Hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, nông trường viên, lâm trường viên đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh và hộ gia đình, cá nhân nhận đất giao khoán ổn định của công ty nông, lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.

- Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật hợp tác xã.

Hai là, sửa đổi, bổ sung khai thuế và điều chỉnh, bổ sung sổ thuế: Việc khai thuế và điều chỉnh, bổ sung sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với các trường hợp có thay đổi về nội dung miễn thuế theo quy định tại Nghị định này so với quy định của pháp luật về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp đã thực hiện trong giai đoạn từ năm 2003 đến hết năm 2010 thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 20/2011/NĐ-CP ngày 23/3/2011 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Việc khai thuế và điều chỉnh, bổ sung sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với các đối tượng đang phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp được chuyển sang miễn thuế từ năm 2017 đến hết năm 2020 như sau: Căn cứ sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp (sổ thuế gốc, sổ theo dõi thu) năm 2016 và tình hình thực tế tại địa phương, Chi cục thuế phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện rà soát và xác định đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp theo quy định để chuyển từ sổ theo dõi thu sang sổ thuế gốc.

Người nộp thuế đã có tên trong sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp nay thuộc đối tượng được miễn thuế theo quy định thì không phải kê khai lại và làm lại hồ sơ xét miễn thuế. Cơ quan thuế thực hiện chuyển sổ theo dõi theo hướng dẫn. 

Trường hợp phát sinh mới đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp thì cơ quan thuế phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ chức, đơn vị có liên quan hướng dẫn người nộp thuế kê khai và lập hồ sơ miễn thuế theo quy định, đồng thời cơ quan thuế bổ sung sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp.

B. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN

Trong tháng 04-2017, công tác tuyên truyền tập trung vào 02 nội dung trọng tâm sau:

1. Công tác tuyên truyền theo chủ đề, chủ điểm

- Tuyên truyền các ngày kỷ niệm, các sự kiện trong tháng 4-2017: Ngày lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch)Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (07/4/1907-07/4/2017); Kỷ niệm 147 năm Ngày sinh V.I.Lênin (22/4/1870 - 22/4/2017). Tuyên truyền đậm nét các hoạt động tổ chức Lễ kỷ niệm 45 năm Chiến thắng Đăk Tô –Tân Cảnh (24/4/1972- 24/4/2017) và đón nhận Bằng di tích quốc gia đặc biệt Địa điểm Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh; Kỷ niệm 42 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2017); Ngày sách Việt Nam lần thứ 4- 2017.

- Tuyên truyền việc triển khai thực hiện Kết luận số 10-KL/TW ngày 26-12-2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Chương trình số 28-CTr/TU ngày 24-02-2017 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ  thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18-11-2016 của Bộ Chính trị "về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững".

- Tuyên truyền nội dung Nghị quyết 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020; Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 2/2/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020. Tuyên truyền tình hình phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh trong quý I- 2017, nhiệm vụ trọng tâm quý II- 2017.

2. Công tác tuyên truyền thường xuyên

- Tiếp tục tuyên truyền đưa Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, tự chuyển hoá”trong nội bộ gắn với Chỉ thị số 05-CT/TWcủa Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (chú ý biểu dương người tốt, việc tốt, gương điển hình tiên tiến, xuất sắc trong các lĩnh vực công tác)

- Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của toàn thể cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo tinh thần Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12-01-2017 của Ban Bí thư và Kết luận số 04-KL/TU ngày 13-01-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh.

- Tiếp tục tuyên truyền việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh; tiếp tục xây dựng các xã đặc biệt khó khăn trong tình hình mới; giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020; phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh; tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số, giai đoạn 2016-2020.  Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 02-KL/TW, ngày 26-4-2016 của Ban Bí thư tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) "về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".

- Thường xuyên tuyên truyền về về xây dựng nông thôn mới; cải cách tư pháp và hoạt động tư pháp; các chính sách an sinh xã hội; hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thích ứng với biến đổi khí hậu; về bảo vệ môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng, chống các dịch bệnh; phòng chống cháy, nổ; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông.

- Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh, tiềm năng thế mạnh của tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền về chủ quyền an ninh biên giới trên đất liền, chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta. 

C. TIN TỨC- SỰ KIỆN

I. TIN TRONG TỈNH

1. Sáng 9-3, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện phương án tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020. Đồng chí Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.

Hội nghị đã đánh giá hơn 1 năm triển khai thực hiện phương án tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020 và đưa ra các giải pháp trong thời gian tới.

Theo đánh giá, công tác quản lý bảo vệ rừng thời gian qua đã được cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo, huy động sức mạnh tổng hợp trong việc bảo vệ rừng; các xã, chủ rừng đã xây dựng được phương án tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và thường xuyên tổ chức tuần tra, truy quyét ngăn chặn hành vi phá rừng, vận chuyển, cất giấu gỗ trái phép…

Tuy nhiên, tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng vẫn diễn biến ngày càng phức tạp, chưa giảm so với tiêu chí đề ra; tình trạng phá rừng vẫn xảy ra. Trong năm 2016, toàn tỉnh vẫn xảy ra 585 vụ vi phạm, với khối lượng hơn 2.860m3 gỗ tròn, quy tròn; so với năm 2015 tăng 225 vụ, tăng hơn 1.232m3 gỗ. Đặc biệt, trong 2 tháng đầu năm 2017, số vụ và khối lượng gỗ vi phạm tăng đột biến với 97 vụ, 1.111,48m3 gỗ, làm thiệt hại 1,4ha rừng…

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng biểu dương những cố gắng của các ngành, đơn vị, chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng thời gian qua, đồng thời nêu lên những nội dung cần phải làm thời gian tới.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: Trong việc xây dựng phương án, từng huyện, từng địa bàn, chủ rừng phải đánh giá cụ thể từng điểm nóng cũ, mới; xây dựng bản đồ xác định rõ từng điểm để có phương án, biện pháp quản lý bảo vệ. Về cơ sở chế biến, tiến hành rà soát lại các xưởng chế biến và kiên quyết loại bỏ những xưởng không nằm trong quy hoạch, xóa sổ những điểm ngoài quy hoạch, cần thiết phải cưỡng chế; có thể nghiên cứu hình thành cụm công nghiệp chế biến gỗ tại Khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y. Cấp ủy đảng, chính quyền địa phương nêu cao trách nhiệm hơn nữa trong quản lý điều hành công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa bàn mình; đặc biệt, cả hệ thống chính trị phải hạ quyết tâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu đưa những bài học kinh nghiệm của các đơn vị vào thực hiện, làm khẩu hiệu hành động và đặc biệt yêu cầu lãnh đạo không nên ngồi bàn giấy, phải xuống trực tiếp cơ sở…

Sau khi tiếp thu chỉ đạo của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, phát biểu kết luận tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Hòa nhấn mạnh: Mặc dù thời gian qua, ngành chức năng, các địa phương có nhiều cố gắng nhưng tình hình quản lý bảo vệ rừng còn nhiều phức tạp.

Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu: Về lâu dài, cần nghiên cứu hệ thống chính sách tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng, dựa vào rừng, gắn bó với rừng. Còn trước mắt, phải thực hiện rà soát chặt chẽ, kỹ lưỡng các xưởng chế biến, xưởng mộc trên địa bàn toàn tỉnh và có biện pháp xử lý một cách triệt để; cần phải tổ chức, có phương án cụ thể quản lý bảo vệ rừng 2017 cụ thể hơn, sát hơn, bắt đầu từ huyện đề nghị lên; xác định điểm nóng đến từng tiểu khu, địa bàn và có kế hoạch, dự báo phòng ngừa, có bộ phận theo dõi, đánh giá, gắn trách nhiệm từng cá nhân, cấp ủy chính quyền để xảy ra phá rừng, xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Cấp ủy, chính quyền địa phương từ huyện đến xã và các đơn vị trực tiếp quản lý bảo vệ rừng hạ quyết tâm làm đầy đủ trách nhiệm, sát việc, sát cơ sở; thành lập tổ liên ngành của xã, nhất là ở những điểm nóng; đúc rút những bài học kinh nghiệm của các đơn vị viết thành nội dung cô đọng, dễ nhớ, làm cẩm nang, khẩu hiệu hành động cho tất cả các đơn vị trực tiếp quản lý bảo vệ rừng; tiếp tục phối hợp giữa các lực lượng trong quá trình diễn tập để ứng phó kịp thời khi có tình huống xảy ra…

2. Sáng 9-3 Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị báo cáo viên trực tuyến tháng 3 năm 2017 với 50 điểm cầu trong toàn quốc. Đồng chí Lâm Phương Thanh - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì Hội nghị.

Dự Hội nghị tại điểm cầu tỉnh Kon Tum có các đồng chí: Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Nguyễn Hữu Hải - Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy; Trần Thị Nga - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí báo cáo viên Tỉnh ủy;...

Hội nghị đã nghe đồng chí Đặng Thị Bích Liên, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình bày chuyên đề về thực trạng hoạt động của lễ hội nước ta hiện nay; nhiệm vụ đặt ra đối với các cơ quan chức năng và chính quyền của các địa phương trong việc tổ chức, quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của lễ hội trong tình hình mới.

Nghe TS. Nguyễn Xuân Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình bày một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng nền công nghiệp nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và hội nhập kinh tế quốc tế.

Phát biểu định hướng công tác tuyên truyền trong thời gian tới, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lâm Phương Thanh đề nghị đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp bám sát những nội dung đã được thông tin tại hội nghị để tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Cần tuyên truyền những nội dung cơ bản của Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh công tác quản lý, tổ chức  lễ hội, lễ kỷ niệm. Theo đó, cần tiếp tục quán triệt và nghiêm túc thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư khóa XI về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội.

Các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật hành chính, kỷ luật lao động, tuyệt đối không được đi lễ hội trong giờ hành chính, không dùng xe công và các phương tiện công hoặc thuê khoán phương tiện đi lễ hội trong giờ hành chính.

Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để bộ, ngành,  địa phương do mình phụ trách và quản lý vi phạm quy định quản lý, tổ chức lễ hội, lễ kỷ niệm; để xảy ra những vi phạm nghiêm trọng trong lễ hội. Không thực hiện các nghi lễ có tính bạo lực, trái với truyền thống yêu hòa bình và nhân ái của dân tộc.

Đồng chí Lâm Phương Thanh cũng đề nghị cần phải tiếp tục tuyên truyền việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường. Cần quan tâm tuyên truyền, cổ vũ, động viên sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, đẩy mạnh phát triển đối tác công tư PPP và cơ chế đồng quản lý, phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng. Nông dân và doanh nghiệp trực tiế đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ, thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.

Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền cũng cần tập trung tuyên truyền kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội những tháng đầu năm 2017.  Ngay sau tết Nguyên đán, các cơ quan Trung ương và địa phương đã tổ chức thực hiện tốt tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ: bắt tay ngay vào công việc, xử lý nghiêm những vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức, không để xảy ra tình trạng tháng Giêng là tháng ăn chơi như trước đây.

Các bộ, ngành địa phương lấy chủ đề năm 2017 là Tăng cường kỷ cương, đề cao trách nhiệm, thi đua sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững làm trọng tâm hành động, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra theo phương châm là phải thực sự vào việc, quyết tâm hành động, nói đi đôi với làm, tăng cường kỷ luật kỷ cương, tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh doanh; tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ trên mọi mặt kinh tế  xã hội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng.

Tiếp tục tuyên truyền đưa Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị; tăng cường tuyên truyền các cá nhân, tập thể học tập và làm theo Bác.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục tuyên truyền, nhấn mạnh những đóng góp của Việt Nam thể hiện tinh thần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; tuyên truyền về kết quả các hoạt động năm APEC Việt Nam 2017.

3. Sáng 15-3, Sở Thông tin – Truyền thông tổ chức buổi họp báo về tổ chức triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại các huyện năm 2017.

Theo đó, Sở Thông tin - Truyền thông Nguyễn Thị Thơ sẽ phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại tất cả 9 huyện trong toàn tỉnh và 01 đơn vị lực lượng vũ trang trong năm 2017, 2018 vào dịp kỷ niệm ngày lễ lớn của đơn vị, địa phương.

Trong năm 2017, triển lãm và trưng bày tại 5 huyện: Đăk Hà (tháng 3), Đăk Tô (tháng 4), Đăk Glei (tháng 5), Kon Rẫy (tháng 8) và Ngọc Hồi (tháng 10); năm 2018 triển khai ở các huyện còn lại là Kon Plông (tháng 3), Tu Mơ Rông (tháng 6), Ia H’Drai (tháng 9), Sa Thầy (tháng 10) và Trung đoàn 990 - Đăk Tô (tháng 5). Từ năm 2019, Triển lãm ở các xã biên giới, khu đông dân cư, đơn vị quân đội và các trường học trong toàn tỉnh.

Trước đó trong năm 2016, Bộ Thông tin - Truyền thông phối hợp với tỉnh Kon Tum đã tổ chức thành công Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại thành phố Kon Tum – trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Kon Tum. Sau khi kết thúc triển lãm, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trao tặng toàn bộ tư liệu, hiện vật, bản đồ cho UBND tỉnh Kon Tum quản lý.

Dự kiến, triển lãm được tổ chức trong 5 ngày tại mỗi địa phương, đơn vị với nhiều tư liệu, văn hóa, hiện vật, ấn phẩm và gần 100 bản đồ được trưng bày là tập hợp các nguồn tư liệu đã được công bố từ trước đến nay của các nhà nghiên cứu, học giả ở trong nước và quốc tế.

Triển lãm là hoạt động thông tin tuyên truyền quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm của Nhân dân trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là tầng lớp thanh niên trong việc bảo vệ và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua các tư liệu lịch sử được công bố.

4. Chiều 17-3, sau khi kiểm tra thực tế tại một số địa phương trong tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh do đồng chí A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với lãnh đạo UBND tỉnh và các sở ngành để giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật về cải cách bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2016.

Tiếp và làm việc với Đoàn có đồng chí Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành và các huyện, thành phố.

Nội dung chương trình giám sát tập trung xem xét, đánh giá về việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2016; những kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập, khó khăn, vướng mắc.  Qua đó để đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp, cũng như các giải pháp để hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.

Qua giám sát cho thấy, nhìn chung tỉnh Kon Tum đã được triển khai kịp thời, đúng thẩm quyền việc ban hành văn bản pháp luật của UBND tỉnh để cụ thể chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước;  công tác tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện được thực hiện đúng theo quy định của các Bộ, ngành Trung ương, đã đảm bảo được tính ổn định; giảm được tình trạng thành lập các tổ chức không cần thiết; cơ bản tránh được tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan chuyên môn nói chung và giữa các bộ phận cấu thành của các cơ quan chuyên môn nói riêng; cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện sau khi được kiện toàn đảm bảo ổn định; một số cơ quan chuyên môn cấp tỉnh đã giảm được số lượng đơn vị trực thuộc;

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh đã được quy định rõ ràng; quy định cụ thể số lượng cấp phó người dứng đầu các cơ quan chuyên môn đã tránh được tình trạng bổ nhiệm tràn lan…

Tuy nhiên việc thực hiện còn một số khó khăn liên quan đến quy trình tổ chức thực hiện, việc chậm hướng dẫn của một số cơ quan Trung ương, việc áp đặt chỉ tiêu tinh giản biên chế cho mỗi địa phương, đơn vị hàng năm, gây khó khăn cho các địa phương, đơn vị ít biên chế, nhất là đối với tỉnh Kon Tum từ trước đã ít biên chế, nay thành lập thêm huyện mới vẫn không được bổ sung biên chế. Mặt khác, một số cơ quan đơn vị có số người nghỉ hưu, nghỉ trước tuổi nhiều, nhưng hiện vẫn chưa cho chủ trương tiếp nhận mới, gây khó khăn trong hoạt động…

Tại buổi làm việc, UBND tỉnh và các Sở ngành của tỉnh đã có nhiều ý kiến đề nghị Đoàn giám sát tổng hợp kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ như: Đề xuất Chính phủ sửa đổi Nghị định 24/2014/NĐ-CP ngày 4/4/2014 và Nghị định 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh theo hướng thu gọn đầu mối, giảm bớt khâu trung gian, thực hiện mô hình các cơ sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; bãi bỏ quy định không còn phù hợp hoặc chồng chéo trong quy định về tổ chức bộ máy; Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan khi ban hành Thông tư hướng dẫn phải quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức; đồng thời quy định cụ thể số lượng cấp phòng, các đơn vị thuộc, trực thuộc; đưa các đơn vị sự nghiệp thuộc quản lý của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh đóng chân trên địa bàn huyện về cho UBND cấp huyện quản lý để đảm bảo nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ.

II. TIN TRONG NƯỚC

1. Một số tình hình về kinh tế - xã hội 2 tháng đầu năm 2017; nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới

Một số điểm nhấn về kinh tế:

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tỷ giá cơ bản ổn định (lạm phát cơ bản 2 tháng đầu năm 2017 tăng 1,69% so với cùng kỳ năm 2016. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 2 tháng đầu năm tăng 5,12% so với cùng kỳ năm 2016).

 - Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 02 tháng đầu năm 2017 đều tăng so với cung kỳ năm 2016 (xuất khẩu ước đạt 27,34 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2016; nhập khẩu ước đạt 27,39 tỷ USD, tăng 19,6% so với năm 2016).

- Thị trường hàng hóa bán lẻ và hoạt động dịch vụ tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi song chậm lại: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 2 tháng đầu năm ước tính ở mức 640 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2016.

- Vốn FDI đăng ký và thực hiện tăng trưởng tích cực: tổng vốn FDI đăng ký và thực hiện 02 tháng đầu năm lần lượt là 3,4 tỷ USD và 1,55 tỷ USD, tăng 21,5% và 3,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Bên cạnh đó, một số ngành, lĩnh vực kinh tế tăng trưởng chưa bền vững, như: sản xuất công nghiệp tăng trưởng với mức thấp, 2 tháng đầu năm ước tính tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2016, thấp hơn nhiều mức tăng 6,6% của 2 tháng đầu năm 2016 so cùng kỳ năm 2015; CPI có xu hướng tăng lên: CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2017 tăng 5,12% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 2 tháng đầu năm 2016 (1,04%); cán cân thương mại thâm hụt (2 tháng đầu năm 2017 ước tính thâm hụt 50 triệu USD).

Về các lĩnh vực xã hội: An sinh xã hội và phúc lợi xã hội được các cấp, ngành, địa phương triển khai thực hiện tốt. Tính chung 02 tháng đầu năm 2017, cả nước có 73,1 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 21,2% so với cùng kỳ năm 2016, tương ứng với 298,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 20,5%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, các cấp, ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ 5,3 nghìn tấn lương thực và khoảng 1,1 tỷ đồng; lĩnh vực văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân nhân...được quan tâm, đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn để xảy ra các vụ ngộ độc nghiêm trọng, dịch bệnh lây lan, tình hình tai nạn giao thông, cháy nổ diễn biến phức tạp (cả nước có 13 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 396 người bị ngộ độc, trong đó 11 người tử vong; 4,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 9,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; đã xảy ra 3.465 vụ tai nạn giao thông, làm 1.570 người chết, 2.660 người bị thương...).

Một số nhiệm vụ trong thời gian tới:

Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2017 đã được đề ra từ ngay đầu năm. Thời gian tới, cần tập trung vào một số nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng. Trước hết, năm 2017 phải nỗ lực phấn đấu để kiểm soát lạm phát ở mức 4%, tăng trưởng 6,7% và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế như mục tiêu đề ra.

Thứ hai, tiếp tục chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá; bảo đảm thanh khoản của các tổ chức tín dụng, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp và người dân; tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên gắn với bảo đảm chất lượng tín dụng.

Thứ ba, lập kế hoạch, giải pháp cụ thể thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao; thực hiện đồng bộ các giải pháp, chính sách để thu hút và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 19  và Nghị quyết 35 của Chính phủ.

Thứ năm, tiếp tục triển khai mạnh mẽ chủ trương hội nhập quốc tế; các bộ, ngành, địa phương quán triệt, bám sát chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Thủ tướng trong định hướng dư luận, trong thực hiện hiệu quả các cam kết FTA đã ký kết với các nước. Đồng thời có đối sách phù hợp với những thay đổi trong chính sách thương mại, đầu tư của các đối tác quốc tế và khu vực.

2. Một số nét chính về lễ hội, công tác chỉ đạo, quản lý, tổ chức lễ hội trong năm 2016 và đầu xuân 2017

Theo thống kê của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, hằng năm ở nước ta có khoảng gần 8 nghìn lễ hội, trung bình mỗi ngày có trên 20 lễ hội được diễn ra. Nhiều lễ hội thu hút được đông đảo nhân dân và du khách tham gia, như: lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh), lễ hội Chùa Hương (Hà Nội), lễ miếu Bà Chúa Xứ núi Sam (An Giang)… Nhìn chung, nội dung lễ hội diễn ra tại các địa phương cơ bản là phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc. Về phần lễ, đã chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc theo hướng lành mạnh, tiến bộ, được tổ chức trang trọng, linh thiêng, thành kính. Về phần hội, diễn ra phong phú, hấp dẫn, chú trọng các hoạt động văn hóa dân gian, dân ca, dân vũ của dân tộc, gắn kết các hoạt động văn hóa, thể thao truyền thống. Các hoạt động sinh hoạt lễ hội truyền thống này đã đáp ứng nhu cầu tâm linh và giải trí của nhân dân, góp phần giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tạo sự gắn kết trong cộng đồng. Thông qua việc tổ chức các lễ hội, công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử tại các địa phương được quan tâm hơn.

Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo: Đảng, Chính phủ, các ban, bộ, ngành có liên quan đã ban hành nhiều văn bản về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý và tổ chức lễ hội, như: Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 05/02/2015 của Ban Bí thư về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội. Công điện số 156/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 02/2/2017 về việc đôn đốc thực hiện nhiệm vụ sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017. Chỉ thị số 06/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 20/02/2017 về việc chấn chỉnh công tác quản lý, tổ chức lễ hội, lễ kỷ niệm; Công văn số 1795-CV/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 27/12/2016 về việc chỉ đạo các hoạt động văn hóa, văn nghệ xuân Đinh Dậu 2017; Công văn số 515/BVHTTDL-VHCS của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, ngày 15/02/2017 về việc tăng cường chỉ đạo, chấn chỉnh công tác quản lý và tổ chức lễ hội.

Về công tác quản lý, tổ chức lễ hội, hoạt động lễ hội đã đi vào nền nếp, từng bước khắc phục những hạn chế của những mùa lễ hội trước. Ở một số nơi, các lễ hội có tập tục mang yếu tố bạo lực, không còn phù hợp đã chuyển đổi sang hình thức thực hành nghi lễ, như: làng Ném Thượng (Bắc Ninh) không thực hiện tục “chém lợn” giữa sân đình,… công tác thu, chi tiền công đức được quản lý công khai, sử dụng đúng mục đích, đúng quy định; công tác an ninh, trật tự, phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm tại các khu di tích và lễ hội được đảm bảo; công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý và tổ chức lễ hội được quan tâm và tăng cường (Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập 6 đoàn kiểm tra tại 14 tỉnh, thành phố); công tác phối hợp giữa ngành văn hóa với các cơ quan, ban, ngành (Bộ Công an, Bộ Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam…) chủ động hơn, đạt hiệu quả cao hơn; công tác tuyên truyền được đẩy mạnh, góp phần vào việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội, nâng cao ý thức thực hiện nếp sống văn minh của người dân khi tham gia lễ hội…

Tuy nhiên, bên cạnh nhưng mặt tích cực đã đạt được,công tác quản lý, tổ chức lễ hội vẫn còn có mặt hạn chế, tồn tại cần sớm được khắc phục, đó là:

- Một số địa phương buông lỏng công tác quản lý và tổ chức lễ hội, có biểu hiện thương mại hóa, vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý và tổ chức lễ hội như: Hội thi chọi trâu, lễ đâm trâu không phép ở (Tuyên Quang, Yên Bái, Quảng Nam); việc tổ chức “khai ấn”, “phát ấn” không phép (Quảng Ninh, Nghệ An).

- Vẫn còn để xảy ra những hình ảnh phản cảm: chen lấn, tranh cướp lộc tại lễ hội đền Sóc (Hà Nội); nhà sư ném lộc tại chùa Hương (Hà Nội); tranh cướp bạo lực tại hội Phết xã Hiền Quan (Phú Thọ); ngả nón xin tiền tại hội Lim (Bắc Ninh)...

- Một số cơ quan còn buông lỏng quản lý, để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động vi phạm kỷ luật lao động, đi lễ hội trong giờ hành chính, sử dụng xe công đi lễ hội.

- Tình trạng đổi tiền hưởng chênh lệch, bán hàng rong, chèo kéo khách, tăng giá bán, kinh doanh trò chơi có thưởng, có tính cờ bạc còn diễn ra ở nhiều lễ hội; hoạt động mê tín dị đoan, tình trạng hầu đồng, dâng lễ tốn hàng chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu đồng...

Để công tác chỉ đạo, quản lý, tổ chức lễ hội đạt hiệu quả cao, đề nghị các cấp, ngành, địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

Một là, cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục quán triệt và triển khai nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và hướng dẫn của các ban, bộ, ngành về công tác chỉ đạo, quản lý, tổ chức lễ hội.

Hai là, rà soát, bổ sung các quy định của Nhà nước về việc quản lý và tổ chức theo từng loại hình lễ hội (lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử - cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội văn hóa - du lịch, lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam).

Ba là, tăng cường công tác tuyên truyền về giá trị, ý nghĩa giáo dục của lễ hội, giá trị di tích và các nhân vật được thờ phụng, tôn vinh; vận động, thuyết phục nhân dân loại bỏ những lễ hội còn những tập tục mang yếu tố bạo lực, phản cảm, thực hiện nếp sống văn minh khi tham gia lễ hội; biểu dương các tổ chức, cá nhân gương mẫu thực hiện tốt các quy định về tổ chức lễ hội; kịp thời phê phán, lên án những hành vi phản cảm; xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm.

Bốn là, từng cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật lao động, tuyệt đối không đi lễ hội trong giờ hành chính, không dùng xe công đi lễ hội; thực hiện nếp sống văn minh khi tham gia hoạt động lễ hội.

Năm là, triển khai thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng, chống cháy nổ; tổ chức và quản lý tốt các dịch vụ phục vụ du khách và người dân tham gia lễ hội.

3. Một số kết quả chủ yếu của ngành Y tế năm 2016; nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn 2016-2020

Một số kết quả nổi bật: năm 2016, ngành Y tế tập trung vào việc đổi mới, đột phá và triển khai đồng bộ các giải pháp hướng tới sự hài lòng của người bệnh, đã tạo được chuyển biến rõ rệt tại các bệnh viện, từ tư duy “phục vụ” sang “cung cấp dịch vụ”, bước đầu được người dân đánh giá cao, được thể hiện qua một số tiêu chí cụ thể sau:

- Chỉ số cải cách hành chính của Bộ Y tế do Chính phủ công bố đã tăng 9 bậc so với năm 2015, từ xếp thứ 17/19 bộ, ngành lên thứ 8/19 bộ, ngành.

- Tỉ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 81,7%, vượt mục tiêu Quốc hội giao là 5,7%, vượt mục tiêu Thủ tướng Chính phủ giao là 2,7%, đạt được mốc trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế vào năm 2020. Tiền lương đã đưa vào giá dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại 36 tỉnh, thành phố theo lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ công. Thủ tục hành chính trong khâu quản lý khám, chữa bệnh, thanh toán bảo hiểm y tế được tinh giảm; hoàn thành việc kết nối liên thông cơ sở dữ liệu giữa cơ sở khám, chữa bệnh với cơ quan bảo hiểm xã hội.

- Tình hình sức khoẻ của người dân tiếp tục được cải thiện thông qua các chỉ số sức khoẻ cơ bản đều được nâng lên.

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác y tế năm 2016 còn có những khó khăn và hạn chế sau: hệ thống các cơ sở y tế chưa đáp ứng được nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Một số bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, tay chân miệng mặc dù tỉ lệ mắc có giảm qua các năm nhưng còn ở mức cao. Tình hình ngộ độc thực phẩm còn diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Tình trạng quá tải ở một số bệnh viện Trung ương và tuyến cuối bước đầu được cải thiện nhưng chưa bền vững...

Để hoàn thành các chỉ tiêu đề ra trong giai đoạn 2016 - 2020, ngành Y tế cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau: (1) Phát triển y tế cơ sở; (2) giảm quá tải bệnh viện, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh; (3) đẩy mạnh công tác y tế dự phòng phù hợp với tình hình mới; (4) phát triển nguồn nhân lực y tế, tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ; (5) tiếp tục đổi mới toàn diện thái độ, phong cách phục vụ của cán bộ y tế; (6) tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính từ huy động, phân bổ đến sử dụng hiệu quả nguồn tài chính y tế; (7) tập trung đổi mới, củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế từ trung ương đến địa phương; (8) đổi mới mô hình tổ chức, quản lý an toàn thực phẩm, dược, vắc xin, sinh phẩm và trang thiết bị y tế; (9) tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe.

4. Một số nét chính trong công tác tuyển quân năm 2017

Tính đến ngày 16/02/2017, các địa phương, đơn vị trong cả nước đã hoàn thành công tác giao, nhận quân năm 2017. Nhìn chung, công tác tuyển quân trong cả nước được tổ chức thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình trong sơ tuyển, khám tuyển, xét duyệt hồ sơ, đảm bảo công khai, công bằng, dân chủ, đúng quy định của pháp luật. Nhiều địa phương thực hiện tốt công tác chính sách hậu phương quân đội trong tuyển quân, tạo được niềm tin, ấn tượng tốt đẹp đối với chiến sĩ mới ngay từ ngày đầu nhập ngũ, như: tặng quà, tặng sổ tiết kiệm, tổ chức hội trại, giao lưu văn hóa, văn nghệ tạo khí thế sôi nổi trong ngày hội giao quân (Hà Nội, Đà Nẵng, Tp.Hồ Chí Minh, Long An, Cần Thơ,…). Về chất lượng tuyển quân: đa số người trúng tuyển nghĩa vụ quân sự có trình độ THPT trở lên (THPT đạt 55,6%, trung cấp, cao đẳng, đại học đạt 11,8%); có sức khỏe tốt (loại 1 đạt 16,9%, loại 2 đạt 49,1%, loại 3 đạt 34%); là đảng viên: 1.322 đồng chí; công dân nhập ngũ (tạo nguồn cán bộ cơ sở) là người vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào đân tộc thiểu số đạt 18,1%; toàn quốc có 300 công dân nữ trúng tuyển.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, trong công tác tuyển quân vẫn còn bộc lộ một số vấn đề cần rút kinh nghiệm để công tác tuyển quân lần sau đạt chất lượng cao hơn, như: công tác tuyên truyền, giáo dục về Luật Nghĩa vụ quân sự hiệu quả chưa cao, chưa kết hợp tuyên truyền với xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Ở một số địa phương, sự phối hợp giữa cơ quan quân sự và các ban, ngành trong việc tham mưu, đôn đốc, kiểm tra tổ chức thực hiện việc tuyển quân chưa tốt…

5. Một số kết quả nổi bật của Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII

Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2017-2022 tổ chức từ ngày 07 đến 09/3/2017, tại Thủ đô Hà Nội, với chủ đề “Đoàn kết-Đổi mới-Bình đẳng-Hội nhập”. Tham dự Đại hội có 1.153 đại biểu tiêu biểu, đại diện cho các tầng lớp phụ nữ trong cả nước. Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, Đại hội đã hoàn thành chương trình đề ra, đó là:

(1) Đại hội thông qua những nội dung cơ bản về đánh giá phong trào phụ nữ và kết quả hoạt động của Hội LHPN Việt Nam nhiệm kỳ 2012-2017. Đại hội biểu dương toàn thể hội viên, phụ nữ và cán bộ Hội cả nước đã phát huy truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tích cực học tập, năng động, sáng tạo trong lao động, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI, đóng góp hiệu quả vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Những nỗ lực, đóng góp của hội viên, phụ nữ đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận, trao tặng nhiều phần thưởng cao quý (16.587 huân, huy chương các loại; 2.399 chị được phong tặng các danh hiệu của Nhà nước)... Bên cạnh đó, Đại hội cũng nghiêm túc kiểm điểm hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam khóa XI; thẳng thắn chỉ rõ 4 hạn chế, khuyết điểm; rút ra 5 bài học kinh nghiệm của phong trào phụ nữ và hoạt động Hội LHPN Việt Nam trong nhiệm kỳ 2012 – 2017.

(2) Đại hội quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhiệm kỳ 2017 – 2022: Về mục tiêu, đại hội xác định 3 mục tiêu lớn, trong đó nhấn mạnh, phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng giới, tiến bộ của phụ nữ, xây dựng gia đình hạnh phúc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Về chỉ tiêu, Đại hội thông qua 7 chỉ tiêu quan trọng, nổi bật là: kết nạp thêm 1 triệu hội viên; giúp thêm 10.000 hộ thoát nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều; hỗ trợ 2.500 phụ nữ khởi sự kinh doanh và khởi nghiệp; phối hợp hỗ trợ thành lập 300 hợp tác xã do phụ nữ quản lý…Về nhiệm vụ, Đại hội xác định các cấp Hội cần triển khai thực hiện ba nhiệm vụ trọng tâm. Về các giải phápcó sáu nhóm giải pháp lớn, trong đó cần tập trung mọi nguồn lực để thực hiện hai khâu đột phá, đó là: nâng cao hiệu quả thực chất công tác giám sát, phản biện xã hội, tham mưu đề xuất chính sách góp phần giải quyết các vấn đề thiết thân của phụ nữ; nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động Hội cơ sở; đa dạng hóa các hình thức tập hợp phụ nữ; phát huy quyền làm chủ của hội viên, phụ nữ.

(3) Đại hội biểu quyết thông qua toàn văn Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (sửa đổi, bổ sung). So với Điều lệ Hội khóa XI, Điều lệ Hội khóa XII có một số điểm mới, trong đó nổi bật là việc cụ thể hoá chức năng vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới; quy định về công tác “giám sát” cho phù hợp chức năng, nhiệm vụ và hoạt động thực tiễn hiện nay của Hội.

(4) Đại hội quyết định cơ cấu, số lượng uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam khóa XII, gồm 171 uỷ viên. Tại Đại hội đã bầu được 161 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XII. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam khóa XII thống nhất số lượng ủy viên Đoàn Chủ tịch là 33 ủy viên và đã tiến hành bầu được 31 ủy viên; cũng tại Hội nghị này, Ban Chấp hành tín nhiệm bầu đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam khóa XI tái cử Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam khóa XII và 04 Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam khóa XII.

Đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII đã thành công tốt đẹp, với tinh thần“Đoàn kết-Đổi mới-Bình đẳng-Hội nhập”, Đại hội kêu gọi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam phát huy tinh thần yêu nước, chung sức, chung lòng, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vì sự tiến bộ, hạnh phúc và bình đẳng của phụ nữ.

6. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo phòng chống dịch cúm A(H7N9)

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), từ năm 2013 đến nay, tại Trung Quốc đã có 5 đợt dịch bùng phát với 1.222 người mắc cúm A(H7N9), trong đó có 395 ca tử vong tại 18 tỉnh, thành phố. Đợt dịch thứ 5, từ tháng 10/2016 đến nay, số ca mắc bệnh tăng đột biến là 425 trường hợp. Chỉ tính riêng 1 tháng gần đây (từ 19/01/2017 đến 14/02/2017), Trung Quốc đã phát hiện thêm 304 trường hợp nhiễm cúm A(H7N9).

Tại Việt Nam, tính đến ngày 15/3/2017, nước ta chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp do cúm A(H7N9). Tuy nhiên, tình hình dịch cúm gia cầm A(H5N1, H5N6) đã xuất hiện tại 11 xã của 7 tỉnh ở nước ta, dịch bệnh cúm A(H7N9) đang tăng nhanh tại Trung Quốc, nhất là tại các tỉnh sát biên giới với Việt Nam (Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông...) và thời điểm hiện nay, thời tiết giao mùa là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh cúm A(H7N9) xâm nhập và bùng phát tại nước ta. Bên cạnh đó, công tác phát hiện dịch và điều trị bệnh đang gặp nhiều khó khăn, do vi rút cúm A(H7N9) không gây chết gia cầm và hiện tại chưa có vắc xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, các biện pháp phòng bệnh hiện nay chủ yếu dựa vào vệ sinh cá nhân và ngăn ngừa lây truyền tại cộng đồng.

Để công tác phòng, chống dịch cúm A(H7N9) đạt hiệu quả cao đề nghị các cấp, ngành, địa phương chủ động triển khai thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

Một là, kịp thời cung cấp thông tin để người dân không hoang mang lo lắng; tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn giúp người dân chủ động phòng chống, biết cách tự bảo vệ, như hạn chế đi đến vùng có dịch, sử dụng thực phẩm gia cầm sạch, rõ nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Hai là, các cơ quan chức năng (bộ đội biên phòng, hải quan...) tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình nhập khẩu gia cầm, sản phẩm gia cầm qua biên giới; thực hiện tốt việc giám sát người tại cửa khẩu và khu vực biên giới nhằm sàng lọc và phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ nhiễm cúm A(H7N9) thông qua sử dụng máy đo thân nhiệt từ xa.

Ba là, ngành y tế xây dựng, phổ biến các tình huống (trước, trong và sau) khi dịch cúm A(H7N9) xâm nhập vào nước ta; tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ y tế hệ điều trị; chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết để sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu và điều trị bệnh nhân; phối hợp chặt chẽ với WHO và các tổ chức quốc tế để chia sẻ thông tin về tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng chống dịch.

III. TIN THẾ GIỚI

1. Một số nét chính trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam

Quan hệ Việt Nam và Nhật Bản: từ ngày 28/02 đến ngày 05/3/2017, Nhà Vua Nhật Bản A-ki-hi-tô và Hoàng hậu đã tới Việt Nam trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước. Đây là chuyến thăm đầu tiên (trong lịch sử quan hệ hai nước) của một vị Vua Nhật Bản tới Việt Nam.

Hai bên cùng chia sẻ việc hai nước từng có sự giao lưu lịch sử, nhiều nét tương đồng về văn hóa, như trồng lúa nước, nuôi tằm, dệt vải và đều yêu chuộng hòa bình cần phải giữ gìn, thúc đẩy; nhất trí cho rằng, các nước trên thế giới cần quan tâm hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sức khỏe và đời sống của người dân, chú trọng giáo dục - đào tạo để phát triển đất nước… Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam, Nhà vua Nhật Bản và Hoàng hậu đã tiếp nhân viên tình nguyện của Văn phòng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA); gặp gỡ cán bộ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam; giao lưu với các cựu sinh viên Việt Nam từng học tập tại Nhật Bản; gặp cộng đồng người Nhật tại Việt Nam; gặp gia đình các cựu binh Nhật đang sống tại Việt Nam; thăm Bảo tàng Sinh học (Đại học Khoa học tự nhiên-Đại học Quốc gia Hà Nội); thăm di tích Đại Nội và nghe Nhã nhạc cung đình Huế tại Duyệt Thị Đường (khu di tích cố đô Huế); thăm Nhà lưu niệm Phan Bội Châu... Nhà vua và Hoàng hậu Nhật Bản xúc động trước sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đồng thời cảm ơn tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với Nhật Bản thông qua việc bảo tồn và giữ gìn các di tích và kiến trúc của Nhật Bản tại Hội An, sự hỗ trợ của nhân dân Việt Nam trong việc khắc phục hậu quả động đất sóng thần tại Nhật Bản năm 2011.

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Nhà vua Nhật Bản và Hoàng hậu là một sự kiện quan trọng; thể hiện tình cảm và sự quan tâm của Nhật Bản đối với đất nước và nhân dân Việt Nam. Qua đó góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Nhật Bản, tăng cường sự hiểu biết giữa hai dân tộc, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước.

- Quan hệ Việt Nam và Lào: Chủ tịch Quốc hội nước CHDC Nhân dân Lào P.Y-a-tho-tu thăm chính thức Việt Nam từ ngày 05 đến 10/3/2017. Hai bên nhất trí tiếp tục duy trì trao đổi thường xuyên các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước và tăng cường trao đổi các đoàn học tập kinh nghiệm giữa các bộ, ngành, địa phương hai nước; tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp để kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước; phối hợp thực hiện có hiệu quả các, chương trình, kế hoạch hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, hợp tác giáo dục....; thống nhất, Lễ khánh thành Khu di tích lịch sử Cách mạng Việt Nam-Lào tại tỉnh Sơn La. Đây là hoạt động có ý nghĩa chính trị quan trọng, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục truyền thống, quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam​-Lào cho thế hệ trẻ hai nước; phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế, khu vực, các cơ chế hợp tác tiểu vùng. Trong khuôn khổ chuyến thăm, Chủ tịch Quốc hội hai nước đã ký Thỏa thuận hợp tác hai Quốc hội giai đoạn 2017-2021; Văn phòng Quốc hội hai nước ký kết Thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2017-2021.

Chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội nước CHDC Nhân dân Lào đến Việt Nam đã góp phần tăng cường tình đoàn kết đặc biệt, quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai Quốc hội Lào​-Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả hơn.

2. Một số dư luận, thông tin báo chí nước ngoài về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (từ ngày 12- 15/01/2017) đã nhận được sự quan tâm của nhiều hãng thông tấn báo chí và chính giới ngoại giao của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước trong khu vực:

- Dư luận ngoại giao đoàn tại Việt Nam và Trung Quốc hết sức quan tâm theo dõi chuyến thăm. Nhiều đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội, như Nhật Bản, Mỹ, Anh, Úc, Xinh ga-po, Pháp…, bày tỏ quan tâm và đề nghị được trao đổi trực tiếp với Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao về chuyến thăm. Đánh giá cao kết quả tích cực của chuyến thăm, các nước Mỹ, Úc, Anh, Xinh-ga-po mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ với Việt Nam trong thời gian tới; tại Trung Quốc, đại sứ, đại diện lâm thời nhiều nước (Ấn Độ, Mỹ, Bru- nây, Mi-an-ma, Anh, Nga, Nhật Bản, Xinh-ga-po) đã gặp cán bộ Đại sứ quán ta, thể hiện mong muốn ta chia sẻ thông tin về kết quả chuyến thăm, nhất là về quan hệ chính trị giữa hai Đảng, hai nước (Việt Nam - Trung Quốc), quan hệ kinh tế-thương mại Việt - Trung, vấn đề Biển Đông, sáng kiến "Một vành đai, một con đường"…

Một số hãng thông tấn, báo chí, trang mạng lớn của các nước Nhật Bản, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Cu-ba, báo chí Mỹ La-tinh đưa nhiều tin, bài về chuyến thăm, trong đó phân tích, bình luận tập trung vào các vấn đề chính, như: Về quan hệ hai nước, hãng tin Sputnik (Nga)Báo chí Mỹ La-tinh, Cu ba bình luận và đưa nhiều tin sâu về chuyến thăm và các hoạt động trong chuyến thăm. Vấn đề Biển Đông, trang tin Globalnations.inquirer.net (Phi-lip-pin), hãng tin Gi-gi, báo Mainichi Shimbun (Nhật Bản), hãng tin Reuters đều đưa ra nhận xét Thông cáo chung của chuyến thăm là lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam vẫn luôn luôn nhấn mạnh đến "quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai láng giềng",...Về quan hệ đối ngoại của Việt Nam, nhiều hãng tin, báo chí (hãng tin Gi-gi - Nhật Bản, Thời báo Eo biển - Xinh-ga-po, Tờ The Diplomat, trang tin Bloomberg - Mỹ) đều bình luận cho rằng Việt Nam đang thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc trong bối cảnh bức tranh chính trị thế giới và khu vực nảy sinh những yếu tố khó lường. Báo Straittimes (Xinh-ga-po) và trang tin Bloomberg (Mỹcùng có các bài viết nhận định Việt Nam đang có những bước đi thắt chặt các mối quan hệ với Trung Quốc khi quan hệ Mỹ và Phi-líp-pin có sự thay đổi. Báo Kinh tế Hàn Quốc nhận định chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, cùng với chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật, cho thấy cuộc chiến ngoại giao Trung - Nhật lấy Đông Nam Á làm đối tác đang trở nên kịch liệt… Một số tin, bài bình luận của báo chí các nước (Nga, Ấn Độ) cho rằng Trung Quốc lo ngại về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đang ấm lên. Do vậy, Trung Quốc sẽ sử dụng chuyến thăm này để gây sức ép lên Việt Nam, không để Việt Nam sưởi ấm quan hệ với Ấn Độ.

- Các đài, trang tin tiếng Việt (VOA, BBC, RFA...) bên cạnh việc đưa lại tin về các hoạt động của Tổng Bí thư còn đăng tải nhiều bài viết mang tính suy diễn với ý đồ xấu, cho rằng các văn kiện thỏa thuận trong chuyến thăm làm cho Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc. Trang tin Người Việt online (Mỹ), đăng ý kiến bình luận về chuyến thăm của Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, cho rằng chuyến thăm chỉ mang tính xã giao, "không có thông điệp gì quan trọng", nằm trong tổng thể quan hệ đối ngoại ở “thế cân bằng, đi dây” của Việt Nam với Mỹ và Trung Quốc…

Đánh giá chung: chuyến thăm được dư luận và báo chí nước ngoài theo dõi sát sao và đánh giá sâu sắc. Các bình luận, nhận định đều cơ bản thuận, không có sai lệch. Một số thông tin, ý kiến trái chiều được đăng tải trên các trang tiếng Việt của đài nước ngoài, song phân tích, bình luận lẻ tẻ, thiếu căn cứ, không có sức thuyết phục cao; về cơ bản không gây được dư luận tiêu cực đối với chuyến thăm.

3. Một số tình hình thế giới đáng chú ý thời gian gần đây

Thông tin Trung Quốc sắp hoàn thành việc xây dựng hơn 20 cấu trúc trên các đảo nhân tạo ở Biển Đông được cho là giống với kho chứa tên lửa đất đối không tầm xa, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình khẳng định:

“Chúng tôi sẽ xác minh thông tin này. Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tuân thủ đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Mọi hoạt động xây dựng, cải tạo tại các cấu trúc thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được sự cho phép của Việt Nam đều là phi pháp. Việt Nam đề nghị các bên liên quan hành xử có trách nhiệm, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, đặc biệt là việc quân sự hóa, đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông”.

Về việc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc ra thông báo chính thức điều chỉnh và áp dụng Quy chế mới về nghỉ đánh bắt cá trên biển, phạm vi áp dụng bao gồm một số vùng biển của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình nhấn mạnh:

“Việt Nam kiên quyết phản đối và bác bỏ Quy chế này của phía Trung Quốc. Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như các quyền hợp pháp đối với các vùng biển của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Quyết định đơn phương này của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, vi phạm các quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam trên các vùng biển của mình; vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các văn bản pháp lý quốc tế liên quan, đi ngược lại tinh thần và lời văn của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), khiến tình hình Biển Đông tiếp tục trở nên phức tạp và căng thẳng”.

Nhân có vụ việc này, các thế lực thù địch tăng cường thông tin xuyên tạc về sự kiện 14/3/1988 (ngày Trung quốc cho lực lượng hải quân đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam), nói xấu Đảng, Nhà nước ta trong việc bảo vệ chủ quyền, kích động người dân đi biểu tình,… đề nghị cấp ủy, chính quyền các cấp tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về chiến lược bảo vệ Tổ quốc nhất là bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới.

Về việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra Báo cáo nhân quyền thường niên 2016: Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình nêu rõ: “Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân. Các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc không ngừng đảm bảo và cải thiện các quyền cơ bản của người dân thời gian qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn, cởi mở và trên tinh thần xây dựng với các nước, trong đó có Hoa Kỳ về những vấn đề còn có sự khác biệt. Đến nay, Việt Nam – Hoa Kỳ đã tiến hành 20 vòng đối thoại song phương thường niên về quyền con người.

Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2016 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuy đã ghi nhận một số thành tựu bảo vệ quyền con người của Việt Nam, nhưng vẫn đưa ra một số nhận định thiếu khách quan, không phản ánh đúng tình hình thực tế tại Việt Nam.

4. Một số thay đổi trong chính sách biển Đông của Tổng thống Phi-líp-pin Đu-Tơ-Tê và tác động của nó tới khu vực

Một số nét thay đổi cơ bản trong chính sách biển Đông của Phi-líp-pin: Tháng 5/2016, ông Đu-tơ-tê chính thức nhậm chức Tổng thống Phi-líp-pin nhiệm kỳ 2016 - 2022. Ngay sau khi điều hành đất nước, Tổng thống Đu-tơ-tê đã có những điều chỉnh chính sách Biển Đông cả về mục tiêu cũng như biện pháp triển khai. Về mục tiêu, Phi-líp-pin theo đuổi việc giữ chủ quyền bằng việc đưa lợi thế về pháp lý, dư luận để đổi lấy quan hệ với Trung Quốc, với toan tính là, việc tạm gác đòi hỏi chủ quyền ở khu vực bãi cạn Sca-bo-râu là “chi phí” nhỏ để đổi lấy lợi ích lớn hơn. Về biện pháp triển khai, Tổng thống Đu-tơ-tê ngầm chấp nhận việc Trung Quốc kiểm soát thực tế ở Sca-bo-râu, nhưng đổi lại ngư dân của Phi-líp-pin được đánh bắt cá bình thường ở khu vực này. Đáp lại, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Đu-tơ-tê (từ ngày 18 - 21/10/2016), Trung Quốc cam kết cho Phi-líp-pin vay khoản tín dụng 9 tỉ USD; hai nước đã ký kết các thỏa thuận hợp tác kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng hơn 15 tỉ USD; ra Tuyên bố chung “tham vấn song phương”. Tổng thống Đu-tơ-tê cho rằng, giảm căng thẳng với Trung Quốc ở Biển Đông sẽ tạo cơ hội hợp tác và làm giảm nguy cơ từ bên ngoài, tạo điều kiện để Phi-líp-pin tập trung vào xử lý các vấn đề trong nước như chống tội phạm ma tuý, tham nhũng và phát triển kinh tế. Ông Đu-tơ-tê đã tránh công khai đề cập đến phán quyết của tòa PCA, coi đó là vấn đề song phương giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc và không nêu vấn đề Biển Đông tại bất cứ diễn đàn quốc tế nào, kể cả  trên diễn đàn ASEAN gần đây.

Dự báo một số tác động tới khu vực: Thứ nhất, sự điều chỉnh chính sách của Tổng thống Đu-tơ-tê sẽ tạo sự dịch chuyển địa - chính trị ở khu vực theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Xu thế tranh chấp chủ quyền biển đảo tại Biển Đông có thể là từng cặp nước liên quan đàm phán, hiệp thương giải quyết. Chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương có thể mất đi tính hợp pháp ở khu vực. Quan hệ Trung Quốc - Phi-líp-pin sẽ đổi từ “đối đầu” sang “đối thoại”, từ căng thẳng sang hòa dịu và sẽ tạo ra hiệu ứng đô-mi-nô ở khu vực. Các nước khác ở khu vực cũng sẽ thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc. Thứ hai, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa Trung Quốc và khu vực ngày càng tăng là nhân tố thúc đẩy các nước khu vực lựa chọn phương thức hợp tác hơn là kiềm chế Trung Quốc. Lợi ích và vai trò của các nước muốn kiềm chế Trung Quốc, tiêu biểu là Mỹ ở Phi-líp-pin sẽ bị thu hẹp. Các nước sẽ phải tính toán lại khía cạnh kiềm chế Trung Quốc trong tổng thể chính sách khu vực của họ.

BBT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

TÀI LIỆU

phục vụ giao ban báo chí quí III-2017

Lượt xem:177 | lượt tải:62

Hướng dẫn số 31-HD/BTGTU

Hướng dẫn công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2018

Lượt xem:262 | lượt tải:0

Công văn số 70-CV/TCTG

phát hành Sổ tay Tuyên giáo 2018

Lượt xem:175 | lượt tải:44

Số 1024 - CV/BTGTU

V/v đăng ký tham gia tập huấn về phương pháp nghiên cứu và biên soạn Lịch sử.

Lượt xem:5800 | lượt tải:0

Công văn số 1025 - CV/BTGTU

V/v tuyên truyền APEC Việt Nam năm 2017

Lượt xem:398 | lượt tải:0

Công văn số 1017-CV/BTGTU

về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền "Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào 2017"

Lượt xem:747 | lượt tải:0

Hướng dẫn số 30-HD/BTGTU

tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga

Lượt xem:736 | lượt tải:0
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập57
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm56
  • Hôm nay1,243
  • Tháng hiện tại54,106
  • Tổng lượt truy cập429,710
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
      Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
      Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
      Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum. Điện thoại: 0260.3862301. Email: phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây