Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 12-2019 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 12-2019

Thứ hai - 25/11/2019 20:58
A. NỘI DUNG TRỌNG TÂM SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 12-2019
- Lãnh đạo tuyên truyền: việc triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết HNTW lần thứ 11 (khóa XII); kết quả kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV; về Kỳ họp thứ 9 HĐND tỉnh khóa XI; kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2019.
Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng của Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05-8-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng "về nông nghiệp, nông dân, nông thôn"; Kết luận số 54-KL/TW, ngày 07-8-2019 của Bộ Chính trị "về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn". Tuyên truyền Kết luận số 56-KL/TW, ngày 23-8-2019 của Bộ Chính trị "về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường"  (theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại Công văn số 892-CV/TU, ngày 14-11-2019).
Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ, các sự kiện chính trị diễn ra trong tháng 12-2019, đậm nét là các hoạt động kỷ niệm 88 năm Cuộc đấu tranh Lưu huyết tại Ngục Kon Tum (12/12/1931-12/12/2019); 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019) và 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2019).
Đẩy mạnh tuyên truyền các biện pháp phòng, chống dịch cúm A (H1N1); tổ chức truyền thông, hướng dẫn cho người dân về cách nhận biết dấu hiệu của bệnh và các biện pháp phòng, chống. Tiếp tục tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết, dịch tả lợn Châu Phi.
- Ngoài ra, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Tiếp tục tuyên truyền việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Tiếp tục tuyên truyền về kết quả 03 năm thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 01-6-2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh "về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, có tính đến năm 2025" và Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 23-8-2016 "về tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020". Tuyên truyền về công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020-2025 (theo Kế hoạch số 100-KH/TU, ngày 03-7-2019 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Công văn số 865-CV/TU, ngày 9-10-2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thống nhất thời gian tổ chức đại hội điểm cấp cơ sở, nhiệm kỳ 2020-2025).
Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta. 
B. THÔNG TIN THỜI SỰ
I. THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1: Bộ Chính trị ban hành Kết luận về công tác dân tộc trong tình hình mới
Ngày 30-10-2019, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.
Tại phiên họp ngày 17-10-2019, sau khi nghe Ban Chỉ đạo Trung ương báo cáo kết quả tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa IX, ý kiến của các cơ quan liên quan, Bộ Chính trị đã kết luận: (a) Qua hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết, công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Ðảng, Nhà nước. (b) Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp đã cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết phù hợp với điều kiện của địa phương, đơn vị. Nhà nước đã ban hành chính sách, pháp luật, bố trí nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tăng cường vận động, tuyên truyền, động viên đồng bào dân tộc thiểu số tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, phát huy nội lực để phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước. (c) Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư, góp phần tạo diện mạo mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện rõ nét. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ; các giá trị văn hóa dân tộc truyền thống được bảo tồn và phát huy. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản được bảo đảm; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc, miền núi được tăng cường, đội ngũ cán bộ được kiện toàn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ. Quốc phòng, an ninh, chính trị được giữ vững, ổn định.
Bên cạnh những thành tựu nêu trên, công tác dân tộc còn không ít khuyết điểm, hạn chế. Ðến nay, chưa thực hiện được một số mục tiêu quan trọng Nghị quyết đã đề ra. Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung chuyển biến chậm. So với sự phát triển chung của cả nước và từng địa phương, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế - xã hội phát triển chậm; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo và nguy cơ tái nghèo cao; khoảng cách giàu - nghèo có xu hướng gia tăng. Hủ tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan chậm được khắc phục; còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Khuyết điểm và hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan, song chủ yếu là nguyên nhân chủ quan: (a) Một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về công tác dân tộc, thiếu sâu sát trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Nghị quyết; chưa quan tâm đúng mức đến công tác tạo nguồn quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số. (b) Chính sách, pháp luật được ban hành chủ yếu là hỗ trợ, chưa ưu tiên tập trung đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. (c) Chưa chú trọng đúng mức phát huy tiềm năng, lợi thế, văn hóa của từng vùng, từng dân tộc; chưa thúc đẩy việc kết nối giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với vùng phát triển; một số chính sách chưa tạo động lực cho đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên, tự lập trong cuộc sống. (d) Cơ chế điều hành, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ trong việc thực hiện các chương trình, dự án. Cơ chế phân cấp, phân quyền để tạo chủ động cho chính quyền địa phương chưa hợp lý; quy trình thủ tục đầu tư công chưa phù hợp với điều kiện, đặc điểm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là vùng đặc biệt khó khăn. Công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện công tác dân tộc thiếu thống nhất; một bộ phận cán bộ làm công tác dân tộc, cán bộ vùng dân tộc thiểu số và miền núi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân dân các cấp tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX nhằm phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chú trọng các nội dung sau: (1) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới. Kiên trì thực hiện các quan điểm của Ðảng về công tác dân tộc trong Nghị quyết 24 và các nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII; xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị. (2) Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh vùng dân tộc miền núi phải toàn diện, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc thiểu số. (3) Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường đồng thuận xã hội; củng cố lòng tin của đồng bào với Ðảng và Nhà nước, phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hòa nhập phát triển cùng với đất nước. (4) Phát huy mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm quốc phòng - an ninh; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức thiết. Rà soát, lồng ghép, sửa đổi, bổ sung chính sách; nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án; tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực để đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thúc đẩy đào tạo nghề, tạo việc làm, nâng cao hiệu quả và mở rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh. (5) Ðẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy thế mạnh của địa phương, phù hợp với văn hóa, tập quán từng dân tộc. Hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, tạo sản phẩm đặc sản, giá trị cao. Chú trọng phát triển liên vùng, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng. Quan tâm phát triển du lịch, nhất là du lịch sinh thái, gắn kết du lịch với giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số. (6) Tập trung giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt và tranh chấp, khiếu kiện về đất đai; đẩy nhanh việc hoàn thành các dự án định canh, định cư mới gắn với quy hoạch sắp xếp, ổn định dân cư, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng di cư tự phát. Ðến năm 2025, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở cho đồng bào. Ðiều chỉnh cơ chế, chính sách, định mức khoán bảo vệ rừng, tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, không gian sinh sống của đồng bào. (7) Ưu tiên nguồn lực nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là đường giao thông, công trình thủy lợi, chợ, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa phải được kiên cố hóa; bảo đảm các hộ gia đình dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới quốc gia, dịch vụ phát thanh, truyền hình, viễn thông, tiếp cận công nghệ thông tin phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt. Ban hành tiêu chí nông thôn mới phù hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Phấn đấu đến năm 2030 không còn địa bàn khó khăn. (8) Phát triển đồng bộ các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. (9) Nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Giữ vững và phát huy thành quả xóa mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Nâng cao chất lượng và mở rộng hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; hỗ trợ việc ăn, ở cho học sinh, sinh viên vùng địa bàn đặc biệt khó khăn. (10) Ðổi mới phương thức tuyển sinh theo hướng cử tuyển, chế độ dự bị đại học, đào tạo nghề cho đối tượng người dân tộc thiểu số. Có chính sách giải quyết việc làm đối với thanh niên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng và đào tạo nghề; có cơ chế chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. (11) Nâng cao tỷ lệ khám, chữa bệnh và chất lượng các dịch vụ y tế, nhất là khám, chữa bệnh ban đầu ở tuyến cơ sở; phát triển y học dân tộc kết hợp với y học hiện đại; đẩy mạnh phát triển y tế dự phòng; thực hiện các giải pháp đồng bộ. Tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ y tế, khám, chữa bệnh ở tuyến Trung ương thông qua chính sách bảo hiểm y tế. (12) Có biện pháp triển khai đầy đủ, kịp thời các chương trình tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Xây dựng và thực hiện chiến lược về phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, nâng cao sức khỏe, tầm vóc thanh, thiếu niên dân tộc thiểu số. Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế, có cơ chế đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu là đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương. (13) Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của người dân. Ðầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở từng vùng, từng địa phương; quan tâm tu bổ, bảo tồn các công trình di tích lịch sử, văn hoá; sưu tầm, bảo tồn và phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò làm chủ của đồng bào trong xây dựng đời sống văn hóa, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu. Có biện pháp quyết liệt để xóa bỏ tình trạng tảo hôn, chấm dứt sớm hôn nhân cận huyết thống. (14) Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy vai trò tích cực của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Ðấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. (15) Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết những mâu thuẫn ngay từ cơ sở, kiên quyết không để xảy ra các "điểm nóng", "điểm phức tạp" về an ninh trật tự, đặc biệt ở các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền trung. Chủ động đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật, buôn bán người, ma túy, xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nhất là ở khu vực biên giới. Tăng cường quan hệ hợp tác, đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân vùng biên giới. (16) Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tăng cường phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số và khắc phục tình trạng không có tổ chức đảng và đảng viên ở các thôn, bản, nhất là đảng viên là người dân tộc thiểu số ở những vùng trọng điểm, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường hoạt động của các mô hình tự quản tại cộng đồng; biểu dương, tôn vinh, động viên người tiêu biểu có uy tín, doanh nhân, nhà khoa học trong cộng đồng các dân tộc thiểu số có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (17) Tập trung phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; có giải pháp cụ thể, hiệu quả để bảo đảm tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong cấp ủy và các cơ quan dân cử các cấp. Có chính sách đặc thù tuyển dụng công chức, viên chức đối với dân tộc thiểu số rất ít người, nhóm dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Chú trọng phát hiện, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thực hiện tốt chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân tộc thiểu số. (18) Có cơ chế để phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận tốt hơn dịch vụ công, dịch vụ xã hội thiết yếu. Quan tâm tạo nguồn cán bộ nữ dân tộc thiểu số; hỗ trợ nâng cao năng lực để tham gia vị trí quản lý lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị. (19) Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, lồng ghép, tích hợp các chính sách hiện hành để hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ðổi mới phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Xây dựng tiêu chí phân định lại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng xác định rõ vùng dân tộc thiểu số (tỉnh, huyện, xã, thôn, bản), địa bàn xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thực hiện chính sách dân tộc. Ðổi mới mô hình tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. (20) Các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở vùng dân tộc thiểu số và miền núi có trách nhiệm phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận này. (21) Ðảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo xây dựng "Ðề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi" và "Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030". (22) Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, ổn định, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; hoàn thiện chính sách đối với cán bộ làm công tác dân tộc, nhất là cán bộ công tác ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. (23) Ban Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Ủy ban Dân tộc, các cơ quan, tổ chức liên quan chịu trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả thực hiện Kết luận này.
Chuyên đề 2: 16 điểm mới trong Bộ luật Lao động (sửa đổi)
Sáng ngày 20/11/2019, Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua với 435/453 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 90,06%.
Bộ luật Lao động được thông qua có 17 chương, 220 điều, đã thể hiện được 10 điểm mới chủ yếu đối với người lao động và 6 điểm mới chủ yếu đối với người sử dụng lao động.
* 10 điểm mới chủ yếu đối với người lao động:
Thứ nhất, lần đầu tiên mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động đối với người làm việc không có quan hệ lao động về một số tiêu chuẩn lao động.
Thứ hai, quy định về nguyên tắc nhằm bảo đảm quyền của các tổ chức đại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong đối thoại, thương lượng, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Thứ ba, chế định về hợp đồng lao động quy định theo hướng bảo vệ tốt hơn đối với người lao động như: quy định hợp đồng lao động là sự thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương...
Đồng thời bổ sung quy định để nâng cao nhận diện về hợp đồng lao động; quy định hình thức giao kết hợp đồng lao động thông qua phương tiện điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản; người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do mà chỉ cần báo trước theo thời hạn quy định tương ứng với các loại hợp đồng lao động;
Quy định linh hoạt về thử việc bằng việc thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng thử việc; được quyền yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của mình khi chấm dứt hợp đồng lao động và các chi phí của việc cung cấp này do người sử dụng lao động trả...
Thứ tư, quy định cụ thể về các trường hợp được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm nhằm bảo đảm quyền lợi lâu dài cho người lao động; bổ sung một ngày nghỉ hưởng nguyên lương đối với người lao động liền kề với Ngày Quốc khánh 02/9; bổ sung thêm trường hợp người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương.
Thứ năm, quy định điều chỉnh nâng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình nhằm chuẩn bị, ứng phó với quá trình già hóa dân số, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Thứ sáu, quy định mở rộng phạm vi áp dụng của thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể nhiều doanh nghiệp nhằm khuyến khích áp dụng các thỏa thuận có lợi hơn đối với người lao động.
Thứ bảy, quy định cụ thể hơn về cơ chế nhằm bảo vệ tốt hơn cho lao động chưa thành niên.
Thứ tám, về những quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới đã được thay đổi về quan điểm tiếp cận bảo đảm quyền việc làm, quyền lao động của lao động nữ thay vì quy định hạn chế như Bộ luật Lao động hiện hành nhằm vừa tạo điều kiện mở rộng cơ hội việc làm cho lao động nữ mà vẫn bảo đảm các điều kiện, tiêu chuẩn về lao động;
Bổ sung quy định trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới...
Thứ chín, quy định thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp không thuộc tổ chức Công đoàn Việt Nam nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong quan hệ lao động, phù hợp với các Công ước của ILO, các cam kết quốc tế khác và tạo thuận lợi trong quá trình hội nhập quốc tế.
Thứ mười, quy định linh hoạt hơn quyền lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp lao động sau khi tiến hành thủ tục hòa giải, không quy định sự can thiệp, giải quyết hành chính của nhà nước đối với giải quyết tranh chấp lao động.
Bổ sung các trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể yêu cầu đúng thời hạn thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan chuyên môn về lao động - thương binh và xã hội thuộc Ủy ban nhân dân là đầu mối tiếp nhận các yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động, có trách nhiệm phân loại, hướng dẫn hỗ trợ và giúp đỡ các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.
* 6 điểm mới đối với người sử dụng lao động:
Thứ nhất, lần đầu tiên luật hóa vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và tham gia xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động khác.
Thứ hai, mở rộng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động; người sử dụng lao động được quyền ký kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn đối với lao động cao tuổi và lao động là người nước ngoài.
Thứ ba, về tiền lương, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp, tiền lương được thực hiện trên cơ sở thương lượng, thoả thuận giữa các bên; doanh nghiệp chủ động trong việc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động; bổ sung quy định trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận.
Thứ tư, quy định đối thoại định kỳ tại doanh nghiệp được nâng lên 1 năm một lần.
Thứ năm, quy định linh hoạt về đăng ký nội quy lao động bằng việc có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Thứ sáu, các quy định về giải quyết tranh chấp lao động linh hoạt hơn tạo thuận lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động.
II. TIN TRONG TỈNH
1. Chiều 1-11, Đoàn giám sát HĐND tỉnh do đồng chí Kring Ba - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh làm Trưởng đoàn có buổi làm việc với UBND tỉnh về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, thực hiện vốn đầu tư công, hoạt động của hệ thống phát thanh và truyền hình trên địa bàn tỉnh.
Tham dự buổi làm việc có các đồng chí: Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Lê Ngọc Tuấn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành; lãnh đạo các huyện, thành phố.
Thời gian qua, UBND tỉnh chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành về tăng cường thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đất đai, xây dựng. Qua đó, đã tiến hành 58 cuộc thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực đất đai, xây dựng; phát hiện và xử lý đối với 496 trường hợp, trong đó lĩnh vực đất đai 194 trường hợp, lĩnh vực xây dựng 302 trường hợp.
Về thực hiện vốn đầu tư công, tổng kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2019 được Trung ương giao cho tỉnh là 2.248.110 triệu đồng; đến nay tổng số vốn đã được phân bổ chi tiết cho các dự án là 2.100.044 triệu đồng, trong đó vốn trong nước 1.551.867 triệu đồng, vốn nước ngoài 548.177 triệu đồng. Ngoài ra, theo quy định tại Nghị định số 120/2018/NĐ-CP ngày 13/9/2018 của Chính phủ, vốn kế hoạch năm 2018 được kéo dài thời gian thực hiện sang năm 2019 là 571.082 triệu đồng; trong đó các nguồn vốn thuộc ngân sách địa phương 32.718 triệu đồng, các nguồn vốn thuộc ngân sách Trung ương 80.121 triệu đồng, nguồn trái phiếu Chính phủ 410.482 triệu đồng, vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài 47.760 triệu đồng…
Đối với lĩnh vực phát thanh và truyền hình, UBND tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo để tăng cường công tác quản lý và hoạt động đối với công tác phát thanh, truyền hình của tỉnh; Sở Thông tin và Truyền thông ban hành hơn 10 văn bản hướng dẫn cơ sở thực hiện các nhiệm vụ về phát thanh, truyền hình cơ sở. Tuy nhiên, UBND cấp huyện, cấp xã chưa quan tâm thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý, chưa xây dựng quy chế quản lý và hoạt động của trạm truyền thanh cơ sở, chưa kịp thời chấn chỉnh xử lý những khó khăn, tồn tại...
Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa yêu cầu lãnh đạo các sở ngành, UBND các địa phương tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2019 theo kế hoạch đã đề ra; cần có giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế đối với các lĩnh vực mà Đoàn giám sát HĐND tỉnh chỉ ra; chú trọng đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai và xây dựng; xây dựng đề án chung đối với hoạt động phát thanh và truyền hình trên địa bàn tỉnh...
Phát biểu kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Kring Ba chỉ ra 9 tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng trong thời gian qua.
Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh đề nghị, trong thời gian tới, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương có biện pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế; xây dựng quy chế phối hợp liên ngành trong việc thanh kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng; đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội; củng cố hoạt động của hệ thống phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh...
2. Sáng 14-11 tại huyện Kon Plông, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh tổ chức Lễ phát động Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2019.
Dự Lễ phát động có đồng chí Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; lãnh đạo các sở, ngành, đoàn thể tỉnh; lãnh đạo các huyện, thành phố và cán bộ, nhân dân, học sinh, lực lượng vũ trang trên địa bàn huyện Kon Plông.
Tại Lễ phát động, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh đã thông tin, bạo lực trên cơ sở giới, đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em vẫn đang là vấn đề đáng báo động ở nhiều quốc gia.
Bình đẳng giới là chìa khoá để xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới. Thông điệp này đã được sử dụng xuyên suốt trong Tháng hành động ba năm qua như định hướng chính cho công tác truyền thông về phòng, chống bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em.
Tháng hành động có chủ đề "Chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em", một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc huy động sự tham gia đồng bộ, cùng sự vào cuộc một cách chủ động, mạnh mẽ của các cơ quan, tổ chức và mọi người dân trong cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em gái và nam giới trong việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và cam kết về một cộng đồng an toàn, không bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em.
Theo Kế hoạch số 2645/KH-UBND, ngày 11/10/2019 của UBND tỉnh, tháng hành động năm nay được phát động trên phạm vi toàn tỉnh từ ngày 15/11 - 15/12/2019 với các hoạt động chính: Tổ chức Lễ phát động Tháng hành động; tổ chức tuyên truyền các chủ đề, thông điệp và hoạt động của Tháng hành động trên phương tiện thông tin đại chúng tại địa phương, trên các trang thông tin điện tử các sở, ngành, đoàn thể; tuyên truyền trực quan; tổ chức kiểm tra về bình đẳng giới ở các cấp, các ngành... nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới.
3. Kỷ niệm 37 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, trên địa bàn tỉnh đã diễn ra nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa nhằm tri ân sự đóng góp của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên ngành Giáo dục.
Tại các trường học, ngoài tổ chức hội diễn văn nghệ chào mừng còn phát động các cuộc thi làm báo tường, xây dựng công trình măng non, thi đua dạy tốt- học tốt, tổ chức tọa đàm ôn lại truyền thống tôn sư trọng đạo, thành quả ngành Giáo dục thành phố đạt được thời gian qua.
* Nhân dịp Kỷ niệm 37 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982-20/11/2019), sáng 19-11, Thường trực Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh do đồng chí Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đã đi thăm, tặng hoa, chúc mừng Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh, Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum; và Trường Chính trị tỉnh.
Sau nghe nghe đại diện lãnh đạo các đơn vị báo cáo một số kết quả đạt được từ đầu năm đến nay, phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, thay mặt lãnh đạo tỉnh, đồng chí Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ chúc cán bộ, giáo viên, nhân viên Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh , Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum và Trường Chính trị tỉnh luôn mạnh khỏe, yêu nghề, thi đua dạy tốt, xây dựng nền giáo dục tỉnh nhà ngày càng phát triển, trở thành một trong những nơi đào tạo nguồn nhân lực trọng điểm của khu vực Tây Nguyên và 3 nước Đông Dương.
* Cùng ngày, đồng chí Trần Thị Nga - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đến thăm và chúc mừng cán bộ, giáo viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum nhân kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam. Cùng đi có đại diện lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh, Sở Giáo dục - Đào tạo.
* Sáng 22-11, tại Trường PTDTNT tỉnh, Hội Cựu Giáo chức tỉnh cùng Công ty TNHH Dệt may Nguyên Dung (Thành phố Hồ Chí Minh) phối hợp tổ chức Lễ tri ân thầy cô giáo đã nghỉ hưu đang sinh sống trên địa bàn tỉnh.
Nhân dịp này, Công ty TNHH Dệt may Nguyên Dung  trao tặng 300 triệu đồng cho 50 giáo viên nghỉ hưu có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh (mỗi suất trị giá 6 triệu đồng) và tặng 250 phần quà (mỗi phần quà trị giá 500 ngàn đồng) cho 250 cựu giáo chức tham dự Lễ tri ân.
4. Sáng 20-11 tại Cục Thống kê tỉnh, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tỉnh tổ chức Hội nghị Tổng kết tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Đồng chí Lê Ngọc Tuấn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Hội nghị.
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 là cuộc tổng điều tra có quy mô lớn nhất được Tổng cục Thống kê thực hiện theo qui trình 10 năm một lần trên phạm vi toàn quốc. Đây là cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở lần thứ 5 tiến hành trên toàn quốc, kể từ ngày thống nhất đất nước.
Trong suốt quá trình tổ chức thực hiện Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 trên địa bàn, Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo các sở, ban ngành phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo các cấp. Nhờ đó, công tác điều tra diễn ra thuận lợi, việc thu thập thông tin kịp thời, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng.
Theo báo cáo kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 vào thời điểm 0 giờ ngày 1/4/2019, tỉnh Kon Tum có quy mô dân số là 540.438 người, trong đó nam có 271.619 người (chiếm 50,26%), nữ 268.819 người (chiếm 49,74%). Trên địa bàn có 42 dân tộc sinh sống, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 45,07%; còn lại là dân tộc khác chiếm tỷ lệ 54,93%. Sau 10 năm kể từ cuộc Tổng điều tra năm 2009, tăng hơn 110.000 người, bình quân mỗi năm tăng 11.000 người (tăng 2,28%). Mật độ dân số 56 người/km2, tăng 12 người/km2 so với năm 2009. Với kết quả này Kon Tum vẫn là một trong những tỉnh có dân số ít, xếp 60/63 tỉnh thành (hơn các tỉnh Bắc Kạn, Lai Châu và Cao Bằng). Hầu hết dân cư trên địa bàn sống trong các ngôi nhà kiên cố và bán kiên cố, chiếm tỷ lệ 89,99%. Diện tích nhà ở bình quân đầu người 18,61m2 (tăng so với năm 2009 5,11m2)…
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Ngoc Tuấn đánh giá cao công tác tổ chức chỉ đạo và phối hợp thực hiện của Ban Chỉ đạo tỉnh và cấp huyện, xã. Đồng thời, ghi nhận công sức đóng góp của 684 điều tra viên ở các xã, phường, thị trấn trong công tác điều tra; các điều tra viên ứng dụng triệt để công nghệ thông tin vào hoạt động tác nghiệp, góp phần vào thành công của cuộc Tổng điều tra đảm bảo thời gian, chất lượng thông tin thu thập được có độ tin cậy cao. Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh nhấn mạnh, kết quả cuộc Tổng điều tra này có ý nghĩa quan trọng, vừa phục vụ đánh giá kết quả thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011 - 2020, vừa là căn cứ để xây dựng Quy hoạch tỉnh và các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm. Đồng chí đề nghị, ngành Thống kê có thể công bố số liệu sơ bộ này cho địa phương sử dụng để xây dựng các mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách phát triển kinh tế-xã hội, nhất là phục vụ xây dựng văn kiện Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Tại Hội nghị, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra biểu dương và tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 12 tập thể và 70 cá nhân có thành tích xuất sắc trong cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.
5. Sáng 21-11 tại Cửa khẩu Phu Cưa (Lào), đoàn công tác tỉnh Kon Tum do Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Ngọc Tuấn làm trưởng đoàn đã làm việc với đoàn công tác của tỉnh Attapư do ngài Phon Sạ Mảy Miêng La Văn, Phó Tỉnh trưởng, Trưởng Ban Chỉ đạo công tác biên giới làm trưởng đoàn về tình hình hợp tác giữa 2 tỉnh Kon Tum, Attapeu và kiểm tra thực tế song phương dọc tuyến biên giới Việt Nam – Lào.
Tại buổi làm việc, hai bên đã thông tin cho nhau về tình hình quản lý, bảo vệ đường biên, cột mốc, cũng như công tác triển khai thực hiện các hiệp định, hiệp ước của hai nhà nước trong thời gian qua. Hai bên đã phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý, bảo vệ đường biên, cột mốc, chủ động tuyên truyền, vận động nhân dân hai bên biên giới chấp hành nghiêm Hiệp định về Quy chế biên giới Việt Nam –  Lào, đẩy mạnh phong trào quần chúng nhân dân tham gia tự quản đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự khu vực biên giới; đấu tranh ngăn chặn hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại; tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng tại các xã biên giới.
Bên cạnh đó, hai bên đã thường xuyên thông báo cho nhau các thông tin về chế độ, chính sách, thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động xuất nhập cảnh; triển khai trồng “Vườn cây hữu nghị” và triển khai nhiều hoạt động giao lưu văn hóa – văn nghệ; tổ chức khám chữa bệnh miễn phí….
Tại buổi làm việc, hai bên đã thống nhất tiếp tục triển khai tốt các thỏa thuận cấp cao giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào, chỉ đạo lực lượng biên giới tăng cường phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới, duy trì tuần tra song phương; tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân vùng biên giới nâng cao nhận thức tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào. Duy trì, kịp thời thông báo tình hình có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ biên giới, phối hợp đấu tranh các hoạt động vi phạm quy chế biên giới nhằm góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, phát triển bền vững.
6. Một số hoạt động quan trọng khác
6.1. Chiều 11-11, Thường trực Tỉnh ủy đã có buổi làm việc với Đảng ủy Quân sự tỉnh. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì buổi làm việc.
Phát biểu tại buổi làm việc, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng ghi nhận và biểu dương tập thể Đảng ủy và lãnh đạo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh trong thời gian qua đã bám sát Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội VI Đảng bộ Quân sự tỉnh, nhiệm kỳ 2015 – 2020 để lãnh đạo, tham mưu triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ quốc phòng, quân sự trên địa bàn tỉnh.
Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác quốc phòng, quân sự,  góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần XV, Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu thời gian tới Đảng ủy Quân sự tỉnh cần chủ động, quyết liệt hơn nữa trong lãnh đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ. Trước mắt, khẩn trương rà soát các chỉ tiêu, Nghị quyết Đại hội VI Đảng bộ Quân sự tỉnh, nhiệm kỳ 2015 – 2020, trên cơ sở đó,đề ra các giải pháp cụ thể, sát thực để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện  đạt kết quả ở mức cao nhất.
6.2. Ngày 12-11, Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm việc với Công ty cổ phần Tập đoàn TH.
Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy thống nhất chủ trương Tập đoàn TH nghiên cứu, lập thủ tục pháp lý triển khai các dự án đầu tư tại tỉnh. Tập đoàn TH là Tập đoàn lớn, có nhiều kinh nghiệm sẽ góp phần giúp tỉnh ta triển khai thực hiện có hiệu quả việc thực hiện nghị quyết của tỉnh. Các dự án được Tập đoàn quan tâm đầu tư như nuôi bò sữa, trồng cây ăn quả, dược liệu dưới tán rừng và dịch vụ du lịch... tận dụng thế mạnh của tỉnh.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy thông báo với Tập đoàn về chủ trương của tỉnh trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; các huyện chuẩn bị quỹ đất giới thiệu Tập đoàn; tỉnh báo cáo với Chính phủ và sắp đến chuyển đổi một số diện tích cây cao su sang trồng cây khác có hiệu quả kinh tế cao hơn. Đồng chí mong muốn Tập đoàn TH sẽ đồng hành với nông dân trong việc tổ chức các hợp tác xã để sản xuất hiệu quả hơn.
Tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa và bà Thái Hương - Chủ tịch Hội đồng Chiến lược Tập đoàn TH ký biên bản ghi nhớ về việc nghiên cứu đầu tư các dự án nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh.
6.3. Chiều 19-11, đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đối thoại với đại biểu phụ nữ tỉnh.
Phát biểu tại buổi đối thoại, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy gợi ý, định hướng cho chị em và các sở, ngành giúp chị em ý tưởng khởi nghiệp, nữ doanh nghiệp phát triển kinh tế; ngăn chặn tín dụng đen; phụ nữ phát triển hợp tác xã; an toàn thực phẩm trong trường học; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ...
III. TIN TRONG NƯỚC
1. Một số nội dung chủ yếu thông qua tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV
Ngày 21/10/2019, tại Thủ đô Hà Nội, khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV và dự kiến bế mạc ngày 27/11/2019. Tại Kỳ họp này, Quốc hội tập trung thảo luận một số nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, xem xét, thảo luận các báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2019; quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2020; đồng thời, xem xét, quyết định Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021 - 2025. Thứ hai, Quốc hội xem xét, thông qua 12 dự án luật, bộ luật, 04 dự thảo nghị quyết và cho ý kiến về 09 dự án luật khác nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của Hiến pháp năm 2013, góp phần bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật; củng cố quy định về kỷ cương, kỷ luật hành chính; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế của đất nước. Bên cạnh đó, Quốc hội nghe báo cáo về công tác đối ngoại năm 2019, trong đó có tình hình Biển Đông; xem xét phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 giữa Việt Nam và Cam-pu-chia; Nghị định thư Phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Cam-pu-chia, tạo khung pháp lý quan trọng, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu nhân dân giữa các tỉnh biên giới; đóng góp cho quan hệ hữu nghị, hòa bình, hợp tác phát triển giữa hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia. Thứ ba, Quốc hội tiến hành giám sát tối cao việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy giai đoạn 2014 - 2018; xem xét các báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ 8 và kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV; các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác thi hành án và công tác phòng, chống tham nhũng năm 2019; tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, công tác nhân sự và quyết định một số vấn đề quan trọng khác...
Từ sau Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV đến nay, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tổng hợp được 3.526 ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân cả nước, tập trung vào các vấn đề: (1) Đầu tư kết cấu hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu; (2) Giải ngân vốn đầu tư công; (3) Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; (4) Bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, đặc biệt là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; (5) Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền; tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vi phạm.
2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2019; nhiệm vụ và giải pháp thời gian tới
2.1. Một số kết quả đạt được: (a) Về kinh tế: Kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, CPI bình quân 10 tháng tăng 2,48% so với cùng kỳ năm 2018, là mức tăng bình quân 10 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây. Thị trường tiền tệ mặc dù chịu nhiều sức ép do biến động của thị trường thế giới, tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung..., nhưng nhờ sự điều hành chủ động, linh hoạt của các công cụ chính sách tiền tệ, phù hợp với thị trường, nên mặt bằng lãi suất, tỷ giá, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng vẫn tương đối ổn định, thanh khoản được đảm bảo. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2019 tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2018. Nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,4%, cao hơn mức tăng 8,9% cùng kỳ năm 2018. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2019 ước đạt 427,05 tỷ USD[1]. Tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 10 tháng là hơn 149.000 doanh nghiệp, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2018. Tiến độ thu ngân sách nhà nước 10 tháng đạt kết quả tích cực, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm 2019. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng ước đạt 16,2 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2018. Hệ số tín nhiệm quốc gia được cải thiện, tăng 10 bậc và 3,5 điểm trong Bảng xếp hạng Năng lực cạnh tranh toàn cầu[2]. (b) Về xã hội: Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, giải quyết việc làm, thông tin truyền thông, bảo vệ môi trường được chú trọng. Các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo người có công và các đối tượng chính sách được bảo đảm và thực hiện tốt. Chất lượng giáo dục đại học ngày càng được nâng cao, xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới. Đời sống của nhân dân được cải thiện; cả nước có khoảng 68 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 33,8% so với cùng kỳ năm 2018, tương ứng với gần 275,6 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 32,8%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói hơn 3,9 nghìn tấn gạo. Công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, xây dựng Chính phủ điện tử và công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục được đẩy mạnh. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, bảo vệ vững chắc chủ quyền của đất nước. Công tác đối ngoại đạt nhiều kết quả quan trọng, vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao.
2.2. Một số hạn chế, yếu kém: Đất nước vẫn còn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức từ bên ngoài, nhất là căng thẳng thương mại giữa các nước lớn diễn biến phức tạp, khó lường, tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp... Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp. Sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh tả lợn châu Phi, thiên tai, hạn hán. Sản xuất kinh doanh còn khó khăn, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trật tự an toàn giao thông, dịch bệnh, môi trường, đô thị, nhất là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh xử lý còn chậm, chưa có giải pháp hữu hiệu, kịp thời...
2.3. Nhiệm vụ, giải pháp các tháng cuối năm: Thứ nhất, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp với các chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô nhằm ổn định nền kinh tế và kiểm soát lạm phát. Kiểm soát tốt chất lượng hàng hóa để phục vụ nhân dân trong dịp cuối năm. Thứ hai, tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp, nhất là khởi nghiệp sáng tạo; điều hành thu, chi ngân sách linh hoạt, hiệu quả, tiết kiệm. Tăng cường hơn nữa công tác quản lý, đặc biệt là trật tự xây dựng, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường. Chủ động và thực hiện các giải pháp phòng, chống thiên tai, lũ lụt; thực hiện tốt công tác cứu hộ, cứu nạn, đảm bảo an toàn đời sống nhân dân. Thứ ba, tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ trong phát triển các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có quy mô lớn, hiệu quả và sức cạnh tranh cao. Thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, gắn với phát triển công nghệ, an ninh quốc phòng và hỗ trợ việc làm cho người lao động trong cả nước. Thứ tư, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ và chăm sóc, nâng cao sức khỏe của nhân dân. Tiếp tục rà soát, giải quyết hiệu quả chính sách hỗ trợ đối với người có công với cách mạng. Đẩy nhanh độ bao phủ của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Thứ năm, tập trung chỉ đạo, bố trí nguồn lực, thực hiện các chính sách đã ban hành về hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Tạo điều kiện để người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận thuận lợi với các dịch vụ xã hội cơ bản, có cơ hội để phát triển sản xuất kinh doanh. Thứ sáu, tiếp tục rà soát, đơn giản hóa, cắt giảm thực chất thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Thứ bảy, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước, tạo niềm tin và đồng thuận xã hội trong thực hiện nhiệm vụ; quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của năm 2019.
3. Kết quả 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
3.1. Một số kết quả đạt được: Thứ nhất, hệ thống cơ chế chính sách và các văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM) đã hoàn thành tương đối đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương triển khai thực hiện. Thứ hai, công tác chỉ đạo thực hiện Chương trình ở địa phương đã có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng, các địa phương được công nhận đạt chuẩn; nhiều cách làm sáng tạo, mô hình hiệu quả, sát thực tiễn và đảm bảo chất lượng ngày càng được phát triển và nhân rộng đã đánh dấu một bước chuyển về chất trong thực hiện Chương trình[3]. Thứ ba, đây là Chương trình duy nhất đã hình thành được hệ thống bộ máy tổ chức và cán bộ tham mưu giúp việc thực hiện Chương trình đồng bộ từ Trung ương tới cơ sở (tỉnh, huyện, xã, thôn, bản) hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, là nòng cốt tổ chức thực hiện Chương trình hiệu quả, chất lượng. Năng lực, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ vận hành Chương trình xây dựng NTM các cấp đã có tiến bộ rõ rệt, nhận thức đầy đủ hơn và chỉ đạo có hiệu quả và hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, nhất là trong việc xây dựng dự án, lập kế hoạch, vận động quần chúng và tổ chức, thực hiện dự án, thực hành dân chủ ở nông thôn. Thứ tư, chủ trương, chính sách xây dựng NTM đã huy động được sự tham gia của toàn xã hội[4]. Thứ năm, nợ đọng xây dựng cơ bản đã được các địa phương tập trung chỉ đạo quyết liệt, có các giải pháp hiệu quả để xử lý dứt điểm và hoàn thành tiến độ theo Nghị quyết của Quốc hội.
3.2. Một số tồn tại, hạn chế: Kết quả xây dựng NTM của một số vùng còn thấp hơn so với mặt bằng chung và còn khoảng cách chênh lệch khá lớn giữa các vùng, miền[5]. Nông thôn phát triển chưa đồng đều, kết nối kinh tế nông thôn - đô thị còn yếu; cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, một số nơi xuất hiện tình trạng bê tông hóa nông thôn. Ô nhiễm môi trường ở một số địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, trong đó có ô nhiễm nguồn nước ở các tuyến sông, kênh, mương; chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, nông sản trên phạm vi cả nước đã có chuyển biến nhưng chưa thực sự rõ nét. Sự gắn kết giữa xây dựng NTM và cơ cấu lại ngành nông nghiệp chưa chặt chẽ. Chất lượng đạt chuẩn và công tác duy trì bền vững kết quả sau đạt chuẩn còn nhiều hạn chế. Một số công trình hạ tầng chưa thực sự được quan tâm, duy tu, bảo dưỡng thường xuyên nên đang xuống cấp. Nhiều xã ở các khu vực khó khăn đã được ưu tiên nguồn lực đầu tư để phấn đấu đạt chuẩn, làm điển hình cho các xã khác học hỏi và làm theo. Tuy nhiên, chất lượng đạt chuẩn chỉ ở mức “chạm ngưỡng”. Việc hệ thống hóa tổ chức bộ máy vận hành chưa thực sự thống nhất và đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.
3.3. Một số bài học kinh nghiệm: Một là, sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời của cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là vai trò của người đứng đầu sẽ tạo ra sự chuyển biến rõ nét. Trong công tác chỉ đạo, điều hành xây dựng NTM, phải phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng cấp, từng ngành; đồng thời, nếu nhịp nhàng trong công tác điều phối chung, sẽ tạo sức mạnh tổng hợp; Hai là, phát huy vai trò tự lực, tự cường của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phát động, tham gia hưởng ứng các Phong trào xây dựng NTM ở cơ sở. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” là kim chỉ nam cho quá trình xây dựng NTM bền vững; Ba là, khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn có của địa phương về điều kiện tự nhiên và nhân lực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với xây dựng NTM; Bốn là, đối với Chương trình xây dựng NTM, việc chú trọng kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy tham mưu, giúp việc Ban Chỉ đạo các cấp là một giải pháp quan trọng tạo nên thành công; Năm là, thường xuyên tổng kết, bám sát thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách và cách làm sáng tạo, phù hợp với điều kiện của từng địa phương thông qua lựa chọn nội dung trọng tâm, nhiệm vụ ưu tiên để tập trung chỉ đạo và nguồn lực thực hiện.
3.4. Một số nhóm giải pháp trọng tâm thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM trong giai đoạn 2021 – 2025: Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và cư dân nông thôn, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng NTM, trong đó, chú trọng nâng cao vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng tham gia xây dựng NTM đi vào chiều sâu, đem lại sự chuyển biến tích cực rõ nét hơn tới từng thôn, bản, ấp, hộ gia đình và cuộc sống trực tiếp của mỗi người dân sinh sống ở nông thôn. Thứ hai, tập trung chỉ đạo các địa phương tiếp tục rà soát mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020 để hoàn thành và vượt mục tiêu của Thủ tướng Chính phủ đã giao; chủ động bắt tay vào xây dựng chương trình, kế hoạch xây dựng NTM giai đoạn sau năm 2020 theo hướng rõ mục tiêu, rõ việc, sát với điều kiện thực tiễn. Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật, cơ chế chính sách hỗ trợ xây dựng NTM theo hướng tiếp tục sáp nhập các chương trình, dự án có cùng nội dung đầu tư, nội dung hỗ trợ trên địa bàn nông thôn với Chương trình MTQG xây dựng NTM nhằm thống nhất cơ chế, chính sách hỗ trợ các địa phương triển khai hiệu quả các nội dung của Chương trình. Thứ tư, tăng cường thực hiện hiệu quả các giải pháp huy động nguồn lực thực hiện Chương trình. Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Chương trình. Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Thứ năm, tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế. Tăng cường trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ nguồn lực của các nước và hợp tác với các tổ chức quốc tế hỗ trợ tư vấn và kỹ thuật cho Chương trình; tranh thủ nguồn vốn ODA và vốn vay từ các tổ chức tài chính quốc tế, các đối tác phát triển quốc tế để tăng nguồn lực cho xây dựng NTM. Thứ sáu, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Chương trình, trong đó chú trọng quản lý chặt chẽ việc sử dụng các nguồn lực thực hiện Chương trình (bao gồm nguồn vốn ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác).
4. Nâng cao cảnh giác và đấu tranh với tổ chức phản động, khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”
Tổ chức phản động, khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tiền thân là tổ chức “Tân dân chủ” do Đào Minh Quân (sinh năm 1952, nguyên Trung úy quân đội Việt Nam cộng hòa) cùng một số đối tượng ngụy quân, ngụy quyền lưu vong ở Mỹ thành lập năm 1991. Từ đầu năm 2015 đến nay, tổ chức khủng bố này gia tăng hoạt động phát triển lực lượng ở trong nước với âm mưu tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại nhằm gây mất ổn định chính trị, tiến tới lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam, khôi phục cái gọi là “Nền đệ tam Cộng Hòa” với nhiều phương thức, như:
(1) Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng: Tổ chức này đã chỉ đạo đồng bọn thu thập thông tin, khai thác, lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm trong nước như: các vụ án tham ô, tham nhũng, hình sự, kinh tế lớn; tình trạng ô nhiễm môi trường; vấn đề tranh chấp biển đảo... sau đó, thêm tình tiết, thổi phồng, bịa đặt nhằm tác động gây chia rẽ nội bộ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân; duy trì “Đài radio tiếng nói quốc dân”, “Đài Truyền thông công lý”, 05 trang web, 12 kênh Youtube, hàng chục trang facebook để đăng tải, chia sẻ các bài viết, clip có nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta... thông qua đó để từng bước làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kích động tâm lý bức xúc, “bất tuân dân sự”, sử dụng bạo lực để phản kháng lại chính quyền…;
(2) Móc nốỉ, phát triển lực lượng: Chúng triệt để lợi dụng mạng internet để móc nối, lôi kéo người tham gia tổ chức; lập nhiều diễn đàn, hội nhóm trên mạng như “Đệ tam Việt Nam cộng hòa”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”...; sử dụng các tài khoản facebook, diễn đàn xã hội đưa thông tin xuyên tạc tình hình trong nước, tác động móc nối, lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức, chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, người dân tộc thiểu số có tư tưởng ly khai, hẹp hòi, số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất... Một bộ phận quần chúng nhân dân do hoàn cảnh khó khăn, hám lợi và sự nhận thức hạn chế nên đã đăng ký tham gia; trong đó, một số cán bộ, đảng viên do nhận thức chưa đầy đủ, chưa thấy tính nguy hiểm trong luận điệu tuyên truyền của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” nên đã bị chúng chuyển hóa, lợi dụng, lôi kéo, công khai ủng hộ các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta…;
(3) Thực hiện các hoạt động khủng bố, phá hoại: Từ năm 2017 đến nay, tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” liên tục chỉ đạo một số cơ sở ở trong nước tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại[6].
Thời gian qua, Bộ Công an đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành và cấp ủy chính quyền các cấp đấu tranh làm thất bại âm mưu, ý đồ chống phá của các thế lực thù địch nói chung và bọn phản động lưu vong (PĐLV) nói riêng; trong đó, ngăn chặn, vô hiệu hóa nhiều kế hoạch khủng bố, phá hoại của tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Để nâng cao cảnh giác và đấu tranh với các tổ chức phản động, khủng bố đạt hiệu quả hơn nữa, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau: Thứ nhất, tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, đặc biệt là học sinh, sinh viên hiểu rõ âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phát triển lực lượng, khủng bố, phá hoại của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, trên cơ sở đó nâng cao tinh thần cảnh giác, không ủng hộ, tham gia các tổ chức PĐLV nói chung, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” nói riêng; không truy cập, tìm hiểu thông tin, bình luận trên các trang web, tài khoản mạng xã hội do tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và số đối tượng liên quan lập ra. Thứ hai, tích cực, chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước những âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền, phát triển lực lượng của bọn PĐLV nói chung, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” nói riêng; kịp thời xử lý các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ; giải quyết tốt những vấn đề bất cập, bức xúc xã hội, không để chúng lợi dụng kích động khiếu kiện, biểu tình gây mất ổn định chính trị. Thực hiện phương châm: lấy tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính, nhưng kiên quyết đấu tranh với những phần tử chống đối cực đoan. Thứ ba, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý cán bộ, đảng viên, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn tác hại của hoạt động phá hoại tư tưởng; xử lý nghiêm những trường hợp trong nội bộ tham gia hoặc ủng hộ các đối tượng PĐLV nói chung, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” nói riêng. Thứ tư, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức trong các cấp ủy đảng và cán bộ, đảng viên về vai trò, tầm quan trọng của công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch và phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xác định đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy. Thứ năm, đối với những địa bàn có đối tượng tham gia các tổ chức PĐLV nói chung và tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” nói riêng cần thường xuyên phối hợp với lực lượng Công an và gia đình tiếp xúc, giáo dục đối tượng; ngăn ngừa việc đối tượng bị tổ chức địch móc nối hoạt động trở lại.
C. VĂN BẢN MỚI
I. VĂN BẢN CỦA TỈNH
1. Ngày 04/11/2019, UBND tỉnh ban hành Công văn số 2920/UBND-NNTN triển khai thực hiện Quyết định 1457/QĐ-TTg ngày 25/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Rà soát và hoàn thiện các chính sách về di dân, tái định cư dự án thủy lợi, thủy điện” trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, (a) Chỉ đạo các sở, ngành và đơn vị liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố Kon Tum theo chức năng, nhiệm vụ được giao triển khai thực hiện Đề án “Rà soát và hoàn thiện các chính sách về di dân, tái định cư dự án thủy lợi, thủy điện” tại Quyết định số 1457/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ; rà soát, nghiên cứu, xây dựng, tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành chính sách giảm nghèo tại địa phương theo thẩm quyền; xây dựng giải pháp, mô hình phù hợp với địa bàn; tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách, pháp luật về di dân, tái định cư, giảm nghèo; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền; phát huy dân chủ, công khai, minh bạch; nâng cao năng lực của chính quyền cơ sở và cán bộ trực tiếp làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giảm nghèo. (b) Đề nghị Sở Lao động -Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Ban Dân tộc tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và các đơn vị liên quan theo chức năng, nhiệm vụ tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả một số chính sách đối với hộ nghèo thiếu hụt đa chiều áp dụng đối với các hộ dân tái định cư là hộ nghèo theo Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày  31 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ; chính sách hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ pháp lý và các chính sách khác đối với hộ nghèo là dân tộc thiểu số, vùng miền núi, huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo quy định; chính sách hỗ trợ về phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; (c) Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính cân đối ngân sách địa hương, tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét, bố trí ngân sách địa phương để thực hiện chính sách thuộc Đề án “Rà soát và hoàn thiện các chính sách về di dân, tái định cư dự án thủy lợi, thủy điện” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định nêu trên. (d) Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Sở Công Thương, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các sở, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố rà soát, kiểm tra, phân tích, tổng hợp các khó khăn, hạn chế và những vướng mắc trong thực tiễn đối với các vấn đề liên quan bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và sau tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện trên địa bàn tỉnh, tổng hợp tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách về di dân, tái định cư dự án thủy lợi, thủy điện phù hợp với thực tiễn.
2. Ngày 11/11/2019, UBND tỉnh ban hành Văn bản số 2986/UBND-KGVX chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tăng cường kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm và chất gây nghiện trong các trường học.
Theo đó, để đảm bảo an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe và môi trường học tập cho học sinh tại các trường học trên địa bàn tỉnh, ngăn chặn tình trạng các đối tượng mua bán các chất gây nghiện (ma túy) dùng các thủ đoạn như pha chế, tẩm ướp các chất ma túy vào trong thức ăn, đồ uống dưới dạng bánh, kẹo... để bán cho học sinh, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tạo ảo giác, rối loạn nhận thức, ảnh hưởng đến chất lượng học tập, gây hoang mang, lo lắng trong xã hội, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu: (a) Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố theo phân cấp quản lý quan tâm, đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất (bếp ăn được bố trí bảo đảm không nhiễm chéo giữa thực phẩm chưa qua chế biến và thực phẩm đã qua chế biến), trang thiết bị để bảo đảm đủ điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định cho các trường chưa đủ điều kiện. Đồng thời, chỉ đạo các trường có tổ chức bếp ăn tập thể thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ kiểm thực ba bước: Kiểm tra trước khi chế biến thức ăn; kiểm tra trong quá trình chế biến thức ăn và kiểm tra trước khi ăn, nhất là nguồn gốc, xuất xứ của các nguyên liệu thực phẩm; tuyên truyền, vận động phụ huynh thường xuyên quan tâm đến mọi hoạt động của con em mình, kịp thời phát hiện những biểu hiện bất thường và không cho con em mua các loại thức ăn, đồ uống không đảm bảo an toàn trước cổng trường, đồng thời giáo dục cho các em nhận thức được tác hại của việc sử dụng thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, nhất là thực phẩm có nguy cơ pha, tẩm chất gây nghiện; nhà trường thường xuyên kiểm tra, giám sát và nghiêm cấm học sinh mua và dùng các loại thức ăn, đồ uống không đảm bảo an toàn từ bên ngoài; có biện pháp xử lý nghiêm đối với học sinh cố tình vi phạm. (b) Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo các phòng chức năng phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành kiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn thực phẩm trong các trường và kiểm tra các quầy hàng bán thực phẩm rong trước cổng trường cũng như các cửa hàng kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn gần các trường học, nhất là thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, thực phẩm có nguy cơ pha, tẩm chất gây nghiện. Nghiêm cấm việc bán hàng rong trước cổng trường; Yêu cầu các trường tổ chức tuyên truyền, vận động phụ huynh giáo dục cho học sinh nhận thức được tác hại của việc sử dụng thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, nhất là thực phẩm có nguy cơ pha, tẩm chất gây nghiện và cấm không được mua thức ăn, đồ uống bên ngoài đưa vào trường; thường xuyên kiểm tra, giám sát kịp thời phát hiện và có biện pháp xử lý đối với học sinh cố tình vi phạm. (c) Ủy ban nhân dân tỉnh cũng yêu cầu Sở Y tế chỉ đạo Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Trung tâm Y tế các huyện, thành phố phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, giám sát lấy mẫu kiểm nghiệm các chất gây nghiện để phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định.
3. Ngày 18/11/2019, Chủ tịch UBND tỉnh ký ban hành văn bản 3057/UBND-KTTH yêu cầu Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo và UBND các huyện, thành phố khẩn trương rà soát, tổng hợp danh sách giáo viên đã có hợp đồng lao động từ 31/12/2015 trở về trước theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ.
Ngày 05 tháng 11 năm 2019, Bộ Nội vụ có Văn bản số 5378/BNV-CCVC hướng dẫn việc tuyển dụng đặc cách đối với giáo viên đã có hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2015 trở về trước, theo đó đối tượng được xem xét tuyển dụng đặc cách là giáo viên đang làm hợp đồng lao động theo vị trí việc làm giảng dạy tại cơ sở giáo dục công lập, đã có thời gian ký hợp đồng lao động có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội làm công việc giảng dạy tại các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn trước ngày 31 tháng 12 năm 2015, trong chỉ tiêu biên chế, có năng lực, trình độ phù hợp với yêu cầu của vị trí cần tuyển dụng.
Về triển khai tuyển dụng đặc cách viên chức ngành giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở GD-ĐT, Sở Nội vụ, UBND các huyện, thành phố rà soát, tổng hợp danh sách giáo viên đã có hợp đồng lao động từ 31 tháng 12 năm 2015 trở về trước theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ và căn cứ chỉ tiêu số lượng người làm việc là giáo viên (biên chế giáo viên) chưa sử dụng, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc tuyển dụng đặc cách, gửi Sở Nội vụ để tổng hợp trước ngày 20 tháng 11 năm 2019.
Sau khi tuyển dụng đặc cách thì mới tiếp tục tuyển dụng hình thức xét tuyển đối với số chỉ tiêu còn lại (nếu có) theo quy định. Việc tuyển dụng đặc cách đối với đối tượng trên phải đảm bảo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tiêu chuẩn chức danh, khung danh mục vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục công lập, bảo đảm công khai, minh bạch.
Đối với các đơn vị đã hoàn thành việc xét tuyển viên chức ngành giáo dục và đào tạo năm 2019 theo chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh (Ủy ban nhân dân các huyện Tu mơ Rông, Kon Plông): Rà soát, báo cáo cụ thể danh sách giáo viên hợp đồng lao động từ 31 tháng 12 năm 2015 trở về trước theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ nhưng chưa được tuyển dụng trong đợt xét tuyển viên chức năm 2019 (nếu có); rà soát biên chế giáo viên chưa sử dụng, đề xuất phương án giải quyết cụ thể gửi Sở Nội vụ trước ngày 20 tháng 11 năm 2019 để tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh.
Giao Sở Nội vụ hướng dẫn cụ thể để các cơ quan, đơn vị thực hiện việc tuyển dụng đặc cách viên chức ngành giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh theo đúng quy định và hướng dẫn của Bộ Nội vụ tại Văn bản số 5378/BNV-CCVC ngày 05 tháng 11 năm 2019, hoàn thành trước ngày 20 tháng 11 năm 2019.
Tổng hợp danh sách giáo viên đã có hợp đồng lao động từ 31 tháng 12 năm 2015 trở về trước và căn cứ chỉ tiêu số lượng người làm việc là giáo viên (biên chế giáo viên) chưa sử dụng do các đơn vị, địa phương báo cáo tại điểm a, khoản 2 nêu trên, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc tuyển dụng đặc cách chậm nhất trong ngày 25 tháng 11 năm 2019.
Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý đối với số giáo viên hợp đồng lao động từ 31 tháng 12 năm 2015 trở về trước nhưng chưa được tuyển dụng, hoàn thành trước ngày 28 tháng 11 năm 2019.
4. Ngày 20/11/2019, UBND tỉnh ban hành Quyết định 18/2019/QĐ-UBND về việc ban hành quy chế tiếp nhận, xử lý, phát hành và quản lý văn bản điện tử giữa các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Quy chế quy định việc tiếp nhận, xử lý, phát hành và quản lý văn bản điện tử thông qua kết nối, liên thông Hệ thống quản lý văn bản và điều hành giữa các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Kon Tum; không áp dụng đối với văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành. Quy chế áp dụng đối tượng là cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Kon Tum; cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Quy chế quy định loại văn bản phải gửi, nhận dưới dạng điện tử; loại văn bản điện tử gửi kèm văn bản giấy; tiếp nhận, xử lý, quy trình ký số, phát hành văn bản điện tử; thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản điện tử, sử dụng chữ ký số, vị trí ký số; nội dung và yêu cầu thông tin của văn bản điện tử; mã hóa, quản lý, lưu trữ văn bản điện tử; tổng hợp thông tin, tình hình gửi, nhận văn bản điện tử.
Những nội dung liên quan tới việc tiếp nhận, xử lý, phát hành và quản lý văn bản điện tử không được quy định tại Quy chế này thì thực hiện theo quy định tại Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật và quy định trách nhiệm được viện dẫn trong Quy chế này có sự thay đổi, bổ sung hoặc thay thế thì áp dụng theo văn bản quy phạm pháp luật mới.
Trong quá trình thực hiện Quy chế này, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các cơ quan, tổ chức kịp thời báo cáo về Sở Nội vụ để tổng hợp trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
Quyết định có hiệu lực từ ngày 01/12/2019.
5. Ngày 21/11/2019, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Công văn số 3109/UBND-NC chỉ đạo các cơ quan liên quan và các địa phương triển khai thực hiện Chỉ thị số 98/CT-BQP ngày 26/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tăng cường biện pháp nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ trong tình hình mới.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan liên quan và UBND các huyện, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao: (a) tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và hướng dẫn công tác tuyển quân; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về nghĩa vụ quân sự. (b) Triển khai đồng bộ các biện pháp trong thực hiện quy trình tuyển quân; đề cao dân chủ, vai trò giám sát và sự đồng thuận của Nhân dân, bảo đảm đúng quy định của pháp luật, công khai, công bằng xã hội để góp phần không ngừng nâng cao chất lượng tuyển quân hằng năm. (c) Rà soát, kiện toàn Hội đồng Nghĩa vụ quân sự và Hội đồng khám sức khỏe đủ thành phần; phát huy vai trò nòng cốt của Hội đồng Nghĩa vụ quân sự các cấp triển khai thực hiện đúng quy trình, đầy đủ thủ tục từ khâu xét duyệt thực lực, tổ chức khám tuyển, bàn giao quân cho các đơn vị đủ số lượng, bảo đảm chất lượng. (d) Quản lý chặt chẽ số lượng, chất lượng nguồn công dân sẵn sàng nhập ngũ; chú trọng tuyển chọn những công dân đã tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học và con em đồng bào dân tộc thiểu số để tạo nguồn cán bộ cơ sở cho địa phương, không để “xã trắng” trong tuyển quân. Tuyệt đối không để thanh niên không đủ tiêu chuẩn theo quy định nhập ngũ vào Quân đội và Công an. (đ) Huy động đầy đủ trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ cho công tác khám tuyển; thực hiện tốt việc sơ tuyển, khám tuyển, xét duyệt và phát lệnh gọi nhập ngũ, bảo đảm đúng quy trình, thời gian và chất lượng tuyển quân. (e) Đẩy mạnh cải cách hành chính; ứng dụng công nghệ thông tin; thực hiện quy trình các bước tuyển quân nhanh gọn, khoa học, giảm phiền hà đối với công dân. Kiên quyết xử lý những tổ chức, cá nhân lợi dụng chức trách, quyền hạn được giao gây nhũng nhiễu, tiêu cực trong tuyển quân và những công dân vi phạm pháp luật về nghĩa vụ quân sự. Giải quyết kịp thời những kiến nghị, phản ánh, khiếu nại ngay tại cơ sở, không để tình trạng đơn thư vượt cấp. (h) Thực hiện tốt chủ trương tuyển quân “tròn khâu” tại địa phương với phương châm “tuyển đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, tuyển người nào chắc người đó”; hạn chế thấp nhất loại trả, bù đổi. Sau khi giao quân, các cấp tiến hành sơ, tổng kết rút kinh nghiệm công tác tuyển quân theo quy định. Đồng thời, làm tốt công tác thi đua khen thưởng; gắn chất lượng công tác tuyển quân với kết quả hoàn thành nhiệm vụ đối với tập thể, cá nhân liên quan. Tiếp tục quan tâm, chăm lo, làm tốt công tác hậu phương Quân đội và chế độ chính sách trong hướng nghiệp, dạy nghề tạo việc làm cho Bộ đội và Công an xuất ngũ trên địa bàn tỉnh.
II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nghị định gồm 17 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2019. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:
- Phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: Đối tượng quy định tại Nghị định này được hưởng phụ cấp hàng tháng tính theo mức lương cơ sở và thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như sau: (1) Mức 0,5 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 5 năm đến dưới 10 năm; (2) Mức 0,7 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm đến dưới 15 năm; (3) Mức 1,0 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 15 năm trở lên.
- Thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp: (1) Thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là tổng thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nếu có thời gian đứt quãng mà chưa hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì được cộng dồn), bao gồm: a) Thời gian làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; b) Thời gian làm việc trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và cơ yếu; (2) Cánh tính thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như sau: a) Tính theo tháng: Trường hợp có từ 50% trở lên thời gian trong tháng thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo chế độ làm việc do cơ quan có thẩm quyền quy định thì được tính cả tháng; trường hợp có dưới 50% thời gian trong tháng thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì không tính; Đối với nhà giáo đạt từ 50% định mức giờ giảng trong tháng trở lên thì được tính cả tháng; thời gian nghỉ hè được hưởng lương đối với nhà giáo theo chế độ quy định của cơ quan có thẩm quyền thì được tính hưởng phụ cấp thu hút và phụ cấp ưu đãi theo nghề; b) Tính theo năm: Dưới 03 tháng thì không tính; Từ đủ 03 tháng đến đủ 06 tháng thì được tính bằng 1/2 (một phần hai) năm công tác; Trên 06 tháng thì được tính bằng 01 năm công tác; (3) Thời gian không được tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Nghị định này, gồm: a) Thời gian đi công tác, làm việc, học tập không ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 01 tháng trở lên; b) Thời gian nghỉ việc không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên; c) Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; d) Thời gian bị tạm đình chỉ công tác, thời gian bị tạm giữ, tạm giam.
Ngoài ra, Nghị định còn có các nội dung: Trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Trợ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch; Trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khi nghỉ hưu; Trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; Phụ cấp ưu đãi theo nghề; Phụ cấp lưu động và phụ cấp dạy tiếng dân tộc thiểu số đối với nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
 
_________
 

Nguyễn Phi Em thực hiện
 

[1] Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 217,05 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2018.
[2] Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã công bố Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu năm 2019. WEF xếp năng lực cạnh tranh của Việt Nam hạng 67/141 nền kinh tế, tăng 10 bậc so với năm 2018, với số điểm 61,5/100.
[3] NTM đã có sự khởi sắc rõ rệt ở cả các tỉnh vùng khó khăn với việc có một số đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn hay hoàn thành như Lai Châu, Sơn La, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên, Gia Lai, Trà Vinh,…; từng bước hình thành rõ nét các các mô hình NTM đặc thù: NTM gắn với đô thị hóa vùng ven đô, NTM vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm, NTM gắn với công nghiệp hoá, NTM vùng khó khăn.
[4] Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là lực lượng tiên phong với nhiều phong trào, hội thi, cuộc vận động; các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng đóng góp nguồn lực to lớn về cung ứng vốn, phát triển hạ tầng, tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ sản phẩm; các cơ quan truyền thông nhanh chóng, kịp thời nêu gương những điển hình tiêu biểu về NTM cũng như những vấn đề tồn tại, phát sinh ở các địa phương; đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng dân cư nông thôn, những người đóng vai trò là chủ thể của xây dựng  NTM.
[5] Cụ thể: Vùng Đồng bằng sông Hồng (84,86%), Đông Nam Bộ (71,91%), Miền núi phía Bắc (28,60%), Tây Nguyên (37,73%), Đồng bằng sông Cửu Long (45,49%), Duyên hải Nam Trung Bộ (45,85%). Trong khi cả nước đã có đến 08 tỉnh có 100% số xã đạt chuẩn NTM, đang chuyển sang giai đoạn nâng cao và xây dựng NTM kiểu mẫu, thì một số địa phương khác có số xã đạt chuẩn rất thấp dưới 20% (như Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Điện Biên, Kon Tum).
[6] Cụ thể: Năm 2017, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” thành lập các nhóm “Phượng Hoàng”, “Mãng Xà”, “Biệt động quân”, “Đại Việt”, phương châm “đốt sạch”, “giết sạch”, “phá sạch” nhằm khủng bố, ám sát cán bộ, phá hoại các mục tiêu, công trình trọng điểm. Chúng đã thực hiện các vụ rải truyền đơn phản động trên diện rộng với hơn 10.000 tờ tại TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bình Định, An Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang, Thái Bình. Tháng 01/2018, số cầm đầu tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” móc nối, chỉ đạo 20 học sinh trường THCS Phú Long, Thuận An, Bình Dương soạn thảo 42 trang tài liệu có nội dung chống Đảng, Nhà nước, ca ngợi chế độ “Việt Nam cộng hòa”. Tháng 4/2018, chúng tiếp tục chỉ đạo Dương Thị Lanh ở Đắk Nông, mua vũ khí để tiến hành các hoạt động manh động, khủng bố trong dịp 30/4/2018 tại các khu vực công cộng ở TP. Hồ Chí Minh…
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

HD.68.BTGTU

Tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2020

Lượt xem:29 | lượt tải:19

CV.2875.BTGTU

V/v gửi Đề cương Tuyên truyền kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập Hội Người cao tuổi Việt Nam(10/5/1995 - 10/5/2020)

Lượt xem:27 | lượt tải:15

CV.2872.BTGTU

mời dự Hội nghị BCV trực tuyến tháng 02-2020

Lượt xem:52 | lượt tải:31

HD.121.BTGTW

Tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2020

Lượt xem:100 | lượt tải:50

HD.66.BTGTU

hướng dẫn công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên năm 2020

Lượt xem:183 | lượt tải:85

CV.2845.BTGTU

V/v tuyên truyền phòng, chống dịch viêm đường hô hấp cấp do vi rút corona gây ra

Lượt xem:182 | lượt tải:75

HD.120.BTGTW

về tuyên truyền phòng, chống vi rút Corona

Lượt xem:200 | lượt tải:96
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập18
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm15
  • Hôm nay9,152
  • Tháng hiện tại227,345
  • Tổng lượt truy cập5,730,723
     Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
   
 - Giấy phép số 03/GP- TTĐT, ngày 21 tháng 9 năm 2015
     - Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum, số 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum, tỉnh Kon Tum
     - Người chịu trách nhiệm chính: Bà Lê Thị Kim Đơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
     - Điện thoại: 0260.3862301. Fax: 0260. 3865464. Email: bantuyengiaotinhuykt@gmail.com; phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây