Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 4-2016 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 4-2016

Thứ ba - 29/03/2016 03:09

A. VĂN BẢN MỚI

I. VĂN BẢN CỦA TỈNH

1. Ngày 22-2-2016 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 04-HD/BTGTU về hướng dẫn tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2016. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu

1. Giúp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức đúng tình hình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, của địa phương; nắm vững các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự thống nhất trong toàn Đảng bộ, sự đồng thuận trong toàn xã hội để phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế- xã hội năm 2016 của đất nước, của địa phương.

2. Nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở, tổ chức, doanh nghiệp và người dân hiểu đúng thực chất các sự kiện hội nhập quốc tế, tính cấp bách của việc đẩy mạnh chuẩn bị trong nước cho hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế.

3. Tạo sự phấn khởi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những thành tựu phát triển của đất nước, của địa phương trong năm 2015; củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; cổ vũ hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân phát huy nội lực, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016.

4. Công tác tuyên truyền kinh tế - xã hội cần bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của cấp ủy và chính quyền địa phương; được triển khai tích cực với nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo kết hợp lồng ghép với tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ chính trị của đất nước và địa phương theo tinh thần đổi mới, thiết thực và hiệu quả.

II. Nội dung tuyên truyền

1. Kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2015: Tuyên truyền nêu bật những kết quả phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, của địa phương trong năm 2015. Qua đó, khẳng định bên cạnh những thuận lợi, đất nước ta cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp có hiệu quả của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, kinh tế - xã hội năm 2015 có những biến chuyển tích cực và đạt được những kết quả quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực.

2. Phân tích bối cảnh tình hình của địa phương, trong nước và thế giới năm 2016, chỉ rõ cơ hội, thách thức và dự báo tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế nước ta, đáng chú ý là những tác động sau:

Tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ gia tăng và quyết liệt. Xung đột vũ trang ở nhiều nơi trên thế giới tiếp tục và có xu hướng gia tăng. Khu vực đồng Euro kinh tế phục hồi chậm; khu vực châu Á- Thái Bình Dương và Trung Quốc theo nhiều dự báo tăng trưởng chậm lại. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiếp tục diễn biến gay gắt phức tạp.

Trong nước và địa phương có nhiều thuận lợi từ thành tựu đạt được năm 2015 và thành công của đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XV Đảng bộ tỉnh và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, nhưng chúng ta vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Việc hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng sẽ mở ra cơ hội và không gian phát triển rộng lớn hơn, nhưng thách thức cũng sẽ lớn hơn nhất là cạnh tranh ngày càng gay gắt, ngay cả trên thị trường trong nước.

3. Tuyên truyền về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2016:

3.1. Về tuyên truyền mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước: Bám sát nội dung Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 12, khóa XI, Nghị quyết số 98/2015/QH13 ngày 10-11-2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07-01-2016 của Chính phủ để tuyên truyền. Chú trọng tập trung nêu bật những nội dung sau:

Mục tiêu tổng quát: Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2015, chú trọng cải thiện chất lượng tăng trưởng, bảo đảm phát triển bền vững. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính và xã hội; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tạo sự chuyển biến rõ nét về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Một số chỉ tiêu chủ yếu: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6,7%; Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 10%; Tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu dưới 5%; Tốc độ tăng giá tiêu dùng dưới 5%; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 31% GDP; Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm 1,3-1,5%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 53%; Số giường bệnh trên một vạn dân đạt 24,5 giường; Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 76%; Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 85%; Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41%.

Nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội:

- Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, nhất là khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

- Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quan tâm sửa đổi bổ sung, ban hành mới các luật, pháp lệnh triển khai Hiến pháp năm 2013.

- Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các quy định pháp luật về Ngân sách Nhà nước. Tăng cường quản lý, chống thất thu, nợ đọng thuế.

- Tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành chất lượng các chương trình, dự án, công trình trọng điểm. Xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn đáp ứng yêu cầu đổi mới, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản.

- Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Đổi mới giáo dục và đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm.

- Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

- Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

- Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước về hội nhập quốc tế.

3.2. Về tuyên truyền mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội của địa phương: Bám sát nội dung Kết luận số 02-KL/TU ngày 03-12-2015 của Tỉnh ủy, các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Kon Tum khóa X, kỳ họp thứ 11 về kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và dự toán nâng sách nhà nước năm 2016 của tỉnh, Chương trình hành động của Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ và Hội đồng nhân dân tỉnh về kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016; các nghị quyết, kết luận, chương trình, kế hoạch của cấp ủy, chính quyền cấp huyện và cơ sở về phát triển kinh tế-xã hội năm 2016; các chương trình, kế hoạch  hành động của các ban, ngành để thông tin, tuyên truyền về mục tiêu tổng quát, chỉ tiêu chủ yếu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 của địa phương, cơ sở.

4. Tuyên truyền về việc Việt Nam tham gia Cộng đồng ASEAN; về các hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam đã và sắp ký kết: Việt Nam và Hàn Quốc, Việt Nam và Liên minh kinh tế Á-Âu, Việt Nam và Liên minh châu Âu, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP. Những lợi ích mà các hiệp định thương mại tự do (FTA) mang lại cho Việt Nam cũng như những khó khăn, thách thức mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt…

5. Đẩy mạnh tuyên truyền phong trào thi đua yêu nước. Phát hiện, cổ vũ nhân tố mới và điển hình tiên tiến trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

6. Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tình hình kinh tế - xã hội nước ta, xuyên tạc quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước ta.

III. Tổ chức thực hiện

1. Ban tuyên giáo các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy:

- Tham mưu cho cấp uỷ chỉ đạo công tác quán triệt, tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và của địa phương về phát triển kinh tế - xã hội; phát động phong trào thi đua yêu nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2016 ở địa phương, đơn vị mình; tổ chức và tham gia các cuộc thi tìm hiểu về các bộ luật về lĩnh vực kinh tế - xã hội như: Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Bảo hiểm xã hội…

- Nắm bắt diễn biến và định hướng tư tưởng, tâm trạng cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp, nhân dân trên các mặt của đời sống kinh tế - xã hội; chủ động dự báo những vấn đề tư tưởng nảy sinh trước những tác động của tình hình địa phương, trong nước, khu vực, quốc tế.

- Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện Quyết định 221-QĐ/TW ngày 27/4/2009 của Ban Bí thư về việc ban hành Quy chế phối hợp giữa ban tuyên giáo các cấp với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong việc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề bức xúc của Nhân dân. Xây dựng kế hoạch phối hợp năm 2016.

2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tỉnh:

- Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong mọi lĩnh vực, tạo sự đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, các chương trình phát triển kinh tế- xã hội.

- Tích cực thực hiện và giám sát việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 của các cấp, ngành, địa phương, cơ sở.

3. Sở Thông tin và Truyền thông:

Thường xuyên kiểm tra và đôn đốc các cơ quan báo chí và truyền thông của tỉnh trong việc triển khai nhiệm vụ tuyên truyền về các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 theo các nội dung đã được xác định.

4. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch:

Tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo và hướng dẫn tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ, du lịch, triển lãm, cổ động trực quan… góp phần quảng bá du lịch, thu hút đầu tư  phát triển đất nước, địa phương.

5. Các cơ quan báo chí, truyền thông của tỉnh:

- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016; nâng cao chất lượng các tin, bài phản ánh tình hình triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội và khí thế thi đua lao động sản xuất của các cấp, các ngành, địa phương, cơ sở.

- Cổ vũ, động viên các phong trào thi đua yêu nước trong thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016. Phát hiện, nêu gương các tập thể, cá nhân điển hình, tiên tiến có những sáng kiến hay, kinh nghiệm trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội.

- Chủ động trong thông tin, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, doanh nghiệp, người tiêu dùng và góp phần định hướng tư tưởng, dư luận xã hội trước các tình huống kinh tế - xã hội phức tạp, nhạy cảm.

6. Các sở, ngành, nhất là sở, ngành thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, như: Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động, Thường binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế…

Xây dựng kế hoạch tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 của địa phương, đất nước; định hướng dư luận xã hội và báo chí về các chương trình, dự án, sự kiện liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân.

2. Ngày 11/3/2016, UBND tỉnh ban hành các quyết định thành lập 13 Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh Kon Tum.

Trong đó, Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 01 (gồm các phường Quyết Thắng, Quang Trung, Ngô Mây và các xã Vinh Quang, Ngọk Bay, Kroong thuộc Thành phố Kon Tum) do ông Phan Thanh Minh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Kon Tum làm Trưởng ban; ông Trương Quang Thọ, Phó Chủ tịch HĐND thành phố Kon Tum, làm Phó Trưởng ban và 11 Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 02 (gồm các phường Thắng Lợi, Duy Tân, Thống Nhất, Trường Chinh và các xã Đắk Cấm, Đắk Blà, Đắk Rơ Wa thuộc Thành phố Kon Tum) do ông Huỳnh Thanh Lanh, Chủ tịch UBMTTQVN thành phố Kon Tum làm Trưởng ban; ông Trần Thắng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Kon Tum làm Phó Trưởng ban và 11 ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 03 (gồm các phường Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và các xã Chư Hreng, Đoàn Kết, Hòa Bình, Đak Năng và Ia Chim thuộc Thành phố Kon Tum) do ông Phan Văn Thế, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch UBND thành phố Kon Tum làm Trưởng ban; ông Phạm Minh Xem, Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Kon Tum làm Phó Trưởng ban và 11 ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 04 (gồm các xã Đăk La, Hà Mòn, Ngọc Wang, Ngọk Réo, Đăk Ngọk và Đăk Ui thuộc huyện Đăk Hà) do ông Hoàng Nghĩa Trí, Phó Chủ tịch UBND huyện Đăk Hà làm Trưởng ban; ông Nguyễn Văn Bằng, Phó Chủ tịch UBMTTQVN huyện Đăk Hà làm Phó Trưởng ban và 9 Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh Kon Tum tại đơn vị bầu cử số 05 (gồm thị trấn Đăk Hà và các xã Đăk Pxi, Đăk Hring, Đăk Mar, Đăk Long thuộc huyện Đăk Hà) do bà Tô Thị Bình, Phó Chủ tịch HĐND huyện Đăk Hà làm Trưởng ban; bà Phạm Thị Điệp, Phó Trưởng ban Kinh tế - Xã hội, HĐND huyện Đăk Hà làm Phó Trưởng ban và 9 Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 06 (huyện Đăk Tô) do ông Châu Văn Hiệp, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Đăk Tô làm Trưởng ban; ông Ngô Văn Liêm, Phó Chủ tịch UBND huyện Đăk Tô làm Phó Trưởng ban và 9 Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 07 (huyện Tu Mơ Rông) do ông Vương Văn Mười, Phó Chủ tịch UBND huyện Tu Mơ Rông làm Trưởng ban; ông Phạm Thanh Hải, Chánh Thanh tra huyện Tu Mơ Rông làm Phó Trưởng ban và 9 Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 08 (huyện Ngọc Hồi) do ông Mai Văn Hữu, Phó Chủ tịch UBND huyện Ngọc Hồi làm Trưởng ban; ông Phạm Thanh Tâm, Chánh Văn phòng HĐND và UBND huyện Ngọc Hồi, Phó Trưởng ban và 9 Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh đơn vị bầu cử số 09 (huyện Đăk Glei) do ông Đỗ Sum, Phó Chủ tịch UBND huyện Đăk Glei làm Trưởng ban; ông Nguyễn Văn Hạnh, Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Đăk Glei làm Phó Trưởng ban và 9 Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 10 (huyện Sa Thầy) do ông Thiều Quang Văn, Phó Chủ tịch HĐND huyện Sa Thầy làm Trưởng ban; ông A Dao, Chủ tịch UBMTTQVN huyện Sa Thầy làm Phó Trưởng ban và 11 ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 11 (huyện Ia H’Drai) do ông Pờ Ly Hảo, Phó Chủ tịch UBND huyện Ia H’Drai làm Trưởng ban; ông Lương Văn Thám, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Ia H’Drai làm Phó Trưởng ban và 9 Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 12 (huyện Kon Plông) do ông Đặng Thanh Nam, Phó Chủ tịch UBND huyện Kon Plông làm Trưởng ban; ông Trương Đức Tần, Phó Chủ tịch HĐND huyện Kon Plông làm Phó Trưởng ban và 11 Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu HĐND tỉnh tại đơn vị bầu cử số 13 (huyện Kon Rẫy) do ông Võ Văn Lương, Phó Chủ tịch UBND huyện Kon Rẫy làm Trưởng ban; ông Huỳnh Minh Trung, Phó Chủ tịch UBMTTQVN huyện Kon Rẫy làm Phó Trưởng ban và 10 Ủy viên.

3. Ngày 11/3/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định 216, 217/QĐ-UBND thành lập Ban bầu cử đại biểu Quốc hội tại đơn vị bầu cử số 01 và số 02. Theo đó:

Ban bầu cử đại biểu Quốc hội tại đơn vị bầu cử số 01 (gồm thành phố Kon Tum và các huyện Kon Plông, Kon Rẫy, Sa Thầy, Ia H'Drai) do ông Lại Xuân Lâm, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban; ông Nguyễn Thành Trung, Phó Giám đốc Sở Nội vụ làm Phó Trưởng ban và 13 Ủy viên gồm: Bà Y Phương, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Ủy viên; Ông Đào Duy Thế, Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, Ủy viên; Ông Phan Văn Thế, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch UBND thành phố Kon Tum; Ông Nguyễn Ngọc Sâm, Chủ tịch UBND huyện Sa Thầy; Ông Huỳnh Minh Chương, Chủ tịch UBND huyện Kon Rẫy; Ông Nguyễn Văn Lân, Chủ tịch UBND huyện Kon Plông; Nguyễn Văn Lộc, Chủ tịch UBND huyện Ia H’Drai; Ông Nguyễn Văn Quế, Trưởng phòng Nội vụ thành phố Kon Tum; Ông Giả Tấn Đạt, Trưởng phòng Nội vụ huyện Sa Thầy; Ông Nguyễn Công Quang, Trưởng phòng Nội vụ huyện Kon Rẫy; Ông Trần Ngọc Hưởng, Trưởng phòng Nội vụ huyện Kon Plông; Ông Trần Nam Bộ, Trưởng phòng Nội vụ huyện Ia H’Drai và ông Nguyễn Trọng Tâm, Phó trưởng phòng phụ trách Phòng Xây dựng chính quyền và Công tác thanh niên, Sở Nội vụ. 

Ban bầu cử đại biểu Quốc hội tại đơn vị bầu cử số 02 (gồm các huyện Đắk Hà, Đắk Tô, Tu Mơ Rông, Ngọc Hồi và Đắk Glei) do ông Kring Ba, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh làm Trưởng ban; ông Lê Viết Nam, Phó Giám đốc Sở Nội vụ làm Phó Trưởng ban và 13 Ủy viên gồm: Ông Bùi Duy Chung, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; ông Nguyễn Hữu Thạch, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh; ông Cao Trung Tin, Chủ tịch UBND huyện Đăk Tô; ông A Hơn, Chủ tịch UBND huyện Tu Mơ Rông; ông Trần Văn Chí, Chủ tịch UBND huyện Ngọc Hồi; ông Hoàng Trung Thông, Chủ tịch UBND huyện Đăk Glei; bà Phạm Thị Thương, Phó Chủ tịch UBND huyện Đăk Hà; bà Nguyễn Thị Mai Hương, Trưởng phòng Nội vụ huyện Đăk Hà; ông Trầm Dương Sơn, Trưởng phòng Nội vụ huyện Đăk Tô; ông Phạm Thanh Minh, Trưởng phòng Nội vụ huyện Tu Mơ Rông; bà Y Liên, Trưởng phòng Nội vụ huyện Đăk Glei; ông Phạm Văn Thanh, Trưởng phòng Nội vụ huyện Ngọc Hồi; ông Hoàng Đình Phú, Phó Trưởng phòng Xây dựng chính quyền và Công tác thanh niên, Sở Nội vụ.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội thực hiện theo quy định tại Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân số 85/2015/QH13 ngày 25/6/2015.

4. Ngày 16-3-2016 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 05-HD/BTGTU về hướng dẫn công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2016. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu

- Hoạt động tuyên truyền biển, đảo nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề biển, đảo; các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội có liên quan đến biển, đảo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữ gìn, bồi đắp tình yêu, ý thức trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân đối với biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; khơi dậy và phát huy sức mạnh của đoàn kết dân tộc, tạo chuyển biến trong hành động, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

- Đấu tranh có hiệu quả đối với các hoạt động tuyên truyền của các thế lực cơ hội, thù địch lợi dụng vấn đề biên giới, lãnh thổ làm tổn hại khối đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ đối ngoại truyền thống tốt đẹp của Việt Nam với các nước láng giềng.

- Công tác tuyên truyền phải đảm bảo đúng định hướng, chính xác trong việc thông tin; tạo sự thống nhất, tin tưởng, đồng thuận cao trong cán bộ, đảng viên và nhân dân vào các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về biển, đảo. Coi trọng chất lượng, nội dung và sự phù hợp với đặc điểm đối tượng, địa bàn cũng như thời lượng tuyên truyền.

II. Nội dung tuyên truyền

1. Tuyên truyền, quán triệt đầy đủ những nội dung có liên quan đến biển, đảo Việt Nam trong các văn kiện, nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về các vấn đề có liên quan tới biển, đảo như: Kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; nâng cao năng lực thực thi pháp của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biển, đảo.

2. Tiếp tục tuyên truyền những cơ sở, chứng cứ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; các quy định của pháp luật trong nước, các nước trong khu vực Biển Đông và quốc tế về biển, đảo; các văn bản, thỏa thuận song phương và đa phương giữa Việt Nam với các quốc gia, các tổ chức quốc tế có liên quan tới biển, đảo Việt Nam.

3. Tuyên truyền về phát triển kinh tế biển, nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Chú trọng tuyên truyền phát triển các ngành công nghiệp dầu khí, đánh bắt xa bờ, kinh tế hằng hải, du lịch biển, đảo.

4. Tuyên truyền về vấn đề biến đổi khí hậu; những cam kết và hành động của Việt Nam đối với hiện tượng biến đổi khí hậu; về tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và bảo vệ an ninh, trật tự an toàn khu vực ven biển và trên vùng biển thuộc chủ quyển, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam.

5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại để bạn bè quốc tế hiểu chính xác, đầy đủ về lập trường chính nghĩa và tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Kịp thời đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề Biển Đông và mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia có liên quan trên Biển Đông.

III. Tổ chức thực hiện

1. Ban Tuyên giáo các huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh.

Tham mưu xây dựng kế hoạch tuyên truyền biển, đảo năm 2016, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị; chủ động nắm bắt diễn biến và định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân xung quanh vấn đề biển, đảo, nhất là công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

2. Sở Thông tin và Truyền thông

Hướng dẫn Cổng thông tin điện tử tỉnh, các tạp chí, bản tin các tạp chí, bản tin và trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố xây dựng các mục tuyên truyền về biển, đảo Việt Nam. Chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí, truyền thông về Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam- Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” được tổ chức tại tỉnh[1].

3. Sở Văn hóa thể thao và Du lịch

Xây dựng kế hoạch tuyên truyền về biển, đảo năm 2016; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thường xuyên có các pano, bảng khẩu hiệu tuyên truyền về chủ đề biển, đảo; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ gắn với các bài hát ca ngợi về biển, đảo của Tổ quốc

4. Báo Kon Tum, Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh

Xây dựng kế hoạch tuyên truyền biển, đảo năm 2016; duy trì và nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền biển, đảo; thường xuyên cập nhật nội dung, đổi mới hình thức, biện pháp tuyên truyền sát thực tiễn.

Đề nghị các địa phương, đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền về biển, đảo năm 2016 và gửi về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy để theo dõi, tổng hợp báo cáo.

5. Ngày 16-3-2016 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 06-HD/BTGTU về hướng dẫn tuyên truyền về công tác biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Lào, Việt Nam-Campuchia năm 2016. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu

- Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về kết quả công tác quản lý biên giới, tăng dày tôn tạo hệ thống mốc quốc giới và phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam– Campuchia đến các tầng lớp nhân dân trong tỉnh; qua đó khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xác định được đường biên giới trên đất liền với hệ thống mốc giới hiện đại giữa nước ta với các nước có chung đường biên giới, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân, của các cấp, các ngành, địa phương trong tỉnh tích cực tham gia bảo vệ, giữ gìn hệ thống mốc giới quốc gia.

- Công tác tuyên truyền phải tạo sự thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên và toàn xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác biên giới trên đất liền; bảo đảm sự chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ trong toàn lực lượng; thông tin phải kịp thời, chính xác, đầy đủ tới các đối tượng cần tuyên truyền, nhất là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm và các tình huống đột xuất; bảo đảm để thông tin đến được với các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là với nhân dân khu vực biên giới; chú trọng sử dụng các phương tiện truyền thông, ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc thiểu số để tuyên truyền tới nhiều đối tượng khác nhau.

II. Nội dung tuyên truyền

Thực hiện tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, tuyên truyền về công tác biên giới trên đất liền cần được tiến hành một cách bài bản, đồng bộ; thông tin chính xác, có tính thuyết phục cao nhằm tạo sự thống nhất trong toàn Đảng, sự đồng thuận cao trong xã hội, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhân dân các nước có chung đường biên giới và cộng đồng quốc tế đối với quan điểm, chủ trương của Việt Nam về vấn đề biên giới trên đất liền. Cụ thể như sau:

1. Đối với tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc

- Tiếp tục tuyên truyền về kết quả, ý nghĩa lịch sử của việc hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam- Trung Quốc và giá trị của việc xây dựng, quản lý đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển giữa hai nước; nội dung các văn kiện pháp lý song phương về biên giới Việt Nam- Trung Quốc và yêu cầu, nhiệm vụ của công tác quản lý biên giới trong giai đoạn hiện nay.

- Tiếp tục đấu tranh, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, luận điệu xuyên tạc, sai sự thật về vấn đề biên giới và quan hệ Việt Nam- Trung Quốc. Tăng cường thông tin tuyên truyền nhằm củng cố lòng tin và xây dựng, bồi đắp mối quan hệ hữu nghị giữa hai Đảng, hai nhà nước. 

2. Đối với tuyến biên giới Việt Nam – Lào

- Tiếp tục tuyên truyền về tầm quan trọng, ý nghĩa lịch sử của việc hoàn thành công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới trên biên giới đất liền đối với cả hai quốc gia Việt Nam và Lào trong bối cảnh hiện nay. Tuyên truyền về ý nghĩa, lợi ích của việc xây dựng và quản lý biên giới hòa bình, hữu nghị với bảo đảm an ninh biên giới, phát triển kinh tế- xã hội khu vực vùng biên; tập trung quán triệt, tuyên truyền nội dung các văn bản pháp lý song phương về biên giới mới được ký kết giữa hai nước.

- Tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân hai bên biên giới thực hiện nghiêm thỏa thuận giữa Chính phủ hai nước về việc di cư tự do và kết hôn không giá thú. Khuyến khích, động viên, nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong bảo vệ đường biên, mốc giới và an ninh, trật tự khu vực biên giới.

- Đẩy mạnh các nội dung tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở cả hai biên giới tích cực tham gia các hoạt động cụ thể, thiết thực, có ý nghĩa nhằm bảo vệ, giữ gìn, củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào. Khẳng định sự quan tâm, ủng hộ, tình cảm gắn bó thủy chung giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân ta với Đảng, Chính phủ và nhân dân các bộ tộc Lào.

- Tuyên truyền, biểu dương các đơn vị, cá nhân có thành tích trong công tác vận động quần chúng nhân dân bảo vệ an ninh biên giới, chống các hoạt động vi phạm pháp luật trên biên giới của các đơn vị, địa phương ở khu vực biên giới; các hoạt động giao lưu, hợp tác giữa tỉnh Kon Tum với các tỉnh Nam Lào trên các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh, quốc phòng…

3. Đối với tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia

- Tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Tuyên truyền củng cố niềm tin, tình đoàn kết, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao của đội ngũ chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín tại địa phương đối với các hoạt động quản lý, bảo vệ đường biên, mốc giới theo quy định của pháp luật. Ủng hộ các hoạt động gắn kết giữa nhân dân và chính quyền khu vực biên giới hai nước.

- Tuyên truyền về quan hệ giữa hai nước Việt Nam- Campuchia, giữa tỉnh Kon Tum với tỉnh Ratanakiri Vương quốc Campuchia về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh và quốc phòng; tích cực biểu dương những tập thể cá nhân có thành tích trong việc giữ gìn, tôn tạo, bảo vệ đường biên, mốc giới.

- Chủ động đấu tranh với  các quan điểm, thông tin và hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, biên giới, lãnh thổ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân và mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam- Campuchia.

III. Tổ chức thực hiện

1. Ban Tuyên giáo các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh: Tham mưu xây dựng kế hoạch tuyên truyền, gắn công tác tuyên truyền về biên giới trên đất liền với tuyên truyền biển, đảo, công tác thông tin đối ngoại và với  việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị năm 2016.

2. Các ban, ngành, đoàn thể cấp huyện, các xã biên giới thuộc các huyện Đăk Glei, Ngọc Hồi, Sa Thầy, Ia H’Drai chủ động nắm thông tin, phân tích và tổng hợp tình hình, diễn biến trong xã hội và tâm trạng nhân dân về các vấn đề có liên quan đến công tác biên giới. Kịp thời có điều chỉnh về phương pháp tiếp cận và giải quyết các vấn đề nhạy cảm về công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa và an ninh biên giới.

3. Sở Thông tin và Truyền thông hướng dẫn Cổng thông tin điện tử tỉnh, các tạp chí, bản tin các tạp chí, bản tin và trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tích cực thông tin tuyên truyền  về vấn đề biên giới trên đất liền.

4. Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch xây dựng kế hoạch triển khai công tác tuyên truyền cổ động trực quan, thông tin lưu động, giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao với các nước láng giềng có chung đường biên giới với tỉnh Kon Tum.

5. Ban chỉ đạo phân giới cắm mốc của tỉnh, thường xuyên tổng hợp, cung cấp thông tin các vấn đề liên quan đến công tác biên giới giữa tỉnh Kon Tum với các tỉnh của Lào và Campuchia có chung đường biên giới để Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy định hướng các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng tuyên truyền của tỉnh tổ chức công tác tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

6. Các cơ quan báo chí của tỉnh chủ động tuyên truyền về công tác biên giới trên đất liền năm 2016. Báo Kon Tum, Đài Phát thanh- Truyền hình tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục về chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.

Đề nghị các địa phương, đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền về công tác biên giới trên đất liền năm 2016 và gửi về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy để theo dõi, tổng hợp báo cáo.

6. Ngày 18-3-2016, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Công văn số 91-CV/TU về việc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống hạn hán năm 2016. Công văn nêu:

Thời gian qua, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng thời tiết nắng nóng, hạn hán kéo dài, gây thiếu nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của Nhân dân. Các cấp, các ngành, địa phương đơn vị trên địa bàn tỉnh đã chủ động thực hiện nhiều biện pháp phòng, chống hạn hán có hiệu quả, được Nhân dân đồng tình ủng hộ. Theo dự báo của các cơ quan khí tượng thủy văn, trong thời gian tới tình hình khô hạn còn tiếp tục kéo dài, nguy cơ hạn hán, thiếu nước trên diện rộng sẽ xảy ra gay gắt hơn, ngày 16-3-2016 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 240/QĐ-UBND công bố thiên tai hạn hán cấp độ 1 xảy ra trên địa bàn tỉnh.

Tại Hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy tháng 3-2016 (họp ngày 17-3-2016), sau khi nghe đại diện Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo tình hình hạn hán và qua xem xét nội dung đề nghị của Ban cán sự đảng UBND tỉnh tại Tờ trình số 44-TTr/BCS ngày 16-3-2016, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu: (1). Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả nội dung Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 04-02-2016 của Thủ tướng Chính phủ "Về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, xâm nhập mặn"; Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Thông báo số 36/TB-VPCP ngày 25-02-2016 của Văn phòng Chính phủ; Công văn số 86-CV/TU ngày 07-3-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tăng cường công tác phòng, chống hạn hán; Chỉ thị 03/CT-UBND ngày 01-3-2016 của Chủ tịch UBND tỉnh "Về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống hạn trên địa bàn tỉnh Kon Tum". (2). Các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các thành viên Tổ Tỉnh ủy viên khóa XV phụ trách các huyện, thành phố tăng cường xuống địa bàn các huyện, thành phố được phân công phụ trách để tập trung lãnh đạo, kiểm tra, theo dõi, bám nắm tình hình và trực tiếp chỉ đạo có hiệu quả công tác phòng, chống hạn hán (thực hiện đến hết tháng 5-2016). (3). Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh: (a) Phân công các đồng chí thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh, lãnh đạo các sở, ngành, địa phương, đơn vị trực thuộc thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và chỉ đạo xử lý kịp thời các vấn đề có liên quan đến công tác phòng, chống hạn hán. (b) Ban hành và công bố định mức hỗ trợ diện tích lúa, hoa màu... bị thiệt hại do hạn hán trên địa bàn tỉnh để Nhân dân biết, thực hiện; tiếp tục huy động và ưu tiên phân bổ, hướng dẫn, giám sát việc sử dụng kinh phí phòng, chống hạn hán của các địa phương, đơn vị. (4). Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh phát động, chỉ đạo và huy động tối đa lực lượng đoàn viên thanh niên, hội viên của tổ chức mình tích cực tham gia cùng cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước sinh hoạt và công tác phòng chống cháy rừng trên địa bàn tỉnh. (5). Ban Chỉ đạo 04 của Tỉnh ủy: (a) Chỉ đạo các cơ quan nhận kết nghĩa xây dựng xã theo Nghị quyết 04 của Tỉnh uỷ (khoá XIII) cử cán bộ xuống xã để phối hợp kiểm tra, nắm bắt tình hình hạn hán và việc thiếu nước sinh hoạt của nhân dân, chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền xã xử lý có hiệu quả công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước sinh hoạt. (b) Định kỳ hàng tuần (trước 10 giờ 30 ngày thứ năm) tổng hợp báo cáo Thường trực Tỉnh ủy tình hình và kết quả khắc phục hạn hán trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn. (6). Ban Thường vụ các huyện ủy, thành ủy chỉ đạo toàn diện và huy động toàn bộ hệ thống chính trị của địa phương mình khẩn trương thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước sinh hoạt và công tác phòng chống cháy rừng; định kỳ hàng tuần (trước 10 giờ 30 ngày thứ năm) báo cáo tình hình và kết quả khắc phục hạn hán, phòng chống cháy rừng trên địa bàn huyện, thành phố để Thường trực Tỉnh ủy biết, chỉ đạo. (7). Trong thời gian từ nay đến hết mùa khô năm 2016 (hết tháng 5-2016), các đồng chí Tỉnh ủy viên; người đứng đầu các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị: (a) Hạn chế đi công tác ngoài tỉnh để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống hạn hán, phòng chống cháy rừng và triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. (b) Phân công cấp phó đi dự các hội nghị, cuộc họp do các cơ quan Trung ương tổ chức (trừ trường hợp được Thường trực Tỉnh ủy hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh đồng ý bằng văn bản). (8). Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh chuẩn bị và có kế hoạch huy động tối đa lực lượng, phương tiện của đơn vị mình để tham gia thực hiện công tác phòng, chống hạn hán, phòng chống cháy rừng khi có yêu cầu của cấp có thẩm quyền. (9). Nhận được Công văn này, đề nghị các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị nghiêm túc thực hiện; kịp thời báo cáo, đề xuất Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo xử lý những vấn đề liên quan đến công tác phòng, chống hạn, thiếu nước sinh hoạt, phòng chống cháy rừng và các vấn đề phát sinh có liên quan đến cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn tỉnh.

7. Ngày 22-3-2016, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 05-CT/TU về việc tăng cường lãnh đạo công tác quản lý, sử dụng phương tiện, tài sản nhà nước trên địa bàn tỉnh.

Chỉ thị khẳng định: Việc triển khai thực hiện Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và các văn bản pháp luật liên quan, trong thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức Đảng trong tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, chế độ báo cáo, đăng ký tài sản là trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất, đất để xây dựng trụ sở làm việc, xe ô tô các loại và tài sản khác vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước. Qua đó, nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, thủ trưởng các đơn vị, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong việc quản lý, sử dụng phương tiện, tài sản nhà nước, góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Chỉ thị cũng chỉ rõ công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên địa bàn tỉnh vẫn tồn tại một số hạn chế như: Sử dụng tài sản sai mục đích; một số đơn vị chưa phát huy hết tính năng, công dụng, công suất của  phương tiện, thiết bị để phục vụ công tác chuyên môn, gây lãng phí tài sản nhà nước; chưa thực hiện tốt các quy định pháp luật về mua sắm, đầu tư xây dựng, điều chuyển, bán, thanh lý, sửa chữa, bảo dưỡng, đăng ký, kê khai tài sản nhà nước; việc theo dõi hạch toán kế toán, tính hao mòn tài sản nhà nước tại một số đơn vị chưa đúng quy định.

Để khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên, thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định, Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu:

1. Các ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; các huyện ủy, thành ủy; các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Nhà nước đứng chân trên địa bàn tỉnh thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, đồng thời triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng phương tiện, tài sản nhà nước. Chú trọng xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến; kịp thời biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện các quy định trên.

Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc quản lý, sử dụng phương tiện, tài sản nhà nước. Chủ động ngăn ngừa, phát hiện, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Nhà nước phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác quản lý, sử dụng phương tiện, tài sản nhà nước, không sử dụng xe ô tô của cơ quan vào việc riêng sai qui định; lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị không được tự lái xe ô tô của cơ quan.

2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉ đạo, định hướng các cơ quan thông tấn báo chí của địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền các quy định về quản lý, sử dụng phương tiện, tài sản nhà nước, về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; hướng dẫn việc tuyên truyền, phổ biến Điều 9, Quyết định số 47-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Bộ Chính trị (khóa XI) “về những điều Đảng viên không được làm” đến các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh.

3. Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo:

Tiếp tục quán triệt, phổ biến và triển khai thực hiện có hiệu quả Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; các văn bản pháp luật liên quan về kế toán, thống kê, công khai thông tin, thực hành tiết kiệm chống lãng phí và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Đẩy mạnh công tác kiểm kê, đánh giá tình hình quản lý tài sản nhà nước, nhất là đối với trụ sở làm việc, đất để xây dựng trụ sở làm việc, xe ô tô các loại và các tài sản khác; thống kê danh mục tài sản nhà nước hiện không có nhu cầu sử dụng, hư hỏng không sử dụng được để xây dựng phương án điều chuyển, thanh lý hoặc tiêu hủy theo thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật.

Triển khai thực hiện tốt công tác bảo dưỡng, sửa chữa tài sản nhà nước theo phân cấp quản lý ngân sách và dự toán chi ngân sách hàng năm đã được cấp có thẩm quyền giao.

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các sai phạm trong công tác đầu tư, mua sắm, điều chuyển, bán, thanh lý, thu hồi, thuê, cho thuê, sửa chữa, bảo dưỡng, hoạt động liên doanh, liên kết, sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có liên quan đến tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý.

Nghiêm túc triển khai thực hiện Quyết định số 32/2015/QĐ-TTg, ngày 04-8-2015 của Thủ tướng Chính phủ “quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” và sớm ban hành Quy chế quản lý, sử dụng xe ô tô của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý, đảm bảo việc quản lý, sử dụng xe ô tô theo đúng tiêu chuẩn, định mức quy định của pháp luật. 

4. Đảng ủy Công an tỉnh tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công an các cấp, các lực lượng thuộc thẩm quyền tuần tra, kiểm soát về trật tự an toàn giao thông, kịp thời phát hiện và xử lý theo thẩm quyền đối với lái xe vi phạm qui định trật tự an toàn giao thông để xử lý nghiêm theo qui định của pháp luật (đối với trường hợp là cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức trong tỉnh vi phạm qui định trật tự an toàn giao thông khi sử dụng xe ô tô công thì đồng thời thông báo cho lãnh đạo, cấp ủy nơi quản lý cán bộ, công nhân viên chức đó biết để xử lý theo quy định).

5. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy:

5.1. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, kịp thời phát hiện các tổ chức, cá nhân có hành vi tham nhũng, lãng phí trong công tác quản lý, sử dụng phương tiện, tài sản nhà nước; chủ động xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước.

5.2. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc việc thực hiện; định kỳ hằng năm báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy kết quả việc thực hiện Chỉ thị này.

II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG

Thông tư số 22/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 16/02/2016 quy định quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo him bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Thông tư gồm 21 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2016. Một số quy định chủ yếu của Thông tư:

- Mức trách nhiệm bảo hiểm: Là số tiền tối đa doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Cụ thể: (1) Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là 100 triệu đồng/1 người/1vụ tai nạn; (2) Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) gây ra là 50 triệu đồng/1 vụ tai nạn; (3) Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo) gây ra là 100 triệu đồng/1vụ tai nạn.

- Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm: (1) Hợp đồng bảo hiểm chỉ được hủy bỏ trong những trường hợp sau: a) Xe cơ giới bị thu hồi đăng ký và biển số theo quy định của pháp luật; b) Xe cơ giới hết niên hạn sử dụng theo quy định của pháp luật; c) Xe cơ giới bị mất được cơ quan công an xác nhận; d) Xe cơ giới hỏng không sử dụng được hoặc bị phá huỷ do tai nạn giao thông được cơ quan công an xác nhận; (2) Chủ xe cơ giới muốn huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm kèm theo Giấy chứng nhận bảo hiểm và các bằng chứng về việc xe cơ giới thuộc đối tượng được hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Khoản 1 Điều này. Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt từ thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm nhận được thông báo huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm; (3) Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho chủ xe cơ giới 70% phần phí bảo hiểm của thời gian hủy bỏ. Doanh nghiệp bảo hiểm không phải hoàn phí bảo hiểm trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực, nhưng chủ xe cơ giới yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm đã xảy ra sự kiện bảo hiểm và phát sinh trách nhiệm bồi thường bảo hiểm; (4) Trường hợp chủ xe cơ giới không có thông báo về việc huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm, nhưng doanh nghiệp bảo hiểm có những bằng chứng cụ thể về việc xe cơ giới thuộc đối tượng được hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Khoản 1 Điều này, thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thông báo cho chủ xe cơ giới để thực hiện các thủ tục huỷ bỏ hợp đồng. Sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo mà chủ xe cơ giới không thực hiện các thủ tục hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên được hủy bỏ.

- Thời hạn yêu cầu, thanh toán và khiếu nại bồi thường: (1) Thời hạn yêu cầu bồi thường của chủ xe cơ giới là 01 năm kể từ ngày xảy ra tai nạn, trừ trường hợp chậm trễ do nguyên nhân khách quan và bất khả kháng theo quy định của pháp luật; (2) Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn (trừ trường hợp bất khả kháng), chủ xe cơ giới phải gửi thông báo bằng văn bản theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư này và các tài liệu quy định trong hồ sơ yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới cho doanh nghiệp bảo hiểm; (3) Thời hạn thanh toán bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm là 15 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới và không quá 30 ngày trong trường hợp phải tiến hành xác minh hồ sơ; (4) Trường hợp từ chối bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản cho chủ xe cơ giới biết lý do từ chối bồi thường trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường bảo hiểm; (5) Thời hiệu khởi kiện về việc bồi thường bảo hiểm là 03 năm kể từ ngày doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán bồi thường hoặc từ chối bồi thường. Quá thời hạn trên quyền khởi kiện không còn giá trị.

B. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN THÁNG 04-2016

Trong tháng 04-2016, công tác tuyên truyền tập trung vào 02 nội dung trọng tâm sau:

1. Công tác tuyên truyền theo chủ đề, chủ điểm

- Tuyên truyền tình hình nghiên cứu, quán triệt, học tập và các chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng ở các cấp, các ngành.

- Tập trung tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021; về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chuẩn bị, triển khai tổ chức cuộc bầu cử trên địa bàn tỉnh. Tuyên truyền về Kỳ họp Quốc hội khóa XIII và Kỳ họp tổng kết Hội đồng nhân dân tỉnh khóa X, nhiệm kỳ 2011-2016.

- Tiếp tục thông tin về tình hình hạn hán ở tỉnh; tập trung tuyên truyền công tác chỉ đạo phòng, chống hạn hán trên địa bàn tỉnh theo Công văn số 86/CV-TU, ngày 7-3-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tăng cường công tác phòng, chống hạn hán; Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 01-3-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống hạn trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Thông tin nỗ lực của các cấp, các ngành trong công tác chỉ đạo, triển khai các giải pháp ứng phó hạn hán, cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân; Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, các tổ chức, đơn vị và người dân để thay đổi nhận thức được hiện tượng El Nino kéo dài, tình hình hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng để chủ động thực hiện các biện pháp sử dụng tiết kiệm điện, nước.

- Tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh tháng 3 năm 2016; nhiệm vụ trọng tâm tháng 4 năm 2016 theo các chương trình, kế hoạch của chính quyền các cấp.

- Tuyên truyền Lễ tổng kết hoàn thành Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam- Lào, nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiện đối với toàn bộ quá trình phân giới cắm mốc giữa hai nước và quan hệ Việt Nam- Lào.

- Tuyên truyền các ngày kỷ niệm các ngày lễ, ngày kỷ niệm trong tháng 4. Trong đó tuyên truyền đậm nét kỷ niệm 41 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2016); kỷ niệm 130 năm ngày Quốc tế lao động (1/5/1886-1/5/2016); Ngày sách Việt Nam (21-4); kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Hà Huy Tập  (24/4/1906- 24/4/2016).

2. Công tác tuyên truyền thường xuyên

- Tiếp tục tuyên truyền những nội dung cơ bản, những nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu, giải pháp đột phá trong Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh; những thành tựu đạt được về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị và đối ngoại của tỉnh, của đất nước trong thời kỳ đổi mới, nhất là thành tựu sau 25 năm thành lập lại tỉnh; 30 năm đổi mới của đất nước và kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020.

- Tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước; cổ vũ, nhân rộng các tập thể, gương điển hình tiên tiến trên tất cả các lĩnh vực, nhất là trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

- Thường xuyên tuyên truyền việc triển khai thực hiện Kết luận số 1663-KL/TU, ngày 24-4-2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh”; Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17- 4-2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh.

- Tuyên truyền kết quả nổi bật trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, sự quan tâm, hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền các cấp cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa; các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh; về xây dựng nông thôn mới...

- Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. 

- Thường xuyên tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh, phòng chống cháy rừng trong mùa khô; công tác quản lý bảo vệ tài nguyên, khoáng sản; vệ sinh an toàn thực phẩm; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông...

C. TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI THÁNG 3 VÀ ƯỚC QUÝ I-2016

Trong quý I năm 2016, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực: Kinh tế phát triển ổn định; Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 2 tháng đầu năm đạt 269,17 tỷ đồng, đạt 11,4% dự toán; Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I ước tính tăng 3,53% so cùng kỳ; Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ quý I ước tăng 12,56% so cùng kỳ; Tổng kim ngạch xuất khẩu quý I ước đạt 18.524 ngàn USD tăng 74,95%so cùng kỳ; sản phẩm chủ lực của tỉnh được chú trọng đầu tư phát triển; chỉ số giá tiêu dùng ổn định; công tác chống phá rừng, chống cháy, chống khai thác tài nguyên, khoáng sản trái phép, phòng chống các dịch bệnh gây hại... được quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt; các hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi; lĩnh vực giáo dục, y tế tiếp tục có bước phát triển; công tác an sinh xã hội được quan tâm và đạt được nhiều kết quả; quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Cụ thể:

1. Tăng trưởng kinh tế (1)

Trong những tháng đầu năm 2016, kinh tế nước ta nói chung, tỉnh Kon Tum nói riêng diễn ra trong bối cảnh vẫn còn khó khăn. Tuy nhiên, dưới sự giám sát, chỉ đạo điều hành quyết liệt của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự nỗ lực của các cấp, các ngành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tình hình kinh tế trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã đạt được những kết quả tích cực. Kết quả đạt được trên một số lĩnh vực cụ thể như sau:

- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 02 tháng đầu năm đạt 269,17 tỷ đồng, đạt 11,43% dự toán và bằng 93,08% so với cùng kỳ.

- Chi ngân sách địa phương 02 tháng đầu năm đạt 1.006,34 tỷ đồng, đạt 17,84% kế hoạch và bằng 91,34% so với cùng kỳ.

- Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I ước tính tăng 3,53% so cùng kỳ năm trước.

- Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I theo giá so sánh 2010 ước đạt 981.959 triệu đồng, tăng 31,98% so với cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ quý I ước đạt 3.403.875,5 triệu đồng, tăng 12,56% so cùng kỳ.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu quý I ước đạt 18.524 ngàn USD tăng 74,95%so cùng kỳ.

- Tổng kim ngạch nhập khẩu quý I ước đạt  798 ngàn USD giảm 28,75% so cùng kỳ.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2016 đã giảm 0,06% so với tháng trước; tăng 0,69% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,05% so với tháng 12 năm trước; CPI quý I năm 2016 so với cùng kỳ năm trước tăng 0,68%.

2. Thu chi ngân sách

Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 02 tháng đầu năm đạt 269,17 tỷ đồng, đạt 11,43% dự toán và bằng 93,08% so với cùng kỳ; thu từ sản xuất kinh doanh trong nước đạt 255,08 tỷ đồng, đạt 12,63% dự toán; thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 80,08 tỷ đồng bằng 91,79% so với cùng kỳ và đạt 8,72% dự toán.

Chi ngân sách địa phương 02 tháng đầu năm đạt 1.006,34 tỷ đồng, đạt 17,84% kế hoạch và bằng 91,34% so với cùng kỳ. Chi cân đối ngân sách địa phương ước đạt 1.000,699 tỷ đồng, đạt 18,15% kế hoạch, bằng 98,15% so với cùng kỳ, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 30,69% kế hoạch; chi thường xuyên đạt 13,32% kế hoạch.

3. Đầu tư và xây dựng

a) Vốn đầu tư

Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý I năm 2016 là: 1.533.866 triệu đồng, cụ thể như sau:

- Chia theo nguồn vốn

+ Vốn nhà nước trên địa bàn ước thực hiện là: 510.575 triệu đồng, chiếm 33,29% trong tổng số nguồn vốn, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước ước đạt: 284.168 triệu đồng, chiếm 55,66; Trái phiếu chính phủ: 80.770 triệu đồng, chiếm 15,82%; Vốn tín dụng đầu tư phát triển: 32.007 triệu đồng, chiếm 6,27%; Vốn vay từ các nguồn khác: 107.025 triệu đồng, chiếm 20,96%; Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước: 5.100 triệu đồng, chiếm 1,00%; Vốn khác: 1.505 triệu đồng, chiếm 0,29% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn. 

Trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn chia ra: Vốn Trung ương quản lý là: 97.161 triệu đồng, chiếm 19,03% trong tổng số,  trong đó: vốn ngân sách nhà nước đạt 11.210 triệu đồng chiếm 5,97%; Trái phiếu chính phủ: 20.250 triệu đồng, chiếm 30,05% trên tổng số vốn trung ương quản lý; Vốn địa phương quản lý: 413.414 triệu đồng, chiếm 80,97% trong tổng số, trong đó: vốn ngân sách nhà nước đạt 272.958 triệu đồng, chiếm 66,03%; Trái phiếu chính phủ: 60.520 triệu đồng, chiếm 14,64%  trong tổng nguồn vốn do địa phương quản lý. 

Trong tổng số nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý. Chia ra: Vốn Ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt: 208.400 triệu đồng, chiếm 76,35% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông, giáo dục, y tế,  cấp nước sinh hoạt nông thôn, môi trường nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, các thôn đặc biệt khó khăn....; Vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt: 64.108 triệu đồng, chiếm 23,49 % trong tổng số nguồn vốn; Vốn Ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt: 450 triệu đồng, chiếm 0,16% trên tổng số nguồn vốn, trong đó toàn bộ là vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu.

Trong  quý I  năm  2016 nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh như :  Đường giao thông Đăk côi- ĐăkPXy (Km0-39+060); Kè chống sạt lở bờ sông Đăk Bla –Kon Tum; Đường nông thôn liên xã và cầu Đắk Ang, huyện Ngọc Hồi; Đường giao thông Tu Mơ Rông - Ngọc Yêu; đường liên xã Đăk Xú - Plei Kần; Trung tâm dạy nghề huyện ĐakGlei; Cải tạo, sửa chữa Nhà khách Quang Trung, Đường nội bộ văn phòng nhà nghỉ rừng đặc dụng; Bổ sung lưới điện Hà Mòn;  Nhà khách huyện Đắk Hà;  Đường dân sinh thôn Kô Xia 1+2 xã Ngọc Lây, huyện Tu Mơ Rông; Nâng cấp bệnh viện đa khoa Kon Tum từ 400 lên 500 giường;  CBĐT Đường bao quanh khu dân cư phía nam Thành phố Kon Tum; CBĐT  đường bao quanh khu dân cư phía bắc thành phố KonTum; Nâng cấp  Bệnh viện y học cổ truyền  Tỉnh Kon Tum... và một số công trình dự án thuộc  các nguồn vốn chương  trình mục tiêu quốc gia : Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững (Chương trình 30a, Chương trình 135);  nguồn vốn đầu tư theo các chương  trình mục tiêu: Chương trình phát triển kinh tế xã hội các vùng; Chương trình đầu tư phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình mục tiêu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư; Chương trình mục tiêu cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo; Chương trình mục tiêu đầu tư cơ sở hạ tầng khu kinh tế ven biển, khu kinh tế  cửa khẩu, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;  Chương trình mục tiêu đầu tư hệ thống y tế địa phương giai đoạn 2016-2020; Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa; Chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng du lịch; Chương trình mục tiêu quốc phòng an ninh trên địa bàn trọng điểm...

+ Vốn ngoài nhà nước ước thực hiện là: 1.023.066 triệu đồng, chiếm 66,70% trong tổng số nguồn vốn, chia ra: Vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước: 334.387 triệu đồng, chiếm 32,68 % trong tổng số; Vốn đầu tư của dân cư: 688.679 triệu đồng, chiếm 67,32 % tổng nguồn vốn ngoài nhà nước.                                     

+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước thực hiện là: 225 triệu đồng, chiếm 0,01 % trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu vốn tự có của doanh nghiệp FDI.

- Chia theo khoản mục đầu tư:

Vốn đầu tư XDCB: 1.206.926 triệu đồng, chiếm 78,69% trong tổng nguồn vốn. Trong đó vốn xây dựng và lắp đặt ước thực hiện là 988.819 triệu đồng, chiếm  81,93% trong tổng số vốn đầu tư XDCB.

Vốn đầu tư mua sắm TSCĐ dùng cho sản xuất không qua XDCB:  162.285 triệu đồng , chiếm 10,58% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ: 50.620 triệu đồng, chiếm 3,30% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động: 108.968 triệu đồng, chiếm 7,10% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư khác: 5.067 triệu đồng, chiếm 0,33% trong tổng nguồn vốn.

b) Xây dựng

-  Ước thực hiện  giá trị sản xuất quý I năm 2016 ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh KonTum theo giá hiện hành đạt 1.332.126 triệu đồng, tăng 31,98% so cùng kỳ năm trước và bằng 50,01% so với quý trước. Chia ra:

Doanh nghiệp nhà nước đạt 47.000 triệu đồng, chiếm 3,52% trong tổng GTSX, tăng 1,92% so với cùng kỳ năm trước và bằng 62,3% so với quý trước

Doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 723.120 triệu đồng, tăng 38,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 35,59% so với quý trước.

Các loại hình khác (Hộ dân cư và xã/phường/thị trấn) đạt 562.006 triệu đồng, tăng 27,94% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,96% so với quý trước. Chia ra: Xã, phường/thị trấn đạt 23.028 triệu đồng, tăng 15,11% so với cùng kỳ năm trước và bằng 37,2% so với quý trước; Hộ dân cư đạt 538.978 triệu đồng, tăng 28,44% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,94% so với quý trước.

- Ước thực hiện giá trị sản xuất quý I năm 2016 ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh KonTum theo giá so sánh 2010  đạt  981.959 triệu đồng, tăng 31,98% so với cùng kỳ năm trước và bằng 50,05% so với quý trước Chia ra:

Doanh nghiệp nhà nước đạt 34.645 triệu đồng, chiếm 3,52% trong tổng GTSX, tăng 1,92% so với cùng kỳ năm trước và bằng 62,35 % so với quý trước.

Doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 533.038 triệu đồng, tăng 38,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 35,62% so với quý trước.

Các loại hình khác (Hộ dân cư và xã/phường/thị trấn) đạt 414.276 triệu đồng, tăng 27,94% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,04 % so với quý trước. Chia ra: Xã, phường/thị trấn đạt 16.975 triệu đồng, tăng 15,21% so với cùng kỳ năm trước và bằng 37,23% so với quý trước; Hộ dân cư đạt 397.301 triệu đồng, tăng 28,55% so với cùng kỳ năm trước và tăng 9,03% so với quý trước.

GTSX ước thực hiện quý I năm 2016 tăng so cùng kỳ năm trước là do trong quý các đơn vị hoạt động xây lắp vẫn đang tiếp tục triển khai thi công các công trình trọng điểm của tỉnh chuyển tiếp từ năm 2015 có vốn đầu tư cao và một số công trình thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh; dự án đầu tư tại các địa bàn huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a, các xã biên giới, vùng sâu, vùng xa, các xã trọng điểm đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư phục vụ mục tiêu an sinh xã hội; dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, phục vụ sản xuất, dân sinh...,  sửa chữa thường xuyên các quốc lộ và các tỉnh lộ, xây dựng công trình thuỷ lợi, kiên cố hoá kênh mương, sửa chữa nâng cấp và xây mới các hồ chứa nước, xây dựng trường học, bệnh viện, trụ sở cơ quan, nhà ở dân cư …         

Các loại hình kinh tế khác (Hộ dân cư và xã/phường/thị trấn) trong quý I năm 2016 hoạt động xây dựng chủ yếu do hộ dân cư đầu tư xây dựng mới nhà cửa, sửa chữa nhà ở và các công trình liên quan (sân, tường rào, nhà kho, các công trình khác…). Các đơn vị xã, phường thực hiện thi công các công trình giao thông nông thôn, đường liên xã, liên thôn, các loại nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết và nhà văn hoá, nhà rông …

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp:

- Tính đến thời điểm ngày 15/3/2016 tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm vụ Đông xuân 2015 - 2016 tỉnh Kon Tum là: 10.806 ha, giảm 0,3% (-36 ha) so với cùng kỳ vụ Đông xuân 2014 - 2015.

Cây lúa DTGT: 7.394 ha, giảm 1,02% (-76 ha) so cùng kỳ vụ Đông xuân 2014 - 2015.

Cây ngô DTGT: 623 ha, tăng 3,49% (+21 ha) so cùng kỳ vụ Đông xuân 2014 - 2015.

Cây mía: DTGT mía toàn tỉnh là: 1.698 ha, tăng 0,18% (+3 ha) so cùng kỳ năm trước.

Rau các loại DTGT: 936 ha, giảm 0,32% (-3 ha) so cùng kỳ năm trước.

Đậu các loại DTGT:  71 ha, tăng 1,43% (+1 ha) so cùng kỳ năm trước.

+ Tình hình hạn hán: Tình hình nắng nóng, khô hạn hiện nay dự báo có thể kéo dài đến cuối vụ Đông Xuân 2015 - 2016; hạn hán sẽ xảy ra trên diện rộng, gây thiếu nước sản xuất, nước sinh hoạt nghiêm trọng và nguy cơ cháy rừng cao, do nguồn nước đến các sông, suối bị cạn kiệt. Tính đến ngày 14/3 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra khô hạn, thiếu nước tại một số khu vực với diện tích 1.192,69 ha gồm: 756,49 ha lúa, 427 ha cà phê, 03 ha bời lời, 05 ha rau màu, 1,2 ha hồ tiêu, có 04 công trình nước tự chảy nguồn nước đầu mối cạn kiệt, suy giảm không đủ cấp nước cho các hộ dân thuộc xã Tu Mơ Rông và Văn Xuôi, huyện Tu Mơ Rông; có khoảng 4.102 giếng nước bị khô hạn, thiếu nước. Số diện tích có khả năng mất trắng khoảng 390 ha lúa (hầu hết thuộc các đập dâng và khe suối do người dân canh tác, nguồn nước cạn kiệt nên không có nguồn nước để bơm phục vụ tưới chống hạn).

+ Công tác phòng, chống hạn: Hiện nay UBND các huyện, thành phố đã chỉ đạo UBND các xã, phường phối hợp với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi lập phương án bơm chống hạn, vận hành các công trình thuỷ lợi để điều tiết và phân phối nước luân phiên. Số diện tích đang được bơm chống hạn là 179,6 ha, số diện tích này đã phục hồi và vẫn tiếp tục bơm duy trì để phòng chống hạn. Bên cạnh đó UBND các xã, phường phối hợp với trạm thuỷ nông và các trạm bơm trên địa bàn hướng dẫn người dân thực hiện tốt công tác tưới tiêu đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả; lấy nước đúng theo lịch tưới của trạm quản lý thuỷ nông. Tận dụng tối đa dung tích chết của lòng hồ, sông, suối, các hợp thuỷ trong khu tưới để chống hạn bằng biện pháp như bơm trực tiếp, đào hố trữ nước,... để dẫn nước vào khu tưới tiêu. Nạo vét kênh mương nội đồng, đồng thời tổ chức tuyên truyền, vận động Nhân dân nắm bắt tình hình diễn biến thời tiết khô hạn, thiếu nước trong mùa khô, nâng cao ý thức sử dụng nước tiết kiệm nước.

+ Tình hình dịch bệnh, sâu hại trên cây trồng:

Do tình trạng nắng hạn nên một số diện tích nhỏ lẻ đã xảy ra sâu bệnh cục bộ trên một số diện tích lúa nước khô hạn, thiếu nước, chân ruộng phèn chua như: bệnh vàng lá, khô đầu lá, bệnh tuyến trùng hại rễ, nghẹt rễ sinh lý. Hiện đã được các Trạm Bảo vệ thực vật thông báo hướng dẫn biện pháp phòng trừ kịp thời.

- Ước đến thời điểm ngày 31/3/2016 tổng DTGT cây hàng năm vụ Đông xuân 2015 - 2016 tỉnh Kon Tum là: 11.049 ha, giảm 2,2% (-246 ha) so với chính thức vụ Đông xuân 2014 - 2015.

Cây lúa DTGT: 7.474 ha, giảm 1,5% (-112 ha) so chính thức vụ Đông xuân 2014 - 2015.

Cây ngô DTGT: 757 ha, giảm 4,7% (-37 ha) so chính thức vụ Đông xuân 2014 - 2015.

Cây mía: DTGT mía toàn tỉnh là: 1.698 ha, giảm 6,5% (-118 ha) so chính thức năm trước.

Các loại cây trồng trên do không chủ động được nguồn nước ngay từ đầu vụ, tình hình thời tiết khô hạn nên không xuống giống được vì vậy diện tích gieo trồng ước tính giảm so với chính thức vụ Đông xuân 2014 - 2015.

Rau các loại DTGT: 936 ha, tăng 1,1% (+10 ha) so chính thức năm trước.

Đậu các loại DTGT: 77 ha, tăng 2,7% (+2 ha) so chính thức năm trước.

Sản lượng cao su ước đến 31/3/2016 đạt 3.100 tấn.

- Trong quý I năm 2016 trên địa bàn tỉnh xuất hiện 02 ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 (từ ngày 06 - 09/01/2016 tại hai hộ chăn nuôi thuộc xã Đắk Kan, huyện Ngọc Hồi và từ ngày 09 - 13/01/2016 tại một hộ chăn nuôi thuộc xã Đăk Ngọc, huyện Đăk Hà); tổng số gia cầm bệnh: 2.184 con (1.710 con gà,  474 con vịt, ngan); số gia cầm chết: 1.495 con (1.100 con gà, 395 con vịt, ngan); số tiêu hủy: 3.144 con gia cầm (2.280 con gà, 864 con vịt, ngan). Toàn bộ số gia cầm mắc bệnh nêu trên đều chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh cúm; đây là ổ dịch cúm có chủng vi rút lần đầu xuất hiện tại ổ dịch trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

b) Lâm nghiệp

- Tính đến thời điểm 15/3/2016, công tác trồng rừng tập trung chưa tiến hành.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã vào mùa khô. Các ngành chức năng đã có kế hoạch chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong các tháng cao điểm mùa khô, thông báo cấp dự báo cháy rừng định kỳ 10 ngày/lần đến các Ban Chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng các huyện, thành phố và chủ rừng trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cho người dân địa phương, nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng.

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng phá rừng làm nương rẫy, giảm 7 vụ (- 0,96 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Công tác khai thác lâm sản: tính đến thời điểm 15/03/2016 sản lượng gỗ khai thác được 2.650 m3, giảm  43,41% (-2.033 m3) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân sản lượng khai thác gỗ giảm là do khai thác rừng trồng chưa tiến hành; khai thác của Công ty Lâm nghiệp Đăk Tô và khai thác tận dụng gỗ trên diện tích chuyển đổi xây dựng thủy điện Thượng Kon Tum, huyện Kon Plông và xây dựng thủy điện Thượng Kon Tum, huyện Kon Rẫy với khối lượng nhỏ. Sản lượng củi khai thác là: 57.550 ste, tăng 3,6% (+1.994 ste) so với cùng kỳ năm trước.

- Ước tính đến thời điểm 31/3/2016, công tác trồng rừng mới chưa tiến hành. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn và theo dõi các chủ dự án thực hiện nhiệm vụ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng theo kế hoạch năm 2016.

Trong thời gian tới, trên địa bàn tỉnh có nguy cơ xảy ra hạn hán trên diện rộng, theo dự báo của Trung tâm Khí tượng – Thủy văn khu vực Tây Nguyên, tháng 3, tháng 4 là thời kỳ cao điểm của mùa khô, nắng nóng sẽ khốc liệt hơn. Đây cũng là thời điểm người dân đốt rẫy làm nương, vì vậy các ngành chức năng đã yêu cầu các địa phương, chủ rừng tăng cường hơn nữa công tác phòng, chống cháy rừng, quản lý chặt chẽ sản xuất nương rẫy, hướng dẫn người dân sử dụng lửa và đốt nương rẫy có kiểm soát, tăng cường tuần tra, kiểm tra các vùng trọng điểm cháy, chuẩn bị sẵn sàng để kịp thời ứng phó với các tình huống cháy rừng xảy ra.

Công tác khai thác lâm sản: ước tính đến thời điểm 31/3/2016 sản lượng gỗ khai thác được 2.950 m3, giảm 42% (-2.132,5 m3) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác là: 66.050 ste, tăng 3,5% (+2.227 ste) so với cùng kỳ năm trước.

c) Thuỷ sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản ước đến 31/3/2016 là 614 ha, tăng 7,91% (+45 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thuỷ sản ước tính là 624 tấn, tăng 13,9 % (+76 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng nuôi trồng nước ngọt ước tính là 357 tấn, tăng 17,4% (+53 tấn), so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng khai thác nước ngọt ước tính là 267 tấn, tăng 9,4% (+23 tấn), so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thuỷ sản tăng so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do diện tích nuôi trồng tăng so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó thời tiết nắng hạn mực nước các lòng hồ thủy lợi, thủy điện, sông suối giảm thấp nên thuận lợi cho các hộ khai thác tăng đầu tư phương tiện đánh bắt nên sản lượng thuỷ sản tăng lên.

5. Sản xuất công nghiệp

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 3 năm 2016

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 năm 2016 ước tính tăng 1,88% so cùng kỳ năm trước. Trong đó 2 ngành có chỉ số tăng là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,02%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,65% so cùng kỳ. Ngành công nghiệp khai khoáng chỉ số sản xuất giảm 4,40%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm tương đối thấp (giảm 16,12%) so cùng kỳ do thời tiết nắng nóng, mùa khô kéo dài nên lượng nước ở các hồ chứa xuống thấp, các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất của các nhà máy nhằm ổn định lượng nước trên các hồ chứa để duy trì hoạt động.

So với tháng trước chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2016 ước tính tăng 39,44%. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 37,63% và ngành   công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 64,50%, nguyên nhân  trong tháng 02/2016 các đơn vị cơ sở sản xuất tạm nghỉ một thời gian để đón tết Nguyên đán, sau thời gian tạm nghỉ các đơn vị tập trung ổn định sản xuất, các sản phẩm sản xuất đều tăng nên chỉ số sản xuất của 2 ngành này tăng cao.

- Tình hình hoạt động  sản xuất công nghiệp quý I năm 2016

Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm 2016 tăng 3,53% so cùng kỳ năm trước; Trong đó tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến (tăng 14,57%), ngành khai thác cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải tăng 5,88%; ngành công nghiệp khai thác khoáng sản giảm nhẹ (giảm 1,8%) do lượng đá xây dựng còn tồn nhiều, chưa tiêu thụ kịp nên các đơn vị hạn chế sản lượng khai thác, riêng ngành sản xuất và phân phối điện giảm nhiều (giảm 16,12%) so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do từ những tháng cuối năm trước đến nay trên địa bàn tỉnh tình hình nắng hạn kéo dài, lượng nước ở các sông, hồ giảm thấp nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất.

Ước tính một số sản phẩm sản xuất trong quý I năm 2016 như sau: Đá xây dựng khai thác 132.537 m3, giảm 2,08% so cùng kỳ năm trước; Tinh bột sắn ước tính sản xuất 70.124 tấn, tăng 2,38% so cùng kỳ năm trước; lượng đường sản xuất 13.314 tấn, tăng 18,12% so cùng kỳ năm trước; bàn, ghế ước tính sản xuất 42.522 cái, tăng 31,84% so cùng kỳ, điện sản xuất ước tính 131,79 triệu Kwh, bằng 74,03% so cùng kỳ.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02 năm 2016 tăng 22,75% so cùng kỳ năm trước. Trong đó tăng cao nhất thuộc nhóm ngành sản xuất chế biến thực phẩm (tăng 33,70%), nguyên nhân chính là do sản lượng đường của Công ty Cổ phần đường Kon Tum đã tiêu thụ mạnh trong thời điểm tết Nguyên đán, mặt khác sản lượng tinh bột sắn sản xuất tăng nên lượng xuất kho tiêu thụ cũng tăng theo đã làm cho chỉ số tiêu thụ nhóm ngành chế biến thực phẩm tăng cao; sản phẩm sản xuất thuộc các ngành như sản xuất trang phục, cưa xẻ gỗ…có thị trường tiêu thụ ổn định và chỉ số tiêu thụ tăng tương ứng theo sản lượng sản xuất ra. Riêng ngành sản xuất hóa chất chỉ số tiêu thụ giảm 47,47% do sản phẩm cồn của nhà máy cồn và tinh bột sắn Đăk Tô tiêu thụ chậm.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thời điểm 01/03/2016 tăng 15,15% so cùng thời điểm tháng trước; trong đó mức tăng cao nhất thuộc ngành sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét, sản phẩm bê tông… do các đơn vị thi công xây dựng nghỉ Tết nguyên đán, tiến độ xây dựng các công trình chậm lại nên nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm này giảm đã làm cho chỉ số tồn kho sản phẩm tăng so cùng thời điểm tháng trước (tăng 26,03%) tiếp đến là ngành chế biến thực phẩm (tăng 25,83%), nguyên nhân chủ yếu do đang trong thời gian chính vụ sản xuất của Công ty cổ phần đường Kon Tum, sản lượng đường sản xuất nhập kho tương đối nhiều nhưng chưa tiêu thụ hết phải lưu kho nên lượng tồn kho lớn. So cùng thời điểm năm trước chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,13%; Trong đó 2 ngành có chỉ số tồn kho cao là chế biến gỗ  (tăng 20,55%) so cùng thời điểm năm trước do lượng xuất khẩu thấp, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu bán trong thị trường nội địa nên lượng tiêu thụ chậm và ngành sản xuất bê tông (tăng 24,39%) do sản lượng sản xuất tăng.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2016 hoạt động sản xuất tương đối ổn định, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá, nguyên nhân từ đầu năm đến nay nguồn nguyên liệu sắn tương đối đảm bảo, sản phẩm tinh bột sắn sản xuất ra có thị trường tiêu thụ ổn định, các đơn vị đã tập trung thu mua nguyên liệu để sản xuất; Bên cạnh đó Công ty Cổ phần Đường Kon Tum ngoài nguồn nguyên liệu mía trong tỉnh còn thu mua thêm nguồn nguyên liệu mía ngoài tỉnh để sản xuất, thời gian hoạt động sản xuất kéo dài hơn so với năm trước nên sản phẩm đường sản xuất tăng. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…hoạt động sản xuất tương đối ổn định. Đối với ngành sản xuất điện, sản lượng điện sản xuất trong quý I năm 2016 giảm thấp so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do từ những tháng cuối của năm trước đến nay thời tiết  mùa khô, nắng hạn kéo dài, lượng nước ở các hồ chứa giảm thấp nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất. 

6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trong 2 tháng đầu 2016, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kon Tum đã cấp Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 36 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 459.400 triệu đồng. Cũng trong 2 tháng đầu năm số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh là 24 doanh nghiệp, giải thể 03 doanh nghiệp. Nhìn chung trong 2 tháng đầu năm các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hoạt động tương đối ổn định và  tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh.

7. Thương mại dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 3 năm 2016 đạt 1.122.112 triệu đồng, giảm 3,21% so với tháng trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 925.828 triệu đồng, chiếm 82,51% trong tổng mức và giảm 3,69% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 126.579 triệu đồng, chiếm 11,28% trong tổng mức và tăng 0,69% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 69.705 triệu đồng, chiếm 6,21% trong tổng mức và giảm 3,51% so với tháng trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ tháng 3 năm 2016 giảm so với tháng trước là do: tháng 3 là tháng sau Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016 nên tình hình buôn bán, kinh doanh không còn nhộn nhịp như tháng trước, tuy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể sau tết Nguyên đán đã hoạt động trở lại bình thường nhưng nhu cầu mua sắm, tiêu thụ hàng hóa của nhân dân giảm, nên doanh thu của các nhóm ngành hàng ước giảm so tháng trước.

Từ ngày 18 - 23/3/2016, trên địa bàn tỉnh Kon Tum diễn ra sự kiện Liên hoan nghệ thuật dân gian Tây Nguyên gắn với Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Kon Tum lần thứ 3 năm 2016. Liên hoan có sự tham gia của 13 đoàn nghệ nhân đến từ 5 tỉnh Tây Nguyên gồm: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, với chủ đề “Giọt sữa sử thi”. Liên hoan nghệ thuật dân gian Tây Nguyên diễn ra tại thành phố Kon Tum, huyện Kon Plông và huyện Ngọc Hồi nên doanh thu ngành lưu trú, ăn uống và du lịch ước tăng so với tháng trước. 

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính quý I năm 2016 đạt 3.403.876 triệu đồng, tăng 12,56% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 2.820.015 triệu đồng, chiếm 82,85% trong tổng mức và tăng 12,46% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 372.491 triệu đồng, chiếm 10,94% trong tổng mức và tăng 14,92% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 211.369 triệu đồng, chiếm 6,21% trong tổng mức và tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính quý I năm 2016 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: số lượng doanh nghiệp ngoài Nhà nước đăng ký mới đã đi vào hoạt động, một số doanh nghiệp ngừng hoạt động đã trở lại hoạt động và các cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ cá thể trên địa bàn tỉnh tăng, bên cạnh, một số doanh nghiệp đã chủ động mở rộng quy mô, hoạt động đa ngành nghề. Hơn nữa, trong những tháng đầu năm một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng   hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng.

b) Hoạt động xuất, nhập khẩu

- Xuất khẩu

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tháng 3 năm 2016 đạt 5.474 ngàn USD, tăng 34,46% so với số thực hiện tháng trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 4.080 tấn; Sắn và các sản phẩm từ sắn (Tinh bột sắn) 2.000 tấn; Gỗ xẻ các loại 230 m3 ; Dây thun cao su 75 tấn.

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn quý I năm 2016 đạt 18.524 ngàn USD tăng 74,95% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước. Chia ra: thành phần kinh tế Nhà nước 468 ngàn USD, chiếm 2,53% tổng kim ngạch xuất khẩu; thành phần kinh tế tư nhân 18.056 ngàn USD, chiếm 97,47% tổng kim ngạch xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 13.487 tấn; Sắn và các sản phẩm từ sắn (Tinh bột sắn) 5.300 tấn; Gỗ xẻ các loại 1.254 m3 ; Dây thun cao su 313 tấn; Cà phê nhân 134 tấn; Sản phẩm từ gỗ (bàn, ghế các loại) 17.930 cái.

- Nhập khẩu

 Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tháng 3 năm 2016 đạt 227 ngàn USD, giảm 7,72% so với số thực hiện tháng trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu.  Sản phẩm chủ yếu: Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 1.600 m3; Chất dẻo nguyên liệu (Precipitated Silica) 15 tấn.

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn quý I năm 2016 đạt 798 ngàn USD giảm 28,75% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 5.367 m3; Khoá thẻ Adel các loại 200 cái; Chất dẻo nguyên liệu (Precipitated Silica) 45 tấn.

c) Vận tải

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 3 năm 2016

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 3 năm 2016 đạt 108.365,72 triệu đồng, giảm 0,53 % so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 40.935,37 triệu đồng, giảm      0,49% so với tháng trước; Vận chuyển ước tính đạt 803,35 nghìn lượt khách, giảm 0,68 % và  Luân chuyển ước tính đạt 102.629,3 nghìn lượt khách.km, giảm 0,52% so với tháng trước.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 67.019,12 triệu đồng, giảm 0,55% so với tháng trước; Vận chuyển ước tính đạt 794,51 nghìn tấn, giảm 0,62% và Luân chuyển ước tính đạt 39.205,64 nghìn tấn.km, giảm 0,54 % so với tháng trước.

Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tính đạt 411,23 triệu đồng, giảm 0,83 % so với tháng trước.

Doanh thu và khối lượng vận chuyển hành khách, hàng hoá trong tháng giảm so với tháng trước là do: tháng 3 là tháng sau Tết Nguyên đán nên nguồn hàng hoá vận chuyển phục vụ tiêu dùng của nhân dân trên địa bàn tỉnh giảm so với tháng có Tết Nguyên đán, nhu cầu đi lại của người dân trên địa bàn tỉnh giảm, các doanh nghiệp hoạt động vận tải điều chỉnh giảm giá cước phụ thu sau Tết.

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính quý I năm 2016

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính quý I năm 2016 đạt 324.219 triệu đồng, tăng 11,80 % so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 122.548,67 triệu đồng, tăng      13,17% so với cùng kỳ năm trước; Vận chuyển ước tính đạt 2.407,04 nghìn lượt khách, tăng 13,77 %; Luân chuyển ước tính đạt 307.365 nghìn lượt khách.km, tăng 12,29% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 200.432 triệu đồng, tăng 10,94% so với cùng kỳ năm trước; Vận chuyển ước tính đạt 2.377 nghìn tấn, tăng 13,57% so với cùng kỳ năm trước; Luân chuyển ước tính đạt 117.030 nghìn tấn.km, tăng 12,45 % so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tính đạt 1.239 triệu đồng, tăng 17,72% so với cùng kỳ năm trước.

d) Chỉ số giá

Tháng 3 năm 2016 là tháng sau Tết Nguyên đán nên giá cả thị trường hàng hoá đã trở lại trạng thái bình thường, nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ của người dân sau Tết Nguyên đán đã giảm. Bên cạnh đó, kinh tế trên địa bàn tỉnh vẫn còn khó khăn nên người dân cũng cân nhắc hơn trong chi tiêu, chỉ tập trung vào các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2016 đã giảm 0,06% so với tháng trước; tăng 0,69% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,05% so với tháng 12 năm trước; CPI quý I năm 2016 so với cùng kỳ năm trước tăng 0,68%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 3 nhóm tăng: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 14,17%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,41%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,03%. Có 2 nhóm ổn định: Thiết bị và đồ dùng gia đình và nhóm Giáo dục. Có 6 nhóm hàng giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống  giảm 0,15%; Đồ uống và thuốc lá giảm 0,89%; May mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,09%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,25%; Giao thông giảm 3,39%; Bưu chính viễn thông giảm 0,11%.

- Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh: Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới với xu hướng tăng so với tháng trước, hiện giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 3/2016 được bán với giá khoảng là 3.117.000 đồng/chỉ tăng 0,52% so với tháng trước, tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch tại mức 22.353 đồng/USD giảm 0,08% so với tháng trước.

8. Các vấn đề xã hội

a) Đời sống dân cư

Trong  quý I năm 2016, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum tương đối ổn định, tình hình sản xuất, kinh doanh tiếp tục duy trì và mở rộng; các thành phần kinh tế, đặc biệt kinh tế hộ gia đình chuyển biến tích cực, đã tạo được việc làm ổn định cho người lao động.

- Thực trạng đời sống dân cư nông thôn

Những năm qua, tỉnh Kon Tum đã phát động ra quân đồng loạt xây dựng nông thôn mới, đã hỗ trợ trực tiếp và lồng ghép từ các chương trình, dự án với tổng nguồn vốn 184,6 tỷ đồng (hỗ trợ trực tiếp là 113 tỷ đồng, lồng ghép 71,6 tỷ đồng); tổ chức thực hiện Đề án chính sách hỗ trợ xây dựng các công trình Kinh tế - Xã hội thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Đối với 22 xã điểm, đến nay đã có 09 xã đạt tiêu chuẩn xã nông thôn mới.

Tình hình kinh tế - xã hội nông thôn ngày càng phát triển, giá trị sản lượng nông nghiệp của tỉnh liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế như: sắn, ngô, cà phê, cao su... Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nông dân trên địa bàn tỉnh được cải thiện hơn so với năm trước. Song, kinh tế ở nông thôn vẫn là khu vực chậm phát triển, sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính chất của nền sản xuất nhỏ, manh mún, tự cung tự cấp, nguồn lực lao động, tài nguyên khai thác, sử dụng còn hạn chế. Thu nhập của người nông dân ở khu vực nông thôn tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa so với khu vực thành thị, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Nhiều hộ gia đình ở nông thôn tuy đã thoát khỏi hộ nghèo, nhưng thực tế thu nhập chỉ cao hơn mức chuẩn nghèo không đáng kể, tình trạng phân hóa giàu nghèo còn ở mức cao. Người nông dân chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các thành tựu khoa học phát triển, các dịch vụ cơ bản như: vệ sinh, môi trường, y tế, giáo dục... Hệ thống hạ tầng nông thôn còn lạc hậu, chất lượng thấp.

Trong quý I năm 2016, tình hình hạn hán kéo dài đã làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của nông dân; giá bán sản phẩm sản xuất hàng nông nghiệp giảm ở một số mặt hàng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su đã làm ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của nông dân trên địa bàn tỉnh, nhất là những nông dân trồng cây cao su. Song, được sự chỉ đạo kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND - UBND tỉnh, Chính quyền địa phương các cấp, các ngành đã triển khai tốt các biện pháp khắc phục, nhằm ổn định tình hình sản xuất nông nghiệp nên đời sống nông dân vẫn ổn định.

- Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương

Những năm qua, các cơ chế, chính sách lao động, tiền lương áp dụng đối với cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trong khu vực Nhà nước, ngoài Nhà nước, cũng như khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hưởng lương từ ngân sách Nhà nước luôn được điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng có bước phát triển đáng kể, theo đó cơ chế tiền lương, thu nhập của cán bộ, công nhân viên chức, người lao động đã có nhiều thay đổi, dần dần ổn định. Thu nhập của công nhân, người lao động trong doanh nghiệp hưởng lương có tăng hơn so với năm trước. Thu nhập bình quân/tháng của lao động khu vực nhà nước ước đạt trên 4,0 triệu đồng, trong đó thu nhập bình quân của người lao động khu vực Nhà nước do Trung ương quản lý đạt 3,9 triệu đồng và của người lao động khu vực Nhà nước do địa phương quản lý đạt 4,1 triệu đồng. Mức thu nhập giữa các ngành, các khu vực sản xuất có chênh lệch nhưng không đáng kể.

- Công tác giảm nghèo:

Kon Tum có hai huyện KonPlông và huyện Tu Mơ Rông thực hiện Nghị quyết 30a và ba huyện Đăk Glei, Sa Thầy và Kon Rẫy thực hiện theo Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định như huyện 30a. Sau 7 năm triển khai thực hiện, Nghị quyết đã thực sự mang lại hiệu quả thiết thực, nâng cao đời sống không chỉ ở các huyện thụ hưởng mà còn góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong quý I năm 2016 đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nông dân trên địa bàn tỉnh được cải thiện hơn so với năm trước. Tuy nhiên, tình hình khô hạn đã làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của nông dân; giá bán sản phẩm sản xuất hàng nông nghiệp giảm ở một số mặt hàng đã phần nào làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân.

- Kết quả thực hiện chăm lo cho Nhân dân dịp Tết Nguyên đán Bính thân

Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016, để Nhân dân trên toàn tỉnh đón Tết vui tươi, an toàn, lành mạnh và tiết kiệm, nhất là những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng chính sách. Các cơ quan, đơn vị, địa phương đã quan tâm, tổ chức thăm hỏi, động viên và tặng quà cho người nghèo, gia đình chính sách, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và những đối tượng khó khăn… để tất cả mọi người, mọi nhà đều đón Tết cổ truyền của dân tộc trong không khí vui vẻ, đầm ấm.

UBND tỉnh đã phân bổ 376,5 tấn gạo Chính phủ hỗ trợ nhân dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2016 cho các huyện, thành phố để hỗ trợ kịp thời cho Nhân dân (gồm 6.929 hộ/25.100 khẩu). Riêng huyện Đăk Glei đã chủ động xuất ngân sách huyện hỗ trợ cứu đói trong 03 ngày Tết cho 1.145 hộ/4.717 khẩu, với kinh phí thực hiện: 183,963 triệu đồng

Tổ chức thăm và tặng 10.223 suất quà cho người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và các đối tượng khác với tổng kinh phí là 3.534,471 triệu đồng, trong đó: tặng quà của Chủ tịch nước cho 22 cụ tròn 100 tuổi (22 triệu đồng); tặng quà của UBND tỉnh cho 146 cụ tròn 90 tuổi (58,4 triệu đồng)...

Các cơ quan, đơn vị, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và ngân sách của các huyện, thành phố hỗ trợ, đóng góp, ủng hộ người nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội 23.351 suất quà, trị giá 10.468,87 triệu đồng.

- Thực hiện chính sách với người có công

Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016, UBND tỉnh đã tổ chức thăm và tặng 8.086 suất quà cho các đối tượng là người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh với tổng kinh phí là 1.691,84 triệu đồng, trong đó: UBND tỉnh tổ chức thăm, tặng 90 suất quà với tổng trị giá 45 triệu đồng cho người có công với cách mạng tiêu biểu (500.000 đồng/suất); chuyển 5.730 suất quà của Chủ tịch nước tặng người có công với cách mạng, tổng trị giá 1.160,4 triệu đồng (Mức 400.000 đồng: 78 suất; Mức 200.000 đồng: 5.652 suất); UBND các huyện, thành phố xuất ngân sách tổ chức thăm và tặng 1.688 suất quà cho người có công với cách mạng, tổng trị giá 335,49 triệu đồng; các sở, ngành và đoàn thể trong tỉnh tặng 578 suất quà cho người có công với cách mạng, tổng trị giá 150,95 triệu đồng.

- Lao động, việc làm

Kết quả triển khai nguồn vốn Quỹ giải quyết việc làm Trung ương tính đến tháng 02/2016 đã giải ngân cho vay số tiền 435 triệu đồng, tạo việc làm mới cho 21 lao động. Tổng số lao động được tạo việc làm thông qua chương trình việc làm đến quý I năm 2016 là 69 lao động (Trong đó, XKLĐ: 3 lao động; Thông qua nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm: 21 lao động; cung ứng lao động cho các doanh nghiệp: 45 lao động).

Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, từ đầu năm đến 15/3/2016 có 179 người nộp hồ sơ hưởng Bảo hiểm thất nghiệp, trong đó DTTS 15 người; số người có Quyết định hưởng Bảo hiểm thất nghiệp là 155 người, tổng số tiền chi trợ cấp thất nghiệp là: 1.297,37 triệu đồng.

Từ những chính sách tiền lương và giải quyết việc làm được giải quyết kịp thời, đời sống của cán bộ, công nhân viên chức và người lao động hưởng lương quý I năm 2016 được cải thiện hơn so với năm trước.

- Công tác đào tạo nghề:

Duy trì đào tạo các lớp Trung cấp nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đối với người lao động sau học nghề đã áp dụng và phát triển nhiều mô hình kinh tế bền vững, có hiệu quả cao như: trồng cao su, cà phê, bời lời, chăn nuôi gia súc, gia cầm... Sau học nghề người lao động có cơ hội tự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, tự tạo việc làm tại chỗ thông qua canh tác, sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi phục vụ cho việc phát triển kinh tế hộ gia đình, tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau khi được đào tạo nghề chiếm trên 76%. Ngoài ra, thông qua công tác tư vấn giới thiệu việc làm người lao động được giới thiệu đến làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

b) Giáo dục

Để chuẩn bị tổ chức thi giải toán qua internet cấp tỉnh vào ngày 23/3/2016, Sở Giáo dục và Đào tạo đã hướng dẫn các phòng Giáo dục và Đào tạo và các trường THPT, PT DTNT thành lập đội tuyển để tham gia thi. Cuộc thi lần này nhằm chọn lọc những học sinh giỏi thành lập đội tuyển dự thi cấp quốc gia vào ngày 08/4/2016.

c) Y tế tháng 02/2016

- Tình hình dịch bệnh

Bệnh tay - chân - miệng: Trong tháng, ghi nhận 27 ca mắc mới (Đăk Glei 19, Đăk Hà 5, Tu Mơ Rông 2, TP. Kon Tum 1), tăng 6 ca so với tháng trước và tăng 25 ca so với tháng 02/2015. Lũy tích đến 29/02/2016, ghi nhận 48 ca mắc (Đăk Glei 27, Đăk Hà 9, Sa Thầy 5, Đăk Tô 3, TP. Kon Tum 2, Tu Mơ Rông 2 ), tăng 44 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng, ghi nhận 2 ổ dịch sốt xuất huyết với 20 ca mắc. Tổng cộng trong tháng, ghi nhận 29 trường hợp mắc sốt xuất huyết (TP. Kon Tum 19, Đăk Hà 2, Đăk Tô 7, Ngọc Hồi 1), giảm 8 ca so với tháng trước và tăng 29 ca so với 02/2015. Lũy tích đến 29/02/2016, ghi nhận 66 ca mắc sốt xuất huyết (TP. Kon Tum 47, Sa Thầy 6, Đăk Hà 3, Đăk Tô 8, Ngọc Hồi 2) và không có tử vong.

Bệnh thuỷ đậu: Trong tháng, ghi nhận 107 ca mắc mới (Đăk Tô 33, Sa Thầy 29, TP. Kon Tum 17, Tu Mơ Rông 14, Đăk Hà 8, Ngọc Hồi 03, Kon Rẫy 02, Đăk Glei 01), tăng 54 ca so với tháng trước và tăng 36 ca so với tháng 02/2015. Lũy tích đến 29/02/2016, toàn tỉnh đã ghi nhận 160 ca mắc (Sa Thầy 46, Đăk Tô 45, Đăk Hà 25, TP. Kon Tum 17, Tu Mơ Rông 14, Đăk Glei 05, Kon Rẫy 04, Ngọc Hồi 03, Kon Plông 01), tăng 58 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Bệnh quai bị: Trong tháng, ghi nhận 01 vụ dịch với 47 ca mắc. Tổng số trong tháng 77 ca mắc mới (Ngọc Hồi 49, Đăk Hà 16, Đăk Tô 10, TP. Kon Tum 1, Sa Thầy 01), tăng 40 ca so với tháng trước và tăng 39 ca so với tháng 02/2015. Lũy tích đến 29/02/2016, toàn tỉnh đã ghi nhận 114 ca mắc, tăng 55 ca so với cùng kỳ năm trước.

Bệnh Bạch Hầu: Trong tháng, ghi nhận 01 vụ dịch nhỏ  có 2 ca dương tính với vi khuẩn bạch hầu (01 người ở tỉnh Quảng Ngãi) và 01 trường hợp tử vong nghi do bạch hầu.

Sốt rét: Ghi nhận 23 ca mắc mới, giảm 13 ca so với tháng trước và giảm 8 ca so với tháng 02/2015. Không có sốt rét ác tính và không có tử vong. Lũy tích đến 29/02/2016, toàn tỉnh đã ghi nhận 59 ca mắc, tăng 20 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Tổng số bệnh nhân lao mới phát hiện trong tháng 15 người (AFB (+): 07; AFB(-): 03; lao ngoài phổi 05), tăng 02 bệnh nhân so với tháng trước. Tổng số bệnh nhân tâm thần mới phát hiện 04 người (tâm thần phân liệt: 01; động kinh: 03).

Trong tháng xuất hiện 2 ổ dịch sốt xuất huyết, 02 vụ dịch nhỏ (01 quai bị, 01 bạch hầu). Trong tháng không ghi nhận bệnh nhân mắc các bệnh: sởi, cúm A (H5N1, H7N9, H1N1) trên người; không ghi nhận trường hợp nào mắc Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona và không phát hiện trường hợp nhiễm vi rút Zika.

- Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng ghi nhận 7 trường hợp nhiễm HIV, 02 trường hợp nhiễm HIV chuyển sang gia đoạn AIDS. Số lũy tích nhiễm HIV/AIDS tính đến ngày 29/02/2016 là 409 người, trong đó bệnh nhân AIDS 223, tử vong 137. Tổng số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị thuốc ARV 90 người (người lớn: 84 và trẻ em: 06), điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone cho 66 bệnh nhân; 01 bệnh nhân bỏ không điều trị.

- An toàn vệ sinh thực phẩm

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm; tổng số ca mắc lẻ tẻ: 34 ca (nguyên nhân do ăn uống không bảo đảm vệ sinh).

Tăng cường công tác bảo đảm ATTP, phòng chống ngộ độc thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Bính Thân và mùa Lễ hội Xuân năm 2016: Kiểm tra 61 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 06 cơ sở do không đạt yêu cầu.

- Khám chữa bệnh: Các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện tốt công tác đảm bảo y tế trong dịp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016. Tình hình bệnh nhân đến khám, chữa bệnh trong tháng giảm so với tháng trước và giảm ở tất cả các tuyến; tổng số lượt khám chữa bệnh trên toàn tỉnh 53.956 lượt người, giảm 11,2% so với tháng trước, trong đó bệnh viện tuyến tỉnh giảm 7,9%, bệnh viện tuyến huyện giảm 16,2%, PKĐKKV giảm 6,3% và tuyến xã giảm 21,3% so với tháng trước. Số lượt bệnh nhân điều trị nội trú 4.944 lượt người, giảm 12,5% so với tháng trước; công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các bệnh viện đạt 74,1% (tháng trước 91,1%) và Phòng khám Đa khoa khu vực đạt 37,8% (tháng trước 44,3%).

- Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em

Giám sát các hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em quý I năm 2016 của dự án Bạn hữu trẻ em tại huyện Tu Mơ Rông và Đăk Hà.

Tiêm chủng tính đến 29/02/2016: Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ đạt 12,8%; tiêm phòng uốn ván UV2+ (02 mũi trở lên) cho phụ nữ có thai đạt 10,4%; tiêm phòng uốn ván UV2+ cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt 6,9%; không có trường hợp nào xảy ra tai biến sau tiêm chủng.

d) Hoạt động văn hóa thể thao

- Văn hóa

Trong quý I năm 2016 tỉnh Kon Tum đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ như chào mừng Kỷ niệm 86 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2016), chào mừng thành công Đại hội XII của Đảng và mừng Xuân Bính Thân 2016 và nhiều các hoạt động như:

Chương trình biểu diễn nghệ thuật với chủ đề “86 mùa xuân dâng Đảng” vào tối ngày 3/2 tại Quảng trường 16/3.

Tổ chức chương trình lễ hội bắn pháo hoa tại 4 điểm: 01 điểm tại quảng trường 16/3 thành phố Kon Tum, 01 điểm tại quảng trường huyện Đăk tô, 01 điểm tại trung tâm hành chính mới huyện Ngọc Hồi, 01 điểm tại thôn 2 thị trấn Sa Thầy huyện Sa Thầy.

Phát hành số Tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lịch đặc biệt chào mừng Xuân Bính Thân 2016 và chào mừng thành công Đại hội XII của Đảng.

Kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ (08/3), 63 năm Ngày truyền thống ngành Điện ảnh Việt Nam (15/3/1953 - 15/3/2016); 41 năm ngày giải phóng tỉnh Kon Tum (16/3/1975 - 16/3/2016) và tuyên truyền cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021...

Tổ chức khai trương triển lãm ảnh nghệ thuật Kon Tum giai đoạn 2010 - 2015 tại Bảo tàng tỉnh, có tổng số 103 ảnh của 15 tác giả tham gia.

Tổ chức hoạt động trải nghiệm - khám phá di sản văn hóa các dân tộc tỉnh Kon Tum (trình diễn trò chơi dân gian, chế tác nhạc cụ, các nghề thủ công truyền thống… tại Bảo tàng tỉnh).

Trưng bày 15 tủ sách, với tổng số 510 sách, tài liệu tại Thư viện tỉnh; thực hiện các Đợt chiếu phim miễn phí phục vụ Nhân dân từ ngày 18/01/2016 đến ngày 05/02/2016 tại Rạp chiếu bóng 16/3 và chiếu phim phục vụ các xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và các đồn biên phòng trên địa bàn tỉnh.

Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện, thành phố tổ chức nhiều chương trình nghệ thuật “Mừng Đảng, mừng xuân, mừng đất nước, quê hương đổi mới” như: tổ chức “ngày hội bánh chưng xanh vì người nghèo” tại huyện Sa Thầy; Tổ chức lễ Hội chợ Hoa xuân tại thành phố Kon Tum; Tổ chức các trò chơi dân gian tại huyện Đăk Tô; Tổ chức chương trình hòa nhạc vào đêm Giao thừa và liên hoan văn nghệ các ban nhạc toàn huyện vào đêm mồng 3 Tết Nguyên đán Bính Thân 2016 tại huyện Sa Thầy; Tổ chức văn nghệ quần chúng với chủ đề: “Mừng Đảng, Mừng Xuân, Mừng đất nước đổi mới” tại huyện KonPlông và huyện Tu Mơ rông; Tổ chức đêm văn nghệ quần chúng và Liên hoan Cồng chiêng- múa xoang và diễn tấu nhạc cụ dân tộc lần thứ II năm2016 tại huyện Kon Rẫy; Tổ chức Hội báo Xuân và các chương trình văn nghệ tại Lễ hội đón giao thừa và gặp mặt sinh viên Xuân Bính Thân 2016 tại huyện Đăk Hà; Tổ chức các hoạt động: Hội báo Xuân, đêm văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân, giải thể thao huyện mở rộng đầu xuân Bính Thân tại huyện Ngọc Hồi; Triển khai các hoạt động trò chơi dân gian phối hợp với Đội tuyên truyền lưu động tỉnh tổ chức các chương trình văn nghệ phục vụ cán bộ, chiến sỹ và Nhân dân một số xã trên địa bàn huyện Đăkglei.

Từ ngày 18 - 20/3/2016, tại nhà Rông Kon Klor, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum; Bộ Văn hóa, Thể  thao và Du lịch, UBND tỉnh Kon Tum và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Tây Nguyên: Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng tổ chức Liên Hoan nghệ thuật dân gian Tây Nguyên gắn với “Tuần Văn hóa – Du lịch tỉnh Kon lần thứ 3 năm 2016” với chủ đề “Các dân tộc Tây Nguyên - Đoàn kết - Giữ gìn - Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần phát triển bền vững đất nước”.

- Thể dục, thể thao

Trong 02 ngày 11- 12 tháng 02 năm 2016 tức ngày 04 và 05 tết Bính Thân 2016, tổ chức giải đua thuyền độc mộc truyền thống có 81 vận động viên, 40 thuyền của 08 địa phương trong tỉnh tham gia và giải cờ tướng, có 17 vận động viên tham gia và tổ chức bay máy bay mô hình do câu lạc bộ URW Đà Nẵng bay biểu diễn phục vụ nhân dân trong buổi sáng khai mạc giải (04 tết) tại cầu Đắk La, thành phố Kon Tum.

Từ ngày 14 - 18/3/2016 tại Sân vận động tỉnh Kon Tum diễn ra Hội khỏe Phù Đổng tỉnh Kon Tum lần thứ VII năm 2016; Với mục tiêu: “Khỏe để học tập, lao động sáng tạo”, “khỏe để xây dựng và bảo về Tổ quốc”. Hội khỏe Phù Đổng lần này đã thu hút 1.225 vận động viên đến từ các đơn vị của ngành Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn tỉnh tham gia thi đấu với 94 nội dung ở 9 môn: Điền kinh, bóng bàn, cờ vua, bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bơi, đẩy gậy và kéo co. Hội khỏe Phù Đổng diễn ra trong 5 ngày đã thành công tốt đẹp.

e) Tai nạn giao thông

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 02 năm 2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 46 vụ (tăng 16 vụ so với tháng trước). Trong đó: Giết người 01 vụ, cố ý gây thương tích 06 vụ, trộm cắp tài sản 13 vụ, đánh bạc 05 vụ, gây rối trật tự công cộng 05 vụ, tàng trữ mua bán trái phép chất ma túy 03 vụ, vận chuyển buôn bán hàng cấm 04 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 03 vụ, cướp giật tài sản 02 vụ, trốn khỏi nơi giam giữ 01 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, hủy hoại tài sản 01 vụ, cướp tài sản 01 vụ. Thiệt hại: mất 05 xe mô tô, 07 ĐTDĐ 02 bộ máy tính để bàn, 01 laptop, 313,5 triệu đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 345,6 triệu đồng. Thu giữ: 04 gói ma túy, 01 xe mô tô, 01 ĐTDĐ, 10,45 kg pháo nổ, 1.540 gói thuốc lá, 09 quả pháo, 01 hộp pháo (loại 36 ống) và 10,6 triệu đồng tiền mặt.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 08 vụ (tăng 01 vụ so với tháng trước). Hậu quả: Chết 08 người (tăng 01 người so với tháng trước), bị thương 08 người (tăng 07 người so với tháng trước), hư hỏng 04 xe ô tô, 13 xe mô tô, 01 máy cày.

- Tình hình ANTT – ATGT 2 tháng đầu năm 2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 76 vụ. Trong đó: Giết người 01 vụ, Cố ý gây thương tích 12 vụ, trộm cắp tài sản 21 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 02 vụ, tàng trữ mua bán trái phép chất ma túy 07 vụ, đánh bạc 08 vụ, gây rối trật tự công cộng 05 vụ, vận chuyển buôn bán hàng cấm 04 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 03 vụ, cướp giật tài sản 02 vụ, trốn khỏi nơi giam giữ 01 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, hiếp dâm trẻ em 02 vụ, giao cấu với trẻ em 02 vụ, hủy hoại tài sản 03 vụ, cướp tài sản 01 vụ, cưỡng đoạt tài sản 01 vụ. Hậu quả: bị thương 06 người. Thiệt hại: mất 11 xe mô tô, 12 ĐTDĐ, 02 bộ máy tính để bàn, 01 laptop, 313,5 triệu đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 595,6 triệu đồng. Thu giữ: 03 xe mô tô, 03 ĐTDĐ, 11 gói ma túy, 10,45 kg pháo nổ, 1.540 gói thuốc lá, 09 quả pháo, 01 hộp pháo (loại 36 ống) và 14,03 triệu đồng tiền mặt.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 15 vụ. Hậu quả: Chết 15 người, bị thương 09 người, hư hỏng 08 xe ô tô, 23 xe mô tô, 01 máy cày.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 2.219 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 372 phương tiện, 1.176 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 2.303 trường hợp, thu 919,46 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

f) Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng xảy ra 01 vụ cháy tại Thành Phố Kon Tum (cháy bãi gỗ của công ty cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân thuộc Khu Công nghiệp Hòa Bình). Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 20 triệu đồng, nguyên nhân do sơ suất trong việc sử dụng lửa. Lũy kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 420 triệu đồng.

Trong quý I năm 2016 trên địa bàn tỉnh Kon Tum không xảy ra vụ vi phạm môi trường.

D. TIN TỨC- SỰ KIỆN

I. TIN TRONG TỈNH

1. Ngày 14-3, UBND tỉnh tổ chức họp trực tuyến với các huyện, thành phố về công tác phòng chống hạn, hán và phòng cháy chữa cháy rừng.

Về công tác phòng chống hạn: Tính đến 9 giờ ngày 14/3/2016 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra khô hạn, thiếu nước tại một số khu vực, với tổng diện tích 1.192,69 ha; trong đó khoảng 287,51 ha có khả năng mất trắng (725,69 ha lúa và 427 ha cà phê, 03ha bời lời; 05ha rau màu; 1,2 ha hồ tiêu); 04 công trình nước tự chảy nguồn nước đầu mối cạn kiệt, suy giảm không đủ cấp nước cho các hộ dân thuộc xã Tu Mơ Rông và Văn Xuôi, huyện Tu Mơ Rông.

Toàn tỉnh có khoảng 4.102 giếng nước bị khô hạn, thiếu nước: thành phố Kon Tum (480 giếng), huyện Ia H'Drai (502 giếng), huyện Đăk Tô (1.644 giếng); Sa Thầy (1.476 giếng).

Hiện nay, UBND các huyện, thành phố cũng đã chủ động xuất ngân sách địa phương với tổng số tiền khoảng 7 tỷ 670,24 triệu đồng hỗ trợ nhân dân triển khai các biện pháp phòng, ứng phó hạn hán.

Về phòng cháy, chữa cháy rừngToàn tỉnh có 780.736 ha rừng và đất lâm nghiệp (đất có rừng 604.258 ha, đất lâm nghiệp không có rừng 176.478 ha) phân bố 10 huyện, thành phố. Diện tích rừng dễ cháy 159.757,1 ha (chiếm 26,4% đất có rừng), tập trung nhiều vào rừng tre nứa, lau lách, rừng khộp, rừng thông.

Kết luận Hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Hữu Hải đề nghị các đơn vị, địa phương phải xác định nhiệm vụ chống hạn là nhiệm vụ số 1, cả hệ thống chính trị phải vào cuộc; rà soát lại các diện tích cây trồng vật nuôi; vùng nào có khả năng thiếu nước; đặc biệt chú ý đến vùng thiếu nước sinh hoạt của người dân. Chủ động không để nhân dân thiếu nước sinh hoạt; phải nắm rõ từng giếng nước trên địa bàn để có biện pháp ứng cứu ngay không để người dân thiếu nước sinh hoạt. Tập trung mọi giải pháp cứu cây trồng; khu vực nào không có khả năng cứu được thì có chính sách hỗ trợ thiệt hại, hỗ trợ giống cho vụ sau. Các huyện, thành phố báo cáo số hộ thiếu đói giáp hạt về UBND tỉnh để hỗ trợ, quyết tâm không để dân đói, dân khát. Đề nghị lãnh đạo huyện, thành phố phân công cán bộ bám địa bàn có biện pháp chỉ đạo sâu sát, kịp thời.

Các huyện, thành phố chủ động xuất ngân sách hỗ trợ nhân dân nạo vét kênh mương, khoan giếng, nạo vét giếng, chậm nhất trong tuần này phải hỗ trợ bước đầu cho các huyện, thành phố; nếu khó khăn đề xuất tỉnh hỗ trợ; kinh phí phải được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả. Các huyện rà soát lại tất cả các hồ, đập thủy lợi và giếng nước, từ đó có quy hoạch đột phá, chiến lược để khắc phục được tình trạng thiếu nước mùa khô. Tu sửa và nâng cấp các công trình thủy lợi để đảm bảo nước tưới lâu dài. Đồng thời, hướng dẫn người dân chuyển đổi cây trồng đối với vùng đất thường bị khô hạn. Đối với công tác PCCCR: Đề nghị các địa phương có rừng, chủ rừng trực 24h/24h. Theo dõi, quan sát diễn biến hàng ngày; đặc biệt chú ý tình trạng đốt nương làm rẫy. Khi phát hiện xảy ra cháy phải huy động ngay “4 tại chỗ”; đồng thời báo cáo ngay về Ban Chỉ đạo của tỉnh để có biện pháp xử lý kịp thời. Địa phương, đơn vị nào để xảy ra cháy rừng, người đứng đầu địa phương, đơn vị đó phải chịu trách nhiệm...

2. Ngày 15-3, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị trực tuyến giao ban hàng tháng với các Huyện ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì Hội nghị.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, trong 2 tháng đầu năm 2016, tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh đạt được những kết quả quan trọng. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt hơn 283 tỷ đồng; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng hơn 5% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ đạt 1.157 tỷ đồng. Các Huyện ủy, Thành ủy đã tập trung lãnh đạo tổ chức tốt các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân; chăm lo Tết Nguyên đán 2016 cho các đối tượng chính sách, người có công và hộ nghèo, hộ cận nghèo; chỉ đạo kiểm soát chặt chẽ và ngăn chặn có hiệu quả hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng trong dịp Tết Nguyên đán. Công tác phòng chống dịch bệnh được kiểm soát tốt. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định.

Về tình hình hạn hán, tính đến ngày 13-3-2016 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra khô hạn, thiếu nước tại một số khu vực với tổng diện tích hơn 1.600 ha. Trong đó có khoảng 287 ha có khả năng mất trắng, hơn 4.000 giếng nước bị khô cạn. Trước tình hình diễn biến khô hạn, các Huyện ủy, Thành ủy đã chỉ đạo các cấp, ngành có liên quan vận động nhân dân nạo vét giếng nước, chia sẻ nguồn nước sinh hoạt giữa các hộ trong cụm dân cư, sử dụng nước tiết kiệm; UBND các huyện, thành phố đã chủ động xuất ngân sách địa phương với tổng kinh phí hơn 7,6 tỷ đồng để hỗ trợ nhân dân triển khai các biện pháp phòng, ứng phó hạn hán.

Đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai công tác bầu cử, các huyện, thành phố đã tổ chức hội nghị phổ biến, quán triệt các chỉ thị, kế hoạch của các cấp về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021. Đến ngày 3/3, Hội đồng bầu cử các cấp đã ban hành nghị quyết ấn định và công bố đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số đại biểu HĐND tỉnh, huyện, xã được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử…

Kết luận Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng đã biểu dương các địa phương triển khai tốt các nghị quyết, kế hoạch, chỉ thị của Tỉnh ủy, của Trung ương về công tác xây dựng Đảng, công tác chuẩn bị bầu cử, chăm lo Tết, phòng chống hạn hán trong thời gian qua. Đồng thời đề nghị trong thời gian tới, các Huyện ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc quan tâm công tác xây dựng Đảng; đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục đạo đức, chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay và tăng cường biện pháp giám sát, kiểm tra, xử lý, kỷ luật. Các địa phương cần rà soát nắm chắc lại tình hình hạn hán từng thôn, làng và có dự báo, giải pháp cụ thể trong thời gian tới, tuyệt đối không để hộ dân nào phải thiếu nước sinh hoạt. Ban Thường vụ, Ban Chỉ đạo bầu cử các địa phương cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên, đôn đốc kịp thời công tác bầu cử theo đúng quy định.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy lưu ý, công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an ninh – quốc phòng là việc làm thường xuyên, nhưng thời gian đến phải tập trung cao hơn và chủ động đặt các tình huống giả định có thể xảy ra để xử lý kịp thời, Đặc biệt trong tháng 3, trên địa bàn tỉnh có nhiều sự kiện, thu hút nhiều người tham gia cần được đảm bảo an toàn.

3. Ngày 16-3, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh tổ chức Hội nghị Hiệp thương lần thứ Hai để thỏa thuận lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội, khóa XIV và đại biểu HĐND tỉnh Kon Tum, khóa XI (nhiệm kỳ 2016 - 2021).

Về số lượng, cơ cấu, thành phần và danh sách những người được dự kiến giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội (khóa XIV) là 10 người. Cụ thể: Tỉnh ủy 01 người (lãnh đạo chủ chốt, dân tộc Xê Đăng); Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh 01 người (lãnh đạo đoàn, đại biểu tái cử); Liên đoàn Lao động tỉnh 01 người (Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh, dân tộc Gia Rai); huyện Đắk Glei 01 người (Phó trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo, nữ dân tộc Giẻ Triêng, trẻ tuổi); Huyện Tu Mơ Rông 02 người: Bí thư Huyện đoàn 01 người (dân tộc Xê Đăng, trẻ tuổi); Chuyên viên phòng Giáo dục và Đào tạo huyện 01 người (nữ dân tộc Dẻ, trẻ tuổi); huyện Đắk Hà 01 người (Phó hiệu trưởng Trường Tiểu học Vừ A Dính, nữ dân tộc Xê Đăng, trẻ tuổi); huyện Kon Rẫy 01 người (Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện, nữ dân tộc Xê Đăng, trẻ tuổi); huyện Kon Plông 01 người (Phó hiệu trưởng Trường PTDT Nội trú huyện (dân tộc Xê Đăng, trẻ tuổi); huyện Sa Thầy 01 người (Bí thư Đoàn trường PTDTNT huyện, dân tộc Gia Rai, trẻ tuổi). Trong đó: Đại biểu dân tộc thiểu số 09 đại biểu (chiếm 90%); đại biểu nữ 04 (chiếm 40%); đại biểu trẻ tuổi, dưới 40 tuổi 07 đại biểu (chiếm 70%); đại biểu tái cử 01 đại biểu (chiếm 10%).

Về kết quả tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi công tác đối với những người dự kiến giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội (khóa XIV), đa số cử tri nơi công tác đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội (khóa XIV) đều bày tỏ tín nhiệm và nhất trí giới thiệu những người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ra ứng cử, không có ý kiến nêu các vụ việc gì cần phải xác minh về người ứng cử.

Về bầu cử đại biểu HĐND tỉnh Kon Tum (khóa XI), đến ngày 10/3/2016 đã có 102 người của các cơ quan, đơn vị, địa phương giới thiệu ra ứng cử đại biểu HĐND tỉnh khóa XI và đến ngày 14/3/2016 Ủy ban bầu cử tỉnh đã chuyển đủ danh sách trích ngang và tiểu sử tóm tắt, bản kê khai tài sản, thu nhập của 101 người được giới thiệu ứng cử đến Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, (có một trường hợp có đơn xin rút khỏi danh sách ứng cử). Về giới thiệu người ra ứng cử đại biểu HĐND tỉnh (nhiệm kỳ 2016-2021) của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương như sau: Cấp tỉnh: Khối Đảng được phân bổ 10 đại biểu; cơ quan HĐND tỉnh 08 đại biểu; cơ quan hành chính 06 đại biểu; cơ quan Mặt trận và các đoàn thể 11 đại biểu; lực lượng vũ trang 05 đại biểu; đơn vị kinh tế 04 đại biểu. Cấp huyện: Đắk Glei 05 đại biểu; Ngọc Hồi 06 đại biểu; Đắk Tô 05 đại biểu; Tu Mơ Rông 05 đại biểu; Đắk Hà 06 đại biểu; Kon Plong 06 đại biểu; Kon Rẫy 05 đại biểu; Sa Thầy 05 đại biểu; Ia H’Drai 04 đại biểu;  thành phố Kon Tum 11 đại biểu.

Cơ cấu thành phần: Nữ 36 (chiếm 35,29%); Dân tộc thiểu số 51 (chiếm 50%); trẻ dưới 35 tuổi 17 (chiếm 16,66%); ngoài Đảng 10 (chiếm 9,8%); Chức sắc tôn giáo 04 (chiếm 3,92%).

Việc tổ chức lấy ý kiến tín nhiệm đối với những người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh được cử tri nơi tác, nơi cư trú có 856 lượt cử tri tham gia đều hoàn toàn tín nhiệm rất cao, 100% nhất trí giới thiệu 102/102 người ra ứng cử đại biểu HĐND tỉnh khóa XI (nhiệm kỳ 2016 - 2021).

Kết luận hội nghị, đồng chí Trần Bình Trọng, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đề nghị các cơ quan, đơn vị có người ra ứng cử đại biểu HĐND tỉnh, sau hội nghị này tiếp tục triển khai các bước tiếp theo như tổ chức hội nghị lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri và xác minh các vụ việc do cử tri phản ánh ở nơi công tác và cư trú đối với những người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh (nếu có), tiến tới tổ chức Hội nghị Hiệp thương lần thứ Ba để lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND tỉnh. Chuẩn bị tốt công tác tuyên truyền, vận động về mục đích và ý nghĩa của Cuộc bầu cử đại biểu HĐND tỉnh đến hội viên, đoàn viên và các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh hiểu rõ về ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc bầu cử lần này. Trên cơ sở nắm vững các quy định của Luật Bầu cử đại biểu HĐND, tổ chức tốt việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của HĐND trong bộ máy nhà nước.

4. Từ 18 đến 22-3 tại tỉnh Kon Tum, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở VH,TT&DL 05 tỉnh Tây Nguyên phối hợp với tỉnh Kon Tum tổ chức Liên hoan nghệ thuật dân gian Tây Nguyên gắn với “Tuần Văn hóa – Du lịch tỉnh Kon Tum lần thứ 3 năm 2016” với chủ đề “Các dân tộc Tây Nguyên: Đoàn kết - Giữ gìn - Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần phát triển bền vững đất nước”.

Phát biểu khai mạc Liên hoan, thay mặt lãnh đạo tỉnh Kon Tum – đơn vị đăng cai tổ chức, đồng chí Đào Xuân Quí - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng BTC Liên hoan bày tỏ niềm vui mừng được đón tiếp các vị đại biểu, đoàn nghệ nhân của các tỉnh Tây Nguyên về tham gia Liên hoan. Với điều kiện và khả năng của mình, tỉnh Kon Tum đã nỗ lực rất nhiều để Liên hoan diễn ra đúng kế hoạch và đạt kết quả tốt nhất. Hi vọng sau Liên hoan các vị đại biểu, các đoàn tham gia sẽ có ấn tượng tốt về Kon Tum – một vùng đất giàu truyền thống cách mạng và mang đậm bản sắc văn hóa dân gian truyền thống. Kon Tum cũng mong muốn sau Liên hoan lần này tiếp tục có nhiều cuộc Liên hoan khác của khu vực, của trung ương được tổ chức tại tỉnh Kon Tum, để Kon Tum có điều kiện giao lưu nhiều hơn với bạn bè trong cả nước.

Liên hoan có sự tham gia của trên 500 nghệ nhân của 14 đoàn đến từ 5 tỉnh Tây Nguyên, với các hoạt động: Tạc tượng gỗ dân gian, chế tác nhạc cụ dân tộc; Trưng bày, triển lãm văn hóa Tây Nguyên và sản phẩm của Kon Tum; Trình diễn nghệ thuật chỉnh chiêng; Khởi động, kết nối tour du lịch dã ngoại: Kon Tum - Kon Plông - Ngọc Hồi; Giao lưu trình diễn cồng chiêng; Hội thảo Phát triển Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình Hành động quốc gia bảo vệ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Lễ hội đường phố; Liên hoan Văn hóa ẩm thực Kon Tum; Các trò chơi dân gian; Hội thi triển lãm ảnh nghệ thuật; Khởi công, gặp mặt doanh nghiệp và ký kết hợp tác tại Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y...

Đêm khai mạc được dàn dựng công phu với lung linh sắc màu văn hóa mang đậm bản sắc các dân tộc vùng Tây Nguyên. Chương trình gồm 3 phần: phần nghi thức, phần lễ và phần biểu diễn nghệ thuật. Đặc biệt chương trình nghệ thuật với chủ đề “Giọt sữa sử thi” với sự tham gia của gần 600 nghệ nhân, ca sĩ, diễn viên đến từ các tỉnh trong khu vực với nhiều tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của Tây Nguyên như biểu diễn cồng chiêng, múa xoang, nhạc cụ dân tộc và các ca khúc ca ngợi về đất và người Tây Nguyên được chia làm 2 Chương: Chương 1: Cội nguồn với các tác phẩm Kon Tum chào ngày mới, Tháng 3 Tây Nguyên, Nồng nàn Cao nguyên...Chương 2: Đêm hội đoàn kết với các tác phẩm: Tháng 3 Hội mùa Gia Lai, Hãy đợi anh, Đêm trăng Kon Ch’ro, Kon Tum bừng sáng...

Liên hoan nhằm tôn vinh, phục dựng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, tạo không gian gặp gỡ, giao lưu văn hóa đồng thời tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về vùng đất - con người - văn hóa Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng đến với Nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế, góp phần ổn định và nâng cao đời sống mọi mặt của Nhân dân các dân tộc trong khu vực.

II. TIN TRONG NƯỚC

1. Một số kết quả chủ yếu Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Từ ngày 10 đến ngày 12/3/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã họp Hội nghị lần thứ hai để bàn và quyết định các nội dung quan trọng:

Thứ nhất, về Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII: Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận sôi nổi, thẳng thắn và thống nhất đưa vào Chương trình toàn khóa những vấn đề cần thiết nhất. Nội dung Chương trình toàn khóa bám sát các văn kiện Đại hội XII và các nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội XII đã xác định như: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;... Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tùy theo tình hình thực tiễn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng sẽ xem xét, bổ sung, điều chỉnh Chương trình làm việc cho phù hợp.

Thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước trung hạn và Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020:

Về Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 2016-2020: Trên cơ sở Nghị quyết và Văn kiện Đại hội XII của Đảng, đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 và nhận định tình hình quốc tế, khu vực tác động tới nước ta trong 5 năm tới, chỉ rõ những thời cơ, thuận lợi; khó khăn, thách thức; Ban Chấp hành Trung ương xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch 5 năm 2016-2020 và tám nhóm giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu trên.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ bổ sung, hoàn thiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016- 2020 để trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá XIII.

- Về Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước trung hạn 5 năm 2016-2020: Ban Chấp hành Trung ương xác định một số chỉ tiêu chủ yếu về tổng thu, tổng chi và bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020; đồng thời, xác định một số nhiệm vụ, giải pháp đề ra để thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu trên.

- Về Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020: Ban Chấp hành Trung ương khẳng định việc xây dựng, triển khai thực hiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn gắn với Kế hoạch tài chính công trung hạn trong tổng thể Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm là bước đột phá để đổi mới công tác kế hoạch hoá phù hợp với kinh tế thị trường, nâng cao tính sát hợp, khả thi của kế hoạch đầu tư phát triển và hiệu quả đầu tư công.

Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ tiếp tục cập nhật, hoàn thiện Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước trung hạn và Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 để trình Quốc hội khoá XIV xem xét, quyết định.

Thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận, cân nhắc kỹ lưỡng và thống nhất cao về việc giới thiệu nhân sự ứng cử chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước để trình Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khóa XIII.

Ban Chấp hành Trung ương kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy kết quả quan trọng đã đạt được của năm 2015 và cả nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng; nỗ lực phấn đấu, thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016; đồng thời tổ chức việc nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

2. Một số tình hình thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X

Ngày 22/10/2010, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 48-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; sau 5 năm triển khai thực hiện đã đạt được một số kết quả:

- Công tác phòng ngừa, đấu tranh chống các loại tội phạm được tăng cường, nhiều nội dung đạt và vượt chỉ tiêu đề ra (khám phá án hình sự đạt trung bình 75%, các vụ trọng án đạt 95%); đã kiềm chế sự gia tăng của tội phạm, giảm phạm pháp hình sự, triệt xoá nhiều băng, nhóm tội phạm nguy hiểm. Hầu hết các loại tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đều giảm. Đấu tranh có hiệu quả  với tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm vi phạm pháp luật về môi trường, phát hiện và triệt xoá nhiều đường dây mua bán, vận chuyển ma tuý lớn xuyên quốc gia, nhiều tụ điểm ma tuý phức tạp.

- Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã thực hiện quyền công tố và kiểm sát điều tra 358.045 vụ, 569.031 bị can (tăng 12,8% số vụ và 17% số bị can so với cùng kỳ); đã truy tố 295.594 vụ, 529.663 bị can (tăng 12,2%); thực hành quyền công tố và kiểm sát việc thụ lý 440.431 tin báo tố giác về tội phạm (hằng năm tỉ lệ xử lý, giải quyết tin báo tố giác tội phạm đều đạt trên 90%).

- Toà án nhân dân các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 306.105 vụ với 552.235 bị cáo; đã xét xử 283.232 vụ với 502.632 bị cáo (đạt 92,5%); so với cùng kỳ của giai đoạn trước, số vụ án đã xét xử tăng 11,2% và số bị cáo tăng 17,6%. Nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, dư luận xã hội quan tâm được đưa ra xét xử kịp thờiTính đến tháng 5/2015, tổng số phạm nhân, người bị tạm giam, tạm giữ, người có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, người bị kết án tù còn ở ngoài xã hội gần 199,3 nghìn người. Đã đặc xá, tha tù trước thời hạn cho 43.589 phạm nhân, đảm bảo yêu cầu chính trị, pháp luật, thể hiện rõ tính nhân đạo của Đảng và Nhà nước, được nhân dân và quốc tế đồng tình ủng hộ.

- Đã triển khai gần 37,4 nghìn cuộc thanh tra hành chính và trên 783,2 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; phát hiện và kiến nghị thu hồi gần 119,7 nghìn tỉ đồng, 19.230 ha đất; ban hành 945,9 nghìn quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền trên 29,3 nghìn tỉ đồng; chuyển cơ quan điều tra 297 vụ, 355 người; thanh tra phát hiện 441 vụ, 692 người có dấu hiệu tham nhũng.

- Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm được tăng cường mở rộng, đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả hơn. Đã phê chuẩn 1 công ước, 22 hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án phạt tù, phòng, chống tội phạm, bảo vệ tin mật với cơ quan an ninh, cảnh sát, nội vụ của các nước trên thế giới. Việt Nam mở rộng quan hệ với 114 bộ, cơ quan ngang bộ của 58 quốc gia và vùng lãnh thổ; thiết lập quan hệ nhiều mặt với cơ quan thực thi pháp luật của các nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tham gia hoạt động trong 24 tổ chức, diễn đàn hợp tác quốc tế đa phương. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã ký hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự với một số nước.

Bên cạnh kết quả đã đạt được, việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X vẫn còn một số khó khăn, hạn chế: Việc triển khai thực hiện ở một số đơn vị, địa phương thiếu quyết tâm, thiếu kiểm tra đôn đốc, chưa tạo chuyển biến mạnh mẽ. Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trên một số lĩnh vực còn sơ hở, chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả hạn chế; công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ, cảm hoá số đối tượng vi phạm pháp luật, hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng đối với người nghiện, người chấp hành xong án phạt tù chưa được quan tâm, hiệu quả chưa cao; dạy nghề cho phạm nhân tại các trại giam hiệu quả thấp. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả ở cơ quan bảo vệ pháp luật chưa gương mẫu, đạo đức, phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, năng lực hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả và lòng tin của nhân dân. Nhiều nơi phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật ở cộng đồng dân cư còn yếu, hiệu quả thấp.

3. Chính phủ tăng cường công tác chỉ đạo phòng, chống hạn, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tình hình hạn hán, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) diễn ra nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến sản xuất và đời sống người dân. Hiện có hơn 160 nghìn ha lúa đông xuân bị thiệt hại, trong đó có hơn 86 nghìn ha bị thiệt hại đến 70% năng suất. Các tỉnh bị thiệt hại nhiều là Kiên Giang (51 nghìn ha), Cà Mau (hơn 49 nghìn ha), Bến Tre (gần 14 nghìn ha)... Khô hạn, xâm nhập mặn ảnh hưởng đến vườn cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản; rừng tràm U Minh Thượng, U Minh Hạ khô nước, nguy cơ cháy cao. Đáng quan tâm là, gần 155 nghìn hộ gia đình ở các tỉnh ven biển bị thiếu nước ngọt sinh hoạt phải vất vả trong việc tìm kiếm nguồn nước thay thế. Trong khi đó độ mặn đo được ở các sông lớn trong khu vực cao gấp hai đến ba lần so với trung bình nhiều năm. Dự báo, tình trạng hạn, xâm nhập mặn sẽ còn gay gắt, nặng nề; trong thời gian tới sẽ tác động mạnh hơn, rộng hơn đến sản xuất, đời sống người dân.

Trước tình hình đó, Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành phải tìm mọi cách hạn chế, giảm thiệt hại ở mức thấp nhất, ổn định cuộc sống người dân. Trước mắt, phải bảo đảm nước ngọt hợp vệ sinh cho dân. Mỗi địa phương tùy tình hình thực tế có giải pháp phù hợp, không để dân thiếu nước sinh hoạt dẫn đến dịch bệnh. Các địa phương xem chống hạn, xâm nhập mặn là nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm, tập trung chỉ đạo chăm lo đời sống, sản xuất của người dân, nhất là bảo vệ hơn 50% diện tích lúa đông xuân chưa thu hoạch, vườn cây ăn trái, diện tích nuôi tôm, cá lồng bè. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khoanh nợ cho những hộ bị thiệt hại do hạn mặn, đồng thời cho vay để sản xuất vụ tiếp theo. Ngân hàng Chính sách xã hội phát huy vai trò hơn nữa trong hỗ trợ hộ nghèo, an sinh xã hội. Các địa phương huy động mọi nguồn lực, nhanh chóng hỗ trợ kinh phí cho người dân vùng thiên tai để khôi phục sản xuất, đời sống, các địa phương tạm ứng vốn để đắp đập ngăn mặn, giữ ngọt bảo vệ sản xuất, đời sống, hỗ trợ nhân dân.

Chính phủ đã kịp thời hỗ trợ 523,7 tỷ đồng cho 34 địa phương từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2016 để khắc phục hậu quả do hạn hán, xâm nhập mặn nhằm ổn định sản xuất, đời sống nhân dân. Trước đó, tháng 2/2016, Chính phủ đã hỗ trợ 85,1 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2015 cho 6 tỉnh: Quảng Trị, Đăk Lăk, Đăk Nông, Long An, An Giang, Đồng Tháp để khắc phục hậu quả hạn hán và xâm nhập mặn vụ Hè Thu năm 2015.

4. Một số tình hình đáng quan tâm ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới đất liền

Nước ta có đường biên giới đất liền dài trên 4.653 km, dọc tuyến biên giới đất liền có 435 xã, phường, thị trấn, 103 huyện, thị xã, thành phố thuộc 25 tỉnh. Trong những năm qua, được sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền các cấp, nỗ lực của nhân dân và sự giúp đỡ của nhân dân cả nước, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới đã được đầu tư xây dựng, đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện và nâng lên.

Mạng lưới trường, lớp học đã có bước phát triển, đội ngũ giáo viên được tăng cường, chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên. Đã cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em dưới 5 tuổi, tỉ lệ học sinh bỏ học giảm, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở hằng năm đạt trên 90%; tỉ lệ học sinh được cử tuyển, thi đỗ các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có xu hướng tăng. Công tác dạy nghề bước đầu được quan tâm chỉ đạo, góp phần giảm nghèo, ổn định cuộc sống.

Hầu hết các xã biên giới đều có trạm y tế. Hoạt động văn hoá, thông tin, phát thanh truyền hình, nhất là nội dung chương trình, thời lượng phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc được tăng cường. Các phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, xoá đói, giảm nghèo, giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới… có bước chuyển biến tích cực.

Hệ thống chính trị cơ sở đã được cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo củng cố, xây dựng. Tỉ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện, xã biên giới đều đạt từ 50% trở lên, một số nơi đạt khá cao (từ 70 - 95. Công tác phát triển đảng viên, xây dựng cốt cán, phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số đạt kết quả tích cực, từng bước xoá “bản trắng” về tổ chức đảng và đảng viên. Tỉ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số trong cấp uỷ, chính quyền các cấp ngày càng được nâng lên; đã thực hiện tốt mô hình “Cán bộ đồn biên phòng tham gia cấp uỷ xã - chính quyền xã”, “Cán bộ đồn biên phòng tham gia sinh hoạt chi bộ thôn, bản”.

An ninh, trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới cơ bản ổn định. Đồng bào các dân tộc định cư trong khu vực biên giới nhìn chung đoàn kết gắn bó, có tinh thần tương trợ lẫn nhau, yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành các cấp chính quyền.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới đất liền vẫn còn một số khó khăn, hạn chế: Mặt bằng dân trí vẫn còn thấp hơn nhiều so với vùng khác. Khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Tỉ lệ mù chữ và tái mù chữ còn cao, học sinh dân tộc thiểu số vào học trung học phổ thông rất ít; chính sách đào tạo nghề cho lao động chưa phát huy được hiệu quả; cơ sở y tế mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu khám, chữa bệnh của đồng bào các dân tộc; mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số ở địa bàn biên giới rất thấp. Đáng chú ý, đồng bào dân tộc thiểu số đang gặp khó khăn trong việc cải biến những tập tục lạc hậu, tiếp nhận văn hoá tiến bộ; văn hoá truyền thống đang bị mai một và biến dạng do sự xâm nhập của tôn giáo mới, các đạo lạ và tà đạo. Trình độ chuyên môn và khả năng thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức ở cơ sở còn thấp. Tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số địa bàn biên giới còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp. Đầu tư kết cấu hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới còn chậm, hiệu quả thấp. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là giao thông, điện, nước chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

5. Những nét mới trong công tác tuyển quân năm 2016

Năm 2016, công tác tuyển quân đã được triển khai sớm, đồng bộ và có nhiều điểm mới: Năm đầu tiên cả nước triển khai thực hiện Luật nghĩa vụ Quân sự mới (Luật số 78/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016) với nhiều điểm mới, đó là: thời gian tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên là 24 tháng; mỗi năm chỉ gọi nhập ngũ một lần; thời gian khám sức khỏe trước ngày 31/12 hàng năm, trước khi nhập ngũ từ 2 đến 3 tháng. Thanh niên tham gia nghĩa vụ công an thì được xác định đã tham gia nghĩa vụ quân sự. Các trường hợp trốn tránh nghĩa vụ quân sự sẽ bị phạt tiền, nếu tái phạm sẽ bị xử lý hình sự. Độ tuổi nhập ngũ, từ đủ 18 đến 25 tuổi; riêng số thanh niên đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học thì tiếp tục gọi nhập ngũ đến 27 tuổi. Đối tượng tạm hoãn được áp dụng thêm đối với thanh niên đang học cao đẳng, đại học hệ chính quy. Mở rộng thêm đối tượng chính sách đối với thanh niên là con một của thương binh nặng (trên 81%) và con của người bị nhiễm chất độc da cam; ưu tiên tuyển gọi thanh niên nhập ngũ đối với con em đồng bào dân tộc thiểu số (có dân số dưới 10.000 người) để tạo nguồn cán bộ cho cơ sở địa phương sau này.

Các bước trong quá trình tuyển quân được các đơn vị quân đội triển khai chặt chẽ, đúng quy trình, khách quan, công bằng. Cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo tổ chức giao nhận quân đúng thời gian, đủ số lượng. Do vậy, công tác tuyển quân năm nay có sự đột phá về chất lượng tuyển quân: 100% thanh niên nhập ngũ năm 2016 bảo đảm đủ về tiêu chuẩn chính trị, đạo đức. Trong đó, tuổi đời từ 18 đến 21 chiếm 75%. Tỷ lệ tốt nghiệp Trung học phổ thông 65%, tăng 3,7% so với tuyển quân đợt 2 năm 2015; trình độ cao đẳng, đại học 15,1%, tăng 4,7% so với tuyển quân đợt 2 năm 2015 (một số địa phương có chất lượng cao như: Hà Nội trên 50%, Quân khu 7 trên 24%).

6. Phát hiện mới đáng lo ngại về virus Zika

Nhiễm virus Zika là bệnh truyền nhiễm cấp tính do muỗi Aedes truyền và có thể gây dịch. Bệnh phát hiện trên khỉ Rhesus ở Uganda vào năm 1947 và phát hiện trên người vào năm 1952 tại Uganda và Tanzania. Virus Zika có thể gây hội chứng não bé ở trẻ sinh ra từ những người mẹ mắc bệnh trong thời kỳ mang thai và cũng có thể gây ra chứng rối loạn thần kinh nguy hiểm. Đây là phát hiện mới đáng lo ngại về Zika, loại virus hiện vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắcxin phòng bệnh.

Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh do virus Zika hiện đang diễn biến phức tạp và lây lan nhanh. Tính đến ngày 1/3/2016 đã có 46 quốc gia ghi nhận các trường hợp lây nhiễm và cảnh báo quy mô lây lan virút Zika có thể rộng hơn, bởi muỗi Aedes - vật trung gian lây truyền virus Zika đã xuất hiện tại 130 quốc gia trên thế giới. Hiện tại, Brazil là quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của virus Zika, với 1,5 triệu người bị lây nhiễm và khoảng hơn 640 trường hợp trẻ em bị mắc chứng đầu nhỏ tính từ tháng 10-2015; Colombia có hơn 37.000 trường hợp lây nhiễm, trong đó 6.356 thai phụ. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới (WB), virus Zika xuất hiện tại hơn 30 quốc gia ở khu vực Mỹ Latinh và vùng Caribe, có thể gây thiệt hại kinh tế lên tới 4 tỷ USD.

Đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp nhiễm virus Zika nào, tuy nhiên khả năng xâm nhập virus Zika vào Việt Nam là hoàn toàn có thể. Để công tác phòng, chống dịch hiệu quả, Bộ Y tế đề nghị, giám sát chặt chẽ tất cả các đối tượng đi từ vùng dịch về nếu phát hiện có các triệu chứng bất thường; các đơn vị chức năng của Bộ phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với Tổ chức Y tế thế giới về những diễn biến mới liên quan đến dịch bệnh Zika; tăng cường quản lý hóa chất, giám sát tình hình dịch bệnh từ các địa phương, tiến hành tổ chức tập huấn giám sát cho các cơ sở, đơn vị, địa phương; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông, thông tin tới người dân một cách nhanh chóng và chính xác để người dân có thể chủ động phòng chống dịch bệnh. Bộ Y tế cũng đưa ra khuyến cáo với công dân, đặc biệt là phụ nữ mang thai, phụ nữ đang có ý định mang thai nếu không có việc cần thiết thì không đi đến các vùng lưu hành dịch bệnh Zika.​​ Đối với các sản phụ, hai tháng đi siêu âm một lần, nếu phát hiện có bất thường cần lấy mẫu xét nghiệm để có xử lý kịp thời.

III. TIN THẾ GIỚI

1. Một số nét chính về quan hệ Việt Nam với các nước trong thời gian gần đây

- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Thống nhất Tan-da-ni-a, Cộng hòa Mô-dăm-bích và Cộng hòa Hồi giáo I-ran từ ngày 09 đến 15/3/2016: Chuyến thăm nhằm tăng cường quan hệ truyền thống hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam với Tan-da-ni-a, Mô-dăm-bích và I-ran. Việt Nam và Tan-da-ni-a đã ký Thông cáo chung nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực thương mại và đầu tư; giáo dục; khoa học và công nghệ; sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm (hạt điều, sữa…), thức ăn chăn nuôi; nuôi trồng thủy sản; sản xuất máy nông cụ…; cam kết thúc đẩy để sớm ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư; tiếp tục hợp tác để bảo vệ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, nhất là nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Việt Nam và Mô-dăm-bích ký Thông cáo chung nhất trí tăng cường trao đổi đoàn cấp cao; khuyến khích doanh nghiệp hai nước hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, thương mại, viễn thông, dầu khí và công nghiệp chế biến; tiếp tục thúc đẩy hòa bình và an ninh của khu vực và quốc tế, dựa trên cơ sở Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế. Việt Nam và I-ran đã tiến hành trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao; tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại; phối hợp và ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế và khu vực.

- Hội thảo quốc tế về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ngày 11/3/2016 tại Thủ đô Paris (Pháp), với chủ đề Việt Nam sau Đại hội XII - gián đoạn hay liên tục?”. Hội thảo chia làm ba phần, với 12 tham luận của các diễn giả Pháp và Việt Nam đã trình bày khái quát tình hình các mặt đối nội và đối ngoại của Việt Nam thời gian qua, những nội dung lớn và ý kiến thảo luận chủ yếu tại Đại hội, các quyết sách của Đại hội về định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong thời gian tới nói chung cũng như phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế trong giai đoạn 2016 - 2020 nói riêng; đánh giá tổng kết 30 năm Đổi mới toàn diện đất nước và phân tích những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn Đổi mới; nhấn mạnh việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém và hạn chế mà nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; khẳng định con đường Đổi mới và đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Các đại biểu dự Hội thảo chia sẻ đánh giá về tình hình phức tạp ở khu vực và trên thế giới, trong đó có tình hình Biển Đông, tán thành và ủng hộ chủ trương của Việt Nam giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

2. Một số tình hình thế giới đáng chú ý thời gian gần đây

Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tổ chức ngày 27/02/2016 tại thủ đô Viêng Chăn (Lào), với chủ đề “Biến tầm nhìn thành hiện thực vì một Cộng đồng ASEAN năng động”. Đây là hội nghị ASEAN đầu tiên trong năm với vai trò Chủ tịch ASEAN 2016 của Lào và là Hội nghị đầu tiên của ASEAN sau khi ASEAN thành lập Cộng đồng chung (31/12/2015). Hội nghị thảo luận các biện pháp triển khai hiệu quả Tầm nhìn ASEAN 2025 và các Kế hoạch Tổng thể về ba trụ cột của Cộng đồng, nhất là Cộng đồng Chính trị-An ninh. Các nước nhất trí xác định các lĩnh vực và biện pháp ưu tiên trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, xây dựng lộ trình triển khai cụ thể, huy động và phân bổ nguồn lực phù hợp, tăng cường các cơ chế giám sát và điều phối ở cả cấp quốc gia và khu vực; củng cố đoàn kết, thống nhất của ASEAN, phát huy vai trò chủ đạo của ASEAN trong việc duy trì hòa bình, an ninh khu vực; đẩy mạnh đối thoại, hợp tác, tăng cường lòng tin, hiểu biết và sự tin cậy giữa các nước; nâng cao năng lực của ASEAN nhằm ứng phó kịp thời và hữu hiệu với các thách thức đang và sẽ đặt ra; tăng cường quan hệ giữa ASEAN với các đối tác. Về vấn đề Biển Đông, các đại biểu chia sẻ quan ngại sâu sắc về những diễn biến phức tạp đã, đang diễn ra ở Biển Đông, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực; nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; không quân sự hóa, kiềm chế, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 và đạt tiến triển thực chất trong việc thực hiện Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC).

- Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc (HĐBA LHQ) đã bỏ phiếu nhất trí thông qua Nghị quyết trừng phạt CHDCND Triều Tiên ngày 02/3/2016. Đây là nghị quyết trừng phạt thứ 5 của HĐBA LHQ dành cho Triều Tiên, kể từ vụ thử hạt nhân đầu tiên năm 2006 đến nay. Nội dung Nghị quyết bao gồm việc siết chặt kiểm tra các phương tiện chở hàng hóa xuất nhập cảnh vào Triều Tiên trên cả đường bộ, đường biển và đường hàng không; cấm chuyển giao vũ khí loại nhỏ cùng những loại vũ khí tiêu chuẩn khác cho Triều Tiên; trục xuất những nhà ngoại giao của Triều Tiên đang tham gia vào “các hoạt động bất hợp pháp”; cấm xuất khẩu than, sắt, vàng, titanium, vanadium... Ngoài ra, Nghị quyết còn cấm tất cả các nước mở chi nhánh mới, công ty con và các văn phòng đại diện của ngân hàng ở Triều Tiên và cấm các tổ chức tài chính thiết lập liên doanh hoặc duy trì các mối quan hệ đại lý với các ngân hàng này; yêu cầu các nước đóng cửa tất cả các ngân hàng hiện có của Triều Tiên và chấm dứt tất cả các mối quan hệ ngân hàng trong vòng 90 ngày…

Sau khi Nghị quyết được thông qua, Tổng thư ký Liên Hợp quốc Ban Ki-moon yêu cầu Triều Tiên “cần quay lại việc tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế của mình”. Các nước Mỹ, Anh, Nga, Trung Quốc ủng hộ Nghị quyết của HĐBA LHQ và cho rằng Nghị quyết này đã mở ra một tiến trình chính trị vững chắc để giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên sau khi nước này rút khỏi các cuộc đàm phán năm 2008.

3. Trung Quốc lộ rõ mưu đồ độc chiếm Biển Đông

Thời gian gần đây, Trung Quốc đã triển khai các thiết bị quân sự, vũ khí trên các đảo ở Biển Đông mà Trung Quốc đã dùng vũ lực, chiếm đóng trái phép của Việt Nam. Đây là bước leo thang mới của Trung Quốc trong việc theo đuổi chiến lược quân sự hóa Biển Đông nhằm khống chế và tiến tới độc chiếm Biển Đông. Động thái trên đây đã làm gia tăng lo ngại cũng như căng thẳng trong khu vực trái với những thỏa thuận cấp cao hai nước Việt - Trung và kiến nghị 10 điểm mà Trung Quốc đề xuất tại Cuộc họp lần thứ 47 giữa ASEAN với các đối tác (tháng 8/2015). Mưu đồ đó được cụ thể hóa bằng các chiến lược:

Thực hiện chiến lược chuyển giai đoạn từ hợp tác sang cạnh tranh

Theo giới nghiên cứu, để hiện thực hóa tham vọng “đường lưỡi bò”, Trung Quốc đã xác định 3 mục tiêu và 3 giải pháp chính là:

Thứ nhất, chủ trương “hợp nhất khu vực”, quan hệ Trung Quốc - ASEAN được Trung Quốc coi là ưu tiên hàng đầu, nhằm thực thi một phần trong chính sách “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc. Sự hợp nhất khu vực sẽ bao gồm cả chính trị và kinh tế.

Thứ hai, chính sách “kiểm soát tài nguyên” là mục tiêu Trung Quốc hướng tới nhằm nâng cao an ninh tài nguyên lâu dài và bảo đảm sự kiểm soát hầu hết tài nguyên sinh vật và vi sinh vật ở Biển Đông. Việc công bố “đường lưỡi bò” (2010), cắt cáp tàu Bình Minh 02 của Việt Nam (2012), sự kiện Bãi Cỏ Mây ở Phi-líp-pin (2013) và hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 (2014) đều nằm trong chuỗi các vấn đề tư duy về an ninh tài nguyên biển và chiến lược giành quyền kiểm soát  tài nguyên ở Biển Đông. 

Thứ ba, chính sách “an ninh nâng cao” là mục tiêu của Trung Quốc nhằm bảo đảm sự kiểm soát của họ đối với Biển Đông, tạo ra một vùng đệm an ninh biển để bảo vệ các trung tâm dân số lớn thuộc các vùng công nghiệp và văn hóa khu vực duyên hải phía Đông của Trung Quốc. Những hành động gần đây cho thấy Trung Quốc đang thể hiện ý định “an ninh nâng cao” của họ bằng cách cạnh tranh với các bên yêu sách khác về chủ quyền, quyền tài phán và quyền kiểm soát đối với Biển Đông.

Thực hiện giải pháp được gọi là “linh hoạt”

Tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc từ “thầm kín”, nay trở nên “trắng trợn” hơn. Với một nước lớn có GDP đứng thứ 2 thế giới, Trung Quốc luôn muốn có vai trò lãnh đạo khu vực và cạnh tranh vị thế toàn cầu với Mỹ, nên Trung Quốc “đang thực hiện cái gọi là kiềm chế”. Từ những hoạt động triển khai, bố trí trang bị vũ khí của Trung Quốc ở đảo Phú Lâm cũng như các hòn đảo, bãi đá chiếm đóng phi pháp bằng vũ lực trên Biển Đông là họ đang hiện thực hóa mưu đồ khống chế tiến tới độc chiếm Biển Đông. Như vậy, tham vọng độc chiếm Biển Đông theo cái gọi là “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là không thay đổi; tuy nhiên, các giải pháp nhằm triển khai và thực hiện chiến lược của Trung Quốc bằng giải pháp mới mà họ cho là “linh hoạt’ hơn.

Những nhận định và phản ứng của dư luận quốc tế

Trước những hành động quân sự hóa các đảo ở Biển Đông thời gian gần đây của Trung Quốc, các nước lớn Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Ốt-xtrây-li-a, Niu Di-lân, ASEAN... đã lên án mạnh mẽ và quyết liệt bằng cả hình thức ngoại giao và hoạt động quân sự; bên cạnh đó, giới chức nhiều nước trên thế giới cũng đã có những nhận định, đánh giá, phê phán những hành động ngang ngược bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.

Về phía Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nhấn mạnh: “các hành động nói trên của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực cũng như an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động sai trái đó”; Việt Nam gửi công hàm đến Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối và có công hàm gửi Tổng Thư ký Liên Hợp quốc đề nghị cho lưu hành như văn bản chính thức tại Liên Hợp quốc.

4Vì sao nước Anh muốn rút khỏi Liên minh châu Âu?

Sau nhiều thập niên mở rộng không ngừng và phát triển thịnh vượng, Liên minh châu Âu (EU) đang đối diện với nhiều thử thách lớn. Trong 02 ngày từ 18 - 19/02/2016, Hội nghị thượng đỉnh Liên minh châu Âu (EU) diễn ra tại Brúc-xen (Bỉ), các nhà lãnh đạo EU đã tranh luận gay gắt với nhau để tìm kiếm một sự đồng thuận về cam kết cải cách, nhằm giữ chân nước Anh, một thành viên quan trọng của Liên minh. Tuy nhiên, việc nước Anh ra khỏi hay ở lại EU sẽ được người dân Anh quyết định trong kỳ trưng cầu dân ý diễn ra vào ngày 23/6/2016. Các chuyên gia quốc tế đã đưa ra 5 lý do khiến Anh muốn ra khỏi EU là: 

Thứ nhất, kiểm soát nhập cư: nhập cư đang là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của cử tri Anh. Hiện nay, có hơn một nửa số người nhập cư vào Anh đến từ EU, chủ yếu từ các nước Đông Âu (Ba Lan, Ru-ma-ni, các nước Ban Tích…) do Quy chế tự do lưu thông trong nội bộ EU đang gây khó khăn cho chính sách an sinh xã hội và bảo đảm an ninh nội địa của nước Anh. Do vậy, nước Anh đang muốn siết chặt hơn qui định nhập cảnh và tăng cường việc kiểm tra, kiểm soát trở lại khu vực biên giới với các nước trong EU của mình.

Thứ hai, khôi phục chủ quyền: Trong tư tưởng của người Anh, chủ quyền dân tộc là rất thiêng liêng. Người Anh lên án tính thiếu dân chủ của các quyết định được gọi là Ủy ban châu Âu (EC) không được người dân bầu lên. Nhiều người Anh cứng rắn đòi phải có quyền phủ quyết đối với các quyết định của EC và đề nghị đưa quyền được ra quyết định trở về cho Quốc hội Anh. Họ coi thường các quyết định chính trị thông qua bằng đồng thuận của 28 nước, thông qua Tòa công lý hay Tòa nhân quyền châu Âu về một chính sách đối ngoại hoặc quốc phòng chung.

Thứ ba, không muốn tiếp tục đi trên con tàu đang bị chìm: Mặc dù không tham gia khu vực đồng Euro, nhưng Anh cảm thấy tình hình khủng hoảng khu vực này chưa chấm dứt, cộng với tình hình nợ của Hy Lạp và vấn đề nhập cư đang làm cho EU ngày càng mất vị thế. Từ hai năm nay, nhờ năng động kinh tế, Anh đang lấy lại đà phục hồi và muốn tách khỏi EU để phát triển tốt hơn.

Thứ tư, muốn thoát khỏi những qui định của EU: Các công ty đa quốc gia ủng hộ Anh ở lại EU, nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Anh phàn nàn về những qui trình, qui phạm do EU áp đặt làm hạn chế tự do hoạt động của họ. Nông dân Anh phê phán những gò bó của chính sách nông nghiệp chung; ngư dân kêu ca về những hạn chế đối với họ; ngành y phản đối qui định thời gian làm việc 48 giờ/tuần đối với các bác sĩ hành nghề tại bệnh viện… Nếu Anh ra khỏi EU sẽ tiết kiệm được 1 tỷ Bảng phải đóng góp hàng năm cho ngân sách của EU.

Thứ năm, được tự do thương mại với thế giới: Những người Anh hoài nghi EU cho rằng, thương mại của Anh có thể tốt hơn nếu ở ngoài EU và Anh nên có văn phòng đại diện riêng bên cạnh WTO để ký với các đối tác thương mại nước ngoài, như: Trung Quốc, Ấn Độ, các nước mới nổi châu Á và Mỹ La-tinh và lấy lại vị trí của Anh trên trường quốc tế. Sau khi rời EU, Anh sẽ ưu tiên quan hệ thương mại với các nước trong khối thịnh vượng chung.

________

 

[1] Theo Kế hoạch số 416/KH-UBND, ngày 02-3-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh

(1) Theo Quyết định 715/QĐ-TTg,  ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định kỳ biên soạn số liệu GRDP là 6 tháng và năm, không biên soạn GRDP quý. 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

TÀI LIỆU

phục vụ giao ban báo chí quí III-2017

Lượt xem:177 | lượt tải:62

Hướng dẫn số 31-HD/BTGTU

Hướng dẫn công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2018

Lượt xem:262 | lượt tải:0

Công văn số 70-CV/TCTG

phát hành Sổ tay Tuyên giáo 2018

Lượt xem:175 | lượt tải:44

Số 1024 - CV/BTGTU

V/v đăng ký tham gia tập huấn về phương pháp nghiên cứu và biên soạn Lịch sử.

Lượt xem:5799 | lượt tải:0

Công văn số 1025 - CV/BTGTU

V/v tuyên truyền APEC Việt Nam năm 2017

Lượt xem:397 | lượt tải:0

Công văn số 1017-CV/BTGTU

về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền "Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào 2017"

Lượt xem:746 | lượt tải:0

Hướng dẫn số 30-HD/BTGTU

tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga

Lượt xem:735 | lượt tải:0
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập18
  • Hôm nay1,202
  • Tháng hiện tại54,065
  • Tổng lượt truy cập429,669
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
      Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
      Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
      Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum. Điện thoại: 0260.3862301. Email: phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây