Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2019 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2019

Thứ năm - 26/09/2019 09:15
A. NỘI DUNG TRỌNG TÂM SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 10-2019
- Lãnh đạo tuyên truyền kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2019; kết quả thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TU, ngày 09-01-2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về "triển khai thực hiện các lĩnh vực đột phá trong năm 2019"; đẩy mạnh tuyên truyền kết quả 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sơ kết 03 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị và biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu, điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2019.
Tuyên truyền đậm nét Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum lần thứ III năm 2019; tuyên truyền Đại hội đại biểu Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Kon Tum lần thứ VII, nhiệm kỳ 2019-2024; kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2019-2024. Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm, văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày lễ, các sự kiện chính trị diễn ra trong tháng 10-2019 [1].  
- Ngoài ra, tuyên truyền Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị "về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới"; tuyên truyền về công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020-2025 (theo Kế hoạch số 100-KH/TU, ngày 03-7-2019 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh); tuyên truyền kết quả triển khai thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh; tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thích ứng với biến đổi khí hậu; tuyên truyền các cơ quan, đơn vị phát động, hưởng ứng phong trào thi đua: "Cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Kon Tum thi đua thực hiện văn hóa công sở" giai đoạn 2019-2025 (theo Kế hoạch số 2031- KH/UBND, ngày 7/8/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh)…
Tiếp tục tuyên truyền ngăn chặn đẩy lùi hoạt động "tín dụng đen"; công tác quản lý bảo vệ tài nguyên, khoáng sản; phòng ngừa, tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người; công tác phòng, chống dịch bệnh, cháy, nổ, bảo đảm an ninh trật tự, quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản; bảo tồn và phát triển thương hiệu sản phẩm sâm Ngọc Linh.
B. THÔNG TIN THỜI SỰ
I. THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1: Bộ Chính trị quy định về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền
Ngày 23-9-2019, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. BBT trích dẫn một số nội dung chủ yếu sau:
Không bố trí người thân đảm nhiệm chức danh liên quan
Quy định nêu rõ sẽ điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với những người được phân công làm công tác nhân sự hoặc theo dõi công tác cán bộ tại một địa bàn, lĩnh vực đã đảm nhiệm công việc 5 năm liên tiếp hoặc khi thấy cần thiết.
Không bố trí những người có quan hệ gia đình (vợ, chồng, bố, mẹ của vợ hoặc chồng, con, anh chị em ruột) cùng đảm nhiệm các chức danh có liên quan như: Bí thư, phó bí thư, trưởng ban tổ chức, chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra cùng cấp uỷ; chủ tịch Uỷ ban nhân dân và người đứng đầu cơ quan nội vụ, thanh tra cùng cấp ở một địa phương; thành viên trong cùng ban cán sự đảng, đảng đoàn; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị.
Đối với thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị phải thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình trong công tác cán bộ. Chịu trách nhiệm cá nhân trong việc đề xuất nhân sự và trong việc nhận xét, đánh giá, xác nhận hồ sơ, lý lịch, các giấy tờ có liên quan của nhân sự thuộc thẩm quyền phụ trách.
Với tư cách là thành viên, chịu trách nhiệm liên đới đối với từng quyết định không đúng về công tác cán bộ của tập thể lãnh đạo, trừ trường hợp đã có ý kiến không đồng ý trong quá trình thực hiện quy trình công tác cán bộ và báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản (hoặc ý kiến đã được ghi nhận trong biên bản cuộc họp).
Quy định yêu cầu tự giác báo cáo với cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo quản lý khi có người thân (bố, mẹ, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột) là người có quyền, lợi ích liên quan đến việc thực hiện quy trình công tác cán bộ.
Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tiêu cực, sai phạm trong công tác cán bộ ở địa phương, cơ quan, đơn vị, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách.
Hành vi chạy chức, chạy quyền
Tiếp cận, thiết lập quan hệ, hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm mục đích có được vị trí, chức vụ, quyền lợi.
Tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, nhất là các dịp lễ tết, sinh nhật và các cơ hội khác, sử dụng danh nghĩa tình cảm cá nhân hoặc danh nghĩa tổ chức, cơ quan, đơn vị, cá nhân khác để tặng quà, tiền, bất động sản, sắp xếp các hoạt động vui chơi, giải trí cho cán bộ lãnh đạo, người có thẩm quyền hoặc người có liên quan nhằm mục đích được sự ủng hộ, tín nhiệm, được vị trí, chức vụ, quyền lợi.
Lợi dụng các mối quan hệ thân quen hoặc sử dụng lợi thế, vị trí công tác, uy tín của người khác để tác động, tranh thủ, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, bổ nhiệm mình hoặc người khác, "cánh hẩu" vào vị trí, chức vụ theo ý đồ cá nhân hoặc một nhóm người.
Lợi dụng việc nắm được thông tin nội bộ hoặc thông tin bất lợi của tổ chức, cá nhân để đặt điều kiện, gây sức ép đối với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, đề cử, bổ nhiệm mình.
Dùng lý lịch, xuất thân gia đình, thành tích công tác của bản thân để mặc cả, cài đặt điều kiện, đòi hỏi vô lý đối với tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm nhằm có được vị trí, chức vụ, quyền lợi.
Sử dụng các hành vi tiêu cực khác nhằm có được vị trí, chức vụ, quyền lợi.
Hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền 
Biết nhân sự có hành vi chạy chức, chạy quyền nhưng che giấu, thoả hiệp, không xử lý theo thẩm quyền hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý. 
Không xử lý theo thẩm quyền quy định hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý khi nhận được đơn, thư phản ánh, tố cáo nhân sự có hành vi chạy chức, chạy quyền. 
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người khác quyết định hoặc tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết, bỏ phiếu giới thiệu nhân sự theo ý mình. 
Xác nhận, chứng thực, nhận xét, đánh giá không đúng sự thật hoặc làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ nhân sự, kết quả bầu cử, lấy phiếu giới thiệu, phiếu tín nhiệm, thi tuyển nhằm có lợi cho nhân sự hoặc để đạt mục đích cá nhân. 
Trì hoãn, không thực hiện khi thấy bất lợi hoặc chọn thời điểm có lợi đối với nhân sự theo ý mình để thực hiện quy trình công tác cán bộ. 
Trực tiếp hoặc gián tiếp nhận hối lộ nhằm giúp cho người khác có được vị trí, chức vụ, quyền lợi không chính đáng.
Trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ, môi giới cho nhân sự thực hiện các hành vi chạy chức, chạy quyền và các hành vi khác nhằm bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. 
Cấm tiết lộ hồ sơ nhân sự đang thực hiện quy trình cán bộ
Bộ Chính trị nghiêm cấm các hành vi như cung cấp hoặc tiết lộ thông tin, tài liệu, hồ sơ cán bộ, đảng viên cho tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền, trách nhiệm, nhất là những thông tin, tài liệu, hồ sơ nhân sự đang trong quá trình thực hiện quy trình công tác cán bộ.
Cấm xen ghép ý đồ cá nhân, đề ra tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt, không đúng bản chất, không đúng sự thật nhằm vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình tham mưu thực hiện quy trình công tác cán bộ.
Để người khác, nhất là vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để thao túng, can thiệp công tác cán bộ. Gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi với nhân sự trái quy định trong quá trình thực hiện công tác cán bộ.
Đưa, nhận hối lộ để chạy chức, chạy quyền bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật
Theo quy định, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có hành vi chạy chức, chạy quyền hoặc bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền thì bị xử lý kỷ luật theo quy định hiện hành. Ngoài ra, nếu là cán bộ đang công tác tuỳ theo hình thức bị kỷ luật còn bị áp dụng các biện pháp xử lý như sau:
Bị khiển trách thì đưa ra khỏi quy hoạch cán bộ (nếu đang có trong quy hoạch). Sau thời hạn ít nhất 18 tháng kể từ ngày đưa ra khỏi quy hoạch mới được xem xét quy hoạch cán bộ. Không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra.
Bị cảnh cáo thì xem xét cho thôi tham gia cấp uỷ, thôi giữ chức vụ đang đảm nhiệm. Đưa ra khỏi quy hoạch cán bộ (nếu đang có trong quy hoạch). Sau thời hạn ít nhất 30 tháng kể từ ngày quyết định cho thôi cấp uỷ, chức vụ mới được xem xét quy hoạch cán bộ. Không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra. 
Bị cách chức thì đưa ra khỏi quy hoạch cán bộ (nếu đang có trong quy hoạch). Sau thời hạn ít nhất 60 tháng kể từ ngày đưa ra khỏi quy hoạch mới được xem xét quy hoạch cán bộ. Không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra. 
Bị khai trừ ra khỏi Đảng thì xem xét buộc thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động. Đối với các hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền liên quan đến việc đưa, nhận hối lộ hoặc các hành vi vi phạm khác đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chuyển hồ sơ sang cơ quan chức năng để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật; nghiêm cấm giữ lại để xử lý hành chính. 
Chuyên đề 2: Kết quả kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng 09 tháng đầu năm 2019 của Ủy ban Kiểm tra các cấp
- Trong 09 tháng đầu năm 2019, Ủy ban Kiểm tra các cấp trong Đảng bộ tỉnh đã tham mưu và tổ chức triển khai hoàn thành tốt các cuộc kiểm tra, giám sát theo Chương trình kiểm tra giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp. Số lượng tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, giám sát tăng dần (đã hoàn thành việc kiểm tra đối với 70/102 tổ chức đảng và 8/36 đảng viên; hoàn thành công tác giám sát 47/57 tổ chức đảng và 22 đảng viên). Nội dung kiểm tra đi vào trọng tâm, trọng điểm, giám sát được mở rộng trên các lĩnh vực nhạy cảm dễ phát sinh sai phạm như đất đai, đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư, tài nguyên môi trường.
- Đơn thư khiếu nại tố cáo được tiếp nhận, xem xét, phân loại và xử lý kịp thời. 
- Công tác thi hành kỷ luật đảng được tiến hành đảm bảo phương châm, đúng quy trình, quy định; các sự việc đã được xử lý thỏa đáng, rõ người, rõ việc tạo hiệu ứng xã hội tích cực.
Đối với thi hành kỷ luật Đảng viên: Thi hành kỷ luật 99 đảng viên (giảm 12 đảng viên, chiếm 11% so với cùng kỳ năm trước). Hình thức kỷ luật: Khiển trách 66; Cảnh cáo 20; Cách chức 01; Khai trừ 12. Nội dung vi phạm chủ yếu: Để xảy ra tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Vi phạm về đạo đức lối sống; có hành vi hành hung đồng đội gây thương tích, cầm cố Thẻ đảng viên, việc chấp hành kỷ luật quân đội; Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác quản lý, bảo vệ biên giới, địa bàn, đấu tranh phòng chống tội phạm chưa thường xuyên, sâu sát, kiên quyết, xảy ra hoạt động khai thác, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép trên địa bàn đơn vị quản lý trong thời gian dài nhưng không phát hiện kịp thời; Vi phạm quy trình, quy định về công tác cán bộ; Vi phạm quy định sinh hoạt chi bộ; Bỏ sinh hoạt Đảng 02 kỳ, bỏ học 02 phần học lớp CCLLCT, vi phạm đạo đức, lối sống; Chưa gương mẫu trong việc quản lý và sử dụng tài sản của cơ quan; Thiếu kiểm tra, giám sát trong thực hiện nhiệm vụ, nghiệm thu không đúng khối lượng dự án dẫn đến thất thoát ngân sách Nhà nước; Vi phạm quy định về bầu cử, vi phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình; Vi phạm Kết luận 1663-KL/TU, ngày 24-4-2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Đối với thi hành kỷ luật tổ chức đảng: Thi hành kỷ luật 04 tổ chức đảng (tăng 03 TCĐ, chiếm 300% so với cùng kỳ năm trước). Hình thức kỷ luật: Khiển trách. Nội dung vi phạm chủ yếu: Buông lỏng lãnh đạo, quản lý, dẫn đến không phát hiện, xử lý kịp thời tham nhũng, lãng phí trong cơ quan đơn vị. Không tổ chức sinh hoạt chi ủy (01 kỳ), không tổ chức sinh hoạt chi bộ (03 kỳ); Xảy ra khai thác vàng trên địa bàn Đồn Biên phòng Đăk Long trong thời gian dài nhưng không có biện pháp đấu tranh ngăn chặn; xảy ra hoạt động khai thác, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép trên địa bàn Đồn Biên phòng Suối Cát trong thời gian dài, khối lượng lớn nhưng không phát hiện kịp thời.
Kết quả đạt được của công tác kiểm tra, giám sát đã góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh.
- Về một số nhiệm vụ trọng tâm 03 tháng cuối năm 2019: Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ thường xuyên trong công tác tham mưu giúp cấp ủy và nhiệm vụ của Ủy ban Kiểm tra. Trong đó chú trọng nhiệm vụ: (1) Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các quy định về công tác kiểm tra, giám sát. (2) Phối hợp Ban Tổ chức cấp ủy cùng cấp làm tốt công tác tham mưu rà soát nhân sự chuẩn bị cho Đại hội đảng cấp cơ sở và cấp huyện; Đồng thời chủ động, tích cực phối hợp, tham mưu về nhân sự ủy ban kiểm tra cấp mình nhiệm kỳ 2020-2025 đảm bảo đủ về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng…
II. TIN TRONG TỈNH
1. Sáng 23-9, HĐND tỉnh khóa XI tổ chức kỳ họp bất thường để xem xét, thông qua các nội dung theo quy định của pháp luật.
Tham dự kỳ họp có các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí Thường trực HĐND tỉnh; lãnh đạo UBND tỉnh; lãnh đạo sở, ngành lien quan và 43/48 đại biểu HĐND tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2016-2021.
Sau khi nghe đồng chí Lê Ngọc Tuấn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm tra của Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban Pháp chế, HĐND tỉnh đã thảo luận, thống nhất thông qua 8 nghị quyết gồm: Nghị quyết sửa đổi, bổ sung phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết số 32/NQ-HĐND ngày 7/12/2018 của HĐND tỉnh về việc giao biên chế công chức tỉnh năm 2019; Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 26/NQ-HĐND ngày 18/7/2019 của HĐND tỉnh về việc phê duyệt tổng số người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh năm 2019; Nghị quyết của HĐND tỉnh về bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 đối với Dự án đầu tư hạ tầng phát triển quỹ đất Khu đô thị phía Nam cầu Đăk Bla, thành phố Kon Tum; Nghị quyết của HĐND tỉnh về điều chỉnh, bổ sung ngân sách đầu tư năm 2019; Nghị quyết về việc điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án Cầu qua sông Đăk Bla; Nghị quyết về việc đầu tư ngân sách nhà nước năm 2020; Nghị quyết về danh mục các dự án cần thu hồi đất năm 2019 và các dự án có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh (bổ sung); Nghị quyết về việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án mua sắm trang thiết bị y tế để nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh từ bệnh viện hạng II lên bệnh viện hạng I quy mô 750 giường bệnh.
Cũng tại kỳ họp, HĐND tỉnh đã xem xét, miễn nhiệm Ủy viên UBND tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Phạm Đức Hạnh, nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, do đã nghỉ hưu; bầu Ủy viên UBND tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Nguyễn Văn Lộc - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường.
Phát biểu bế mạc kỳ họp, đồng chí Nguyễn Văn Hùng biểu dương tinh thần trách nhiệm của đại biểu HĐND tỉnh đã tích cực thảo luận và biểu quyết thống nhất thông qua các nghị quyết trình kỳ họp. Đồng chí cho rằng những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND vẫn tiếp tục phát sinh và nhiều nội dung không thể chờ đến kỳ họp HĐND tỉnh thường lệ, vì vậy, đề nghị UBND tỉnh, các sở, ngành chuyên môn, các ban của HĐND tỉnh phải chủ động, thường xuyên rà soát, cập nhật, kịp thời đề xuất và làm tốt công tác chuẩn bị để kỳ họp bất thường của HĐND được tổ chức nghiêm túc, đúng quy trình.
Đối với vốn đầu tư công, đến hết tháng 8/2019, việc giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách mới đạt gần 50%; trong khi đó, nhiều công trình đang bị chậm tiến độ do gặp khó khăn về công tác giải phóng mặt bằng; HĐND lại vừa quyết định điều chỉnh, bổ sung tăng vốn đầu tư cho một số công trình trong kế hoạch đầu tư công năm 2019. Vì vậy, đồng chí đề nghị UBND tỉnh và các ngành, các cấp cần tập trung rà soát, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, tích cực đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thực hiện, bảo đảm thi công và giải ngân kịp tiến độ đã đề ra; các dự án, công trình sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng thúc đẩy phát triển KT-XH của tỉnh.
Ngay sau kỳ họp, đề nghị UBND tỉnh cần tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện các nghị quyết vừa được HĐND tỉnh thông qua. Đề nghị Thường trực HĐND tỉnh, các ban HĐND tỉnh, các tổ đại biểu, các đại biểu làm tốt hơn nữa công tác giám sát, kịp thời phát hiện và kiến nghị các giải pháp, biện pháp cần thiết để các nghị quyết được thực hiện kịp thời, đầy đủ và nhanh chóng đi vào cuộc sống.
2. Sáng 4-9, đồng chí A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn tỉnh đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TU, ngày 8-8-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy cơ sở.
Theo báo cáo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, 3 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU về nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy cơ sở, cấp ủy các cấp thực hiện tốt công tác quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhóm nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết đề ra.
Cụ thể, các cấp ủy đã lãnh đạo thực hiện tốt việc quán triệt, học tập Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chỉ đạo tổ chức tốt việc mở các lớp đào tạo về lý luận chính trị, trang bị cho đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng.
Các cấp ủy còn tăng cường công tác nắm bắt thông tin, đổi mới nội dung và hình thức  tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kết quả phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh và kịp thời định hướng nhận thức cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, góp phần củng cố niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Bên cạnh đó, hệ thống tổ chức đảng ở cơ sở cơ bản được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn; năng lực lãnh đạo, sức chiến của tổ chức đảng được nâng lên. Hầu hết, tổ chức cơ sở đảng và tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy cơ sở đã thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, góp phần xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; tạo bước chuyển biến tích cực, đồng bộ về tổ chức và hoạt động trong toàn hệ thống tổ chức đảng từ tỉnh đến cơ sở. Đến nay, toàn Đảng bộ tỉnh đã kết nạp 4.922 đảng viên, đạt 98,44% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đề ra, giữ vững 100% thôn (làng), tổ dân phố có tổ chức đảng; các mục tiêu cơ bản về xây dựng tổ chức cơ sở đảng đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra.
Tuy nhiên, hội nghị đánh giá 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TU vẫn có hạn chế: Công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý và phân công nhiệm vụ đảng viên có lúc chưa đạt hiệu quả cao; tỉ lệ đảng viên là thôn trưởng, tổ trưởng tổ dân phố chưa đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra; vai trò của một số tổ chức đảng chưa phát huy hết năng lực, nhất là tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước và tổ chức đảng ở khu vực nông thôn, vùng  sâu, vùng xa;…
Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí A Pớt yêu cầu các cấp ủy trực thuộc Tỉnh ủy triển khai đồng bộ, quyết liệt một số nội dung sau: Khắc phục các tồn tại đã nêu tại hội nghị sơ kết này, đồng thời tiếp tục chỉ đạo quán triệt, phổ biến, thực hiện tốt việc học tập Nghị quyết của Đảng; tăng cường các biện pháp phù hợp nhằm quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với tiếp tục nâng cao chất lượng việc đăng ký, thực hiện theo chuyên đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và thực hiện tốt quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; tích cực, chủ động đấu tranh ngăn ngừa có hiệu quả các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.
Cùng với đó, các cấp ủy cần chỉ đạo triển khai thực hiện tốt kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả cao nhất các chỉ thị, chương trình, kế hoạch của Trung ương, của Tỉnh ủy về xây dựng tổ chức đảng, đảng viên để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng Đảng ở cơ sở.
Ban Thường vụ các huyện ủy, thành ủy cần quan tâm hơn nữa về chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ đạt và vượt các mục tiêu Nghị quyết đề ra; tăng cường công tác lãnh đạo kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh hạn chế, khuyết điểm, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và xử lý nghiêm các vi phạm, làm trong sạch nội bộ Đảng; kịp thời báo cáo Tỉnh ủy xem xét, chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc (nếu có)…
3. Chiều 11-9, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa chủ trì Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 40 của Ban Bí thư Trung ương khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội.
Để triển khai Chỉ thị 40 của Ban Bí thư Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức quán triệt, chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức hội, đoàn thể xây dựng kế hoạch thực hiện. Các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức hội, đoàn thể cũng tăng cường công tác phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách tiếp cận nguồn vốn vay đúng quy định, thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững. Hàng năm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng đã chỉ đạo bố trí ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện để bổ sung nguồn vốn cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn, nhờ đó, nguồn vốn cho vay tăng lên hàng năm.
Toàn tỉnh hiện có 102 điểm giao dịch của Ngân hàng Chính sách tại các xã, hơn 1.600 tổ tiết kiệm và vay vốn, qua đó, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS.
Tính đến cuối tháng 6/2019, tổng nguồn vốn cho vay vốn tín dụng chính sách trên địa bàn tỉnh đạt hơn 2.500 tỷ đồng, tăng gần 1.100 tỷ đồng so với trước khi có Chỉ thị số 40. Thông qua 16 chương trình tín dụng chính sách, đã có hơn 135.000 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Vốn tín dụng chính sách đã giúp tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm từ 26,11% xuống còn 17,29% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi.
Tại Hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBNND tỉnh Nguyễn Văn Hòa đã ghi nhận và biểu dương nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh trong việc tích cực triển khai thực hiện tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn. Đồng thời đề nghị, thời gian tới, các cấp, các ngành, địa phương tiếp tục quán triệt, tuyên truyền Chỉ thị số 22 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về tăng cường các giải pháp mở rộng tín dụng, ngăn chặn, đẩy lùi tín dụng đen trên địa bàn tỉnh”; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ; chú trọng chất lượng tín dụng, chất lượng hoạt động giao dịch tại xã; chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn. Mặt khác, các ngành chức năng cần chủ động tham mưu dành nguồn vốn ngân sách hợp lý ủy thác sang Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh để bổ sung nguồn vốn cho vay; tăng cường thực hiện công tác kiểm tra, giám sát định kỳ, đột xuất để phát hiện tồn tại, có kiến nghị, chấn chỉnh và xử lý kịp thời. Các đoàn thể chính trị-xã hội nhận ủy thác cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đặc biệt tại cấp xã và tổ tiết kiệm và vay vốn, làm tốt công tác tuyên truyền tín dụng chính sách, việc bình xét cho vay, quản lý và hướng dẫn người vay sử dụng vốn vay có hiệu quả.
Nhân dịp này, 10 tập thể, 10 cá nhân đã được Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen; 6 tập thể, 9 cá nhân được Tổng Giám đốc Ngân hàng CSXH Việt Nam tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện tín dụng chính sách xã hội trong 5 năm qua.
4. Sáng 10-9, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh và đoàn công tác đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Kon Tum.
Dự buổi làm việc có các đồng chí: Nguyễn Văn Hòa – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Tô Văn Tám – Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; Nguyễn Thế Hải – Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành của tỉnh; UBND các huyện, thành phố và các Công ty sản xuất, chế biến nông – lâm sản trên địa bàn tỉnh.
Về hoạt động khoa học và công nghệ nổi bật, từ đầu năm 2019 đến nay tỉnh đã ban hành 17 Nghị quyết, Quyết định, 04 Kế hoạch phục vụ công tác quản lý nhà nước của ngành Khoa học và Công nghệ; Tổ chức diễn tập Ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân tỉnh Kon Tum lần thứ nhất năm 2019; Tổ chức Cuộc thi thiết kế logo chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” và nhãn hiệu chứng nhận “sâm Ngọc Linh Kon Tum”; Đang hoàn thiện Chuyên san song ngữ Việt - Anh "Bảo tồn và phát triển Sâm Ngọc Linh Kon Tum"; Phê duyệt 10 đề tài, dự án thực hiện trong năm 2019; thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia.
Các đề tài, dự án khoa học công nghệ tiếp tục được triển khai nghiên cứu, ứng dụng vào sản xuất. Hoạt động sở hữu trí tuệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được triển khai thực hiện; Công tác quản lý công nghệ được tăng cường; Dự án hỗ trợ nâng cao năng suất chất lượng cho các doanh nghiệp được triển khai tích cực.
Các huyện, thành phố đang tổ chức triển khai thực hiện các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ được giao trong năm 2019 theo mục tiêu, nội dung và tiến độ đã đề ra. Dịch vụ khoa học và công nghệ từng bước được đẩy mạnh; đã hỗ trợ cho 01 doanh nghiệp vay vốn từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để triển khai dự án Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cây hoa lan Kim tuyến tại huyện Kon Plông với tổng vốn vay 500 triệu đồng…
Tại buổi làm việc, tỉnh Kon Tum đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ (1) tham mưu Chính phủ bổ sung nhiệm vụ khoa học và công nghệ là một trong những mục tiêu thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia và bố trí kinh phí để triển khai. (2) Hỗ trợ địa phương đầu tư Vườn thực nghiệm nghiên cứu Sâm Ngọc Linh và dược liệu khác của tỉnh; Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án khoa học và công nghệ thuộc Đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia Sâm Ngọc Linh để chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. Chuyển giao các kết quả nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cho tỉnh Kon Tum để triển khai ứng dụng sau khi các nhiệm vụ kết thúc. (3) Sớm hoàn thành đầu tư và đưa Trung tâm quốc gia nghiên cứu và phát triển Sâm Ngọc Linh vào hoạt động; Chỉ đạo xây dựng chương trình hợp tác giữa Trung tâm với các đơn vị của tỉnh Kon Tum để trao đổi thông tin, hỗ trợ và hợp tác trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ về Sâm Ngọc Linh…
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ chia sẻ với những khó khăn của địa phương; đồng thời, đề nghị tỉnh Kon Tum tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các công nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó tập trung vào các ngành, lĩnh vực như: công nghệ sinh học, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bảo quản, chế biến nông sản, dược liệu và các sản phẩm chủ lực của tỉnh; chuyển giao ứng các sản phẩm/dịch vụ viễn thông/công nghệ thông tin trọng điểm để nâng cao năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đối với các tổ chức, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh.
Ngoài ra, tiếp tục nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ công tác bảo tồn, phát triển và chế biến dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra các sản phẩm dược liệu có chất lượng, có sức cạnh tranh cao trên thị trường, trong đó ưu tiên các loại dược liệu chủ lực của tỉnh, như: sâm Ngọc Linh, Đảng sâm, Đương quy, Ngũ vị tử, Sa nhân... góp phần phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho Nhân dân gắn với việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. Tuyên truyền, vận động doanh nghiệp tham gia các Chương trình/Đề án quốc gia về phát triển khoa học và công nghệ; đăng ký sử dụng mã số mã vạch, xây dựng thương hiệu. Đẩy mạnh hợp tác với các Viện nghiên cứu, Trường Đại học trong và ngoài nước trong công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh, đáp ứng hoạt động nghiên cứu, ươm tạo và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển sản xuất (ưu tiên lĩnh vực công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin...). Tiếp tục đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu và phục vụ công tác hỗ trợ quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh…
5. Sáng 16-9, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm Mặt trận tham gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2019.
Trong 10 năm qua, Mặt trận các cấp trong tỉnh đã tích cực chủ động phối hợp với chính quyền, các ngành, các đoàn thể thành viên tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức đối với Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới gắn với Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” (viết tắt là Cuộc vận động) và đã đạt được kết quả thiết thực, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong nhân dân.
Đến nay, toàn tỉnh đã có 18/86 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 8 xã đạt từ 15-18 tiêu chí, 19 xã đạt từ 10-14 tiêu chí, 41 xã đạt từ 5-9 tiêu chí, không còn xã đạt dưới 5 tiêu chí. Toàn tỉnh bình quân đạt 11,62 tiêu chí/xã, tăng 2,92 tiêu chí so với năm 2015.
Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, huy động nội lực trong nhân dân còn hạn chế, chưa đồng đều, có nơi chưa thu hút người dân tham gia một cách tự giác và tích cực. Hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam các cấp trong lĩnh vực quy hoạnh, đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất gặp nhiều khó khăn do thiếu chuyên môn nghiệp vụ. Một số nơi hoạt động của ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng còn lúng túng, chồng chéo, chủ yếu tham gia giám sát các công trình có vốn huy động đóng góp của nhân dân...
Trong thời gian tới, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn MTTQ Việt Nam các cấp trong tỉnh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình gắn với nâng cao chất lượng Cuộc vận động; góp phần cùng toàn tỉnh hoàn thành chỉ tiêu đến cuối năm 2020 có 25 xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến năm 2025 có 50% số xã đạt chuẩn; đồng thời thường xuyên phối hợp duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở các xã đã được công nhận...
Nhân dịp này, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đã trao Bằng khen cho 10 tập thể có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2010-2019.
6. Một số hoạt động quan trọng khác:
6.1. Sáng 18-9, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Trường Chính trị tỉnh tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Nhận diện và ngăn chặn xung đột xã hội hiện nay trên địa bàn tỉnh Kon Tum – Thực trạng và giải pháp”.
Dự  Hội thảo có Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lê Thị Kim Đơn, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Ngọc Tuấn; lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, Ban Tuyên giáo các huyện, thành phố.
Tại Hội thảo, đồng chí Lê Thị Kim Đơn thông qua Đề dẫn “Nhận diện và ngăn chặn xung đột xã hội hiện nay trên địa bàn tỉnh Kon Tum”. Đề dẫn nhận diện,  qua 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được nhiều bước tiến quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan, chủ quan, việc phát triển kinh tế-xã hội còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Ở tỉnh ta, qua 9 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2010-2015), lần thứ XV (nhiệm kỳ 2015-2020), tỉnh đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực. Kinh tế duy trì tăng trưởng tương đối cao với cơ cấu hợp lý, các ngành kinh tế mũi nhọn, sản phẩm chủ lực được xác định và tập trung phát triển; ba vùng kinh tế động lực được đầu tư; các nguồn lực được chú trọng khai thác và sử dụng hiệu quả. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.
Bên cạnh những thành quả đạt được, so với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên, Kon Tum vẫn còn là một tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS còn khó khăn. Giai đoạn 2010 – 2019 đã xảy ra một số vụ việc có tính chất “điểm nóng”, khiếu kiện đông người… làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn.
Tại Hội thảo đã có 4 tham luận, 7 ý kiến phát biểu về việc nhận diện xung đột xã hội. Nhiều ý kiến nêu lên được những hạn chế trong việc giải quyết vấn đề ở cơ sở không kịp thời; cán bộ một số nơi tiêu cực, không nêu gương; việc tổ chức đối thoại với dân ở một số nơi còn hình thức; công tác đền bù, tái định cư, định canh còn bất cập; cần có những kịch bản giải quyết xung đột xã hội…
Phát biểu tại Hội thảo, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lê Thị Kim Đơn ghi nhận những ý kiến của các đại biểu. Các ý kiến thảo luận đã tập trung vào những nội dung như: Đất đai, tài nguyên môi trường, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, công tác quy chế dân chủ… góp phần nhận diện rõ hơn việc xung đột xã hội. Nhiều tham luận và ý kiến đề xuất giải pháp, kiến nghị các chủ trương, nghị quyết để góp phần ngăn chặn xung đột xã hội trong gian tới.
6.2. Ngày 13-9, tại Trung tâm Bảo tàng - Thư viện tỉnh, Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch khai mạc Triển lãm “Lời căn dặn của Người” nhân kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Triển lãm góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc thực hiện Di chúc của Bác; động viên tất cả mọi người, mọi giai tầng xã hội tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
III. TIN TRONG NƯỚC
1. Tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng
Ngày 15/8/2019, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 55-KL/TW về việc tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị thật tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng. Kết luận nêu rõ:
Từ sau Đại hội XII của Đảng đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặc biệt quan tâm, coi trọng công tác cán bộ; đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và ban hành nhiều nghị quyết, quy chế, quy định để chấn chỉnh, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ theo hướng: (1) Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì lợi ích chung; (2) Bảo đảm chặt chẽ, dân chủ, công khai, khách quan, minh bạch, kịp thời, hiệu quả nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm, sơ hở trong công tác cán bộ; (3) Đẩy mạnh phân công, phân cấp trên cơ sở xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, người đứng đầu và các cá nhân liên quan; tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã nghiêm túc thực hiện các quy định của Trung ương; ngăn chặn, khắc phục được nhiều sơ hở, yếu kém, tiêu cực trong công tác cán bộ. Việc bổ nhiệm, đề bạt, điều động, luân chuyển, xét thăng cấp bậc hàm, thực hiện chính sách đối với cán bộ... đã bám sát tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình theo quy định; chất lượng cán bộ được nâng lên một bước, góp phần quan trọng vào việc lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của các địa phương, cơ quan, đơn vị; củng cố, tăng cường niềm tin, uy tín của Đảng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Tuy nhiên, qua nắm tình hình, ý kiến phản ánh của một số cấp ủy, tổ chức đảng và thực tiễn công tác cán bộ những nhiệm kỳ vừa qua cho thấy: Mỗi khi đến thời điểm chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp, công tác cán bộ lại xuất hiện biểu hiện "tư duy nhiệm kỳ", "cục bộ", "thân quen", "lợi ích nhóm", mất dân chủ, thiếu gương mẫu, "nể nang, dễ dãi", "chạy chọt, vận động, tranh thủ lẫn nhau" trong quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, thăng cấp bậc hàm, thực hiện chính sách đối với cán bộ... Bên cạnh đó, có nơi, cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ, nhất là người đứng đầu cấp ủy còn đủ điều kiện tái cử có hiện tượng giữ mình, né tránh, ngại va chạm, không chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận; thiếu tích cực triển khai các mặt công tác, nhất là những việc khó, nhạy cảm, phức tạp vì sợ "mất phiếu", ảnh hưởng đến bản thân, gây ra sự trì trệ trong xử lý, giải quyết công việc chung. Cá biệt có nơi người đứng đầu đến tuổi nghỉ hưu, nhưng không chủ động chuẩn bị người thay thế; có cán bộ ý thức tổ chức kỷ luật kém, không chấp hành sự phân công, điều động của cấp có thẩm quyền...
Để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục những tồn tại, hạn chế, yếu kém, góp phần chuẩn bị thật tốt công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị thực hiện có hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương, thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ; chuẩn bị thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng theo tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị và bài viết của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Việc quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, thăng cấp bậc hàm, chỉ định, giới thiệu, điều động, luân chuyển và thực hiện chính sách đối với cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện (cơ cấu, số lượng, độ tuổi, tín nhiệm...), quy trình, chế độ, chính sách theo đúng quy định hiện hành...Thứ hai, phải tuân thủ các nguyên tắc của Đảng; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo có thẩm quyền; đề cao vai trò, trách nhiệm nêu gương của tập thể lãnh đạo, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ làm công tác tham mưu về tổ chức, cán bộ; bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan, minh bạch; đề cao trách nhiệm cá nhân trong thảo luận và quyết định theo đa số...Thứ ba, giao Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương và cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ các cấp tiến hành rà soát, thẩm tra, thẩm định, kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị đối với cán bộ thuộc thẩm quyền; đề xuất cụ thể mức độ sử dụng, bố trí để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo đúng Quy định số 126-QĐ/TW, ngày 28/02/2018 của Bộ Chính trị "Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng". Thứ tư, giao Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng ở Trung ương và các cơ quan liên quan, theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, kiểm tra, giám sát công tác cán bộ theo quy định hiện hành và Kết luận này; kịp thời báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả thực hiện và có biện pháp chấn chỉnh, xử lý nghiêm minh đối với những tổ chức, cá nhân vi phạm.
2. Điểm nhấn về tình hình kinh tế - xã hội nước ta 8 tháng đầu năm 2019; nhiệm vụ, giải pháp những tháng cuối năm 2019
Một số kết quả đạt được:
Về kinh tế: Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2019 tiếp tục chuyển biến tích cực, dự kiến 12 chỉ tiêu chủ yếu của năm 2019 đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 8 tháng tăng 2,57%, thấp nhất trong 3 năm gần đây. Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/8/2019 ước tính đạt 932,1 nghìn tỷ đồng, bằng 66% dự toán năm, tổng chi ngân sách Nhà nước ước tính đạt 834,9 nghìn tỷ đồng, bằng 51,1% dự toán năm. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 8 tháng năm 2019 ước tính đạt 336,56 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa 8 tháng ước tính xuất siêu 3,4 tỷ USD.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đạt 3.215,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 8 tháng đạt 189,2 nghìn tỷ đồng, bằng 53,1% kế hoạch năm và tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước. Cả nước có 90,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.150,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 31% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/8/2019 thu hút 2.406 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 9.127,9 triệu USD, tăng 25,4% về số dự án và giảm 32,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục được tập trung chỉ đạo và đạt nhiều kết quả quan trọng. Thực hiện tốt chính sách người có công, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, giải quyết việc làm, giáo dục, đào tạo, bảo vệ môi trường được quan tâm. Thực hiện tốt nhiệm vụ tuyển sinh đại học, cao đẳng. Nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin tuyên truyền được tổ chức sôi nổi, rộng khắp nhân dịp kỷ niệm 74 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 02/9. Tổ chức trang trọng, ý nghĩa các sự kiện nhân dịp 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, kiên trì, kiên quyết đấu tranh, bảo vệ chủ quyền của đất nước. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được tăng cường, vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Một số nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới: Tiếp tục đề cao trách nhiệm, bám sát tình hình, chủ động, quyết liệt hành động; rà soát, triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ; Chỉ thị 09/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung vào một số nội dung sau: Thứ nhất, theo dõi sát tình hình thế giới và khu vực, diễn biến xung đột thương mại và chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn, giá dầu thế giới, dịch chuyển dòng thương mại, đầu tư quốc tế để có phản ứng chính sách, kịch bản phù hợp trong điều hành kinh tế vĩ mô. Đặc biệt, theo dõi chặt chẽ giá cả thị trường, kịp thời có giải pháp điều hành, kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm. Thứ hai, tập trung đẩy nhanh tiến độ các đề án trong Chương trình công tác năm 2019; đặc biệt là việc hoàn thành các đề án, báo cáo trình Hội nghị lần thứ 10, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ theo yêu cầu. Thứ ba, triển khai thực hiện quyết liệt, nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1042/CĐ-TTg ngày 21/8/2019 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2019. Thứ tư, tiếp tục rà soát, đơn giản hóa, cắt giảm thực chất thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; quan tâm, hỗ trợ thúc đẩy phát triển doanh nghiệp. Thứ năm, quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Thực hiện đầy đủ các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt công tác chăm lo đối tượng chính sách là thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ. Tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp của ngành giáo dục, đào tạo trong năm học 2019 - 2020. Thứ sáu, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, thông tin chính xác, kịp thời chính sách, pháp luật mới, nhất là những giải pháp điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tạo đồng thuận xã hội, tạo quyết tâm, phấn đấu thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của năm 2019.
3. Một số kết quả chủ yếu sau 03 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Về kết quả đạt được: (1) Các cấp, các ngành đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị 05 gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII và các nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nghiêm túc, bài bản, đúng kế hoạch với nhiều nội dung sáng tạo, cụ thể, lựa chọn nhiều nội dung đột phá, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã dần trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, tự giác của hầu hết tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên và được quần chúng nhân dân hưởng ứng, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; từng bước ngăn chặn được sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Cùng với việc tiếp tục duy trì, phát huy các mô hình có hiệu quả, ngày càng xuất hiện nhiều mô hình hay, cách làm mới, kinh nghiệm quý trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được gắn kết với các phong trào thi đua yêu nước qua đó, xuất hiện nhiều cán bộ, đảng viên gương mẫu, đi đầu trong học tập và làm theo Bác, nhiều tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực, trong các tầng lớp nhân dân, khắp các địa bàn trong nước. (2) Việc học tập các chuyên đề về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã cơ bản khắc phục được tính “hình thức”, chất lượng ngày một nâng cao, với nội dung thiết thực, cụ thể hơn, sát với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị, tổ chức Đảng. Công tác biểu dương, khen thưởng và nhân rộng các tấm gương điển hình tiêu biểu trong thực hiện Chỉ thị 05 được các cấp uỷ, tổ chức Đảng quan tâm. Công tác tuyên truyền nội dung, kết quả thực hiện Chỉ thị 05, tuyên truyền các mô hình hay, tấm gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, đã có tác động tích cực, sự lan tỏa trong xã hội. (3) Công tác hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết được thực hiện bài bản, đồng bộ. Việc cam kết và thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của đa số cán bộ, đảng viên đã bám sát các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, phù hợp  hơn với đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và từng cán bộ, đảng viên. Qua đó, góp phần tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, mang lại sự thống nhất và đoàn kết trong nội bộ, đồng thuận trong nhân dân, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị ở mỗi địa phương, đơn vị.
Một số hạn chế: Một số cấp ủy, địa phương, đơn vị chưa quan tâm đúng mức trong lựa chọn nội dung đột phá, trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm. Nội dung cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu làm theo Bác của nhiều cán bộ, đảng viên còn chung chung, chưa gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao. Công tác tuyên truyền, nhân rộng tấm gương điển hình chưa thật sự được chú trọng, từ đó, chưa tạo được ấn tượng sâu sắc trong xã hội về những việc làm tốt, chưa thực sự lan toả mạnh mẽ từ điển hình ra diện rộng. Một số nơi, tinh thần tự phê bình và phê bình vẫn còn yếu, chất lượng công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế. Việc đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình giáo dục, đào tạo trong nhà trường còn chậm…
Một số nhiệm vụ, giải pháp: Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện Chỉ thị 05; ý nghĩa, vai trò của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Thứ hai, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chỉ thị 05 gắn chặt với việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Trung ương, nhất là thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp của Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các nghị quyết Trung ương về công tác tổ chức, cán bộ. 
Thứ ba, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục trong toàn Đảng và toàn xã hội về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và ý thức trách nhiệm cá nhân của cán bộ, đảng viên trong việc học tập và làm theo Bác. Thứ tư, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của các tập thể và cá nhân cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp. Thứ năm, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định, quy chế, nội quy làm việc, các chuẩn mực đạo đức theo hướng ngắn gọn, dễ nhớ, phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng chi bộ, cơ quan, đơn vị. Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị. Nghiên cứu, phát hiện những cách làm hay, thiết thực, hiệu quả để triển khai thực hiện trên diện rộng, kịp thời chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc, hoặc thiếu quan tâm, triển khai hình thức. Thứ bảy, Ban tuyên giáo các cấp chủ động nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với cấp ủy những cách làm thiết thực, hiệu quả phù hợp với từng địa phương, cơ quan, đơn vị; bố trí, phân công cán bộ đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác tham mưu, giúp việc ban thường vụ cấp uỷ trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị.
4. Kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Một số kết quả đạt được:
Việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết: Cả hệ thống chính trị đã tích cực triển khai, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ được nêu trong Nghị quyết, có nhiều nhiệm vụ đạt được những kết quả bước đầu, còn nhiều nhiệm vụ đang tiếp tục được triển khai, đó là: (i) Về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; (ii) Về xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; (iii) Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế; (iv) Về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa; (v) Về phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa. (vi) Về hội nhập quốc tế và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Việc thực hiện các giải pháp nêu trong Nghị quyết số 33-NQ/TW, được các cấp, các ngành thể chế hóa trong nhiều văn bản chỉ đạo, như: Về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa; về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa; về xây dựng đội ngũ làm công tác văn hóa; về tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa.
Một số hạn chế, yếu kém: Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW, kết quả đạt được còn khiêm tốn, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với việc xây dựng văn hóa, con người. Trong nhận thức và tổ chức thực hiện Nghị quyết, vai trò, vị trí của văn hóa chưa được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội, chưa trở thành mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Môi trường văn hóa chưa lành mạnh, còn bị chi phối bởi tiêu cực, tham nhũng, tệ nạn xã hội, sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại. Tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" biến chất trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ. Vẫn còn tình trạng "thương mại hóa" báo chí, hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng, đưa nhiều thông tin về mặt trái của xã hội, tạo nên bức tranh tối màu về cuộc sống. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng văn hóa, con người còn bị động. Việc đầu tư của Nhà nước cho phát triển hạ tầng văn hóa còn thấp...
Một số nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới:
(1) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về xây dựng, phát triển văn hóa, con người; (2) Tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Khẩn trương đúc kết, xây dựng và tổ chức thực hiện đưa hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vào cuộc sống; (3) Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Có cơ chế phối hợp gia đình- nhà trường và xã hội trong xây dựng môi trường văn hóa. Đẩy mạnh phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, nhân rộng các mô hình văn hóa;  (4) Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Tiếp tục chỉ đạo, tổ chức thực hiện các văn bản của Trung ương khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; sắp xếp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị và các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập; (5) Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực xã hội bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; (6) Phát triển văn học, nghệ thuật. Tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đa dạng, nâng cao chất lượng toàn diện của nền văn học, nghệ thuật. Đấu tranh chống các quan điểm sai trái bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và các khuynh hướng sáng tác phản tiến bộ, nhân văn, tha hóa con người trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật; (7) Phát triển thông tin đại chúng. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động và quản lý hệ thống thông tin đại chúng, các phương tiện truyền thông mới, vừa chặt chẽ về nguyên tắc, vừa cởi mở về cơ chế, hình thức; (8) Phát triển công nghiệp hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa; (9) Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
C. VĂN BẢN MỚI
I. VĂN BẢN CỦA TỈNH
1. Ngày 02/9/2019, UBND tỉnh ban hành văn bản số 321/TB-UBND thông báo kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị trực tuyến sơ kết 03 năm thực hiện Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn.
Theo đó, UBND tỉnh: (1) đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu các quy định liên quan và tình hình thực tế địa phương, tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch cụ thể, phân rõ trách nhiệm của từng đơn vị để thực hiện chuỗi giá trị liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp gắn kết chặt với vùng nguyên liệu và sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường, có thương hiệu, nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc.... nhằm nâng cao thu nhập cho người dân góp phần xây dựng Chương trình nông thôn mới. Hoàn thành và trình Ủy ban nhân dân tỉnh trong tháng 9 năm 2019. Hỗ trợ để các nhà sản xuất nông nghiệp cung cấp sản phẩm nông nghiệp cho các siêu thị trên địa bàn tỉnh; phối hợp với các huyện, thành phố tiếp tục xây dựng các mô hình khuyến nông về nông nghiệp công nghệ cao; mô hình sản xuất thử nghiệm các giống cây trồng, vật nuôi mới, năng suất, chất lượng cao để nhân rộng cho người dân; chủ trì, rà soát, tham mưu UBND tỉnh triển khai chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và bảo hiểm nông nghiệp theo quy định hiện hành. (2) Đề nghị UBND các huyện, thành phố tiếp tục tuyên truyền chủ trương phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh; rà soát, bố trí quỹ đất phát triển nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với điều kiện thực tế địa phương; dự kiến các vùng có điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đưa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của từng địa phương nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đánh giá tiềm năng, thế mạnh sản xuất sản phẩm nông nghiệp của địa phương, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển, tổ chức sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường theo chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ gắn với vùng nguyên liệu và thị trường; ứng dụng khoa học công nghệ trong mọi quy trình từ sản xuất, thu hoạch, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm... tạo ra sản phẩm chất lượng, đáp ứng thị trường tiêu thụ, góp phần tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích, cải thiện sinh kế người dân và ứng phó biến đổi khí hậu; có giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, sản xuất nông nghiệp, dược liệu dưới tán rừng, trồng rừng trên đất canh tác nương rẫy để giúp người dân phát triển kinh tế lâm nghiệp. (3) Sở Khoa học và Công nghệ  đẩy mạnh công tác chuyển giao những đề tài khoa học đã được công bố thành công trong thời gian qua để áp dụng và nhân rộng trên địa bàn tỉnh; hướng dẫn các tổ chức, cá nhân xây dựng nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc sản phẩm chủ lực của địa phương để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp; tập trung ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ, áp dụng các công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng tạo ra một số sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao đem lại hiệu quả kinh tế. (4) Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các địa phương tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện Kế hoạch dồn đổi, tích tụ đất nông nghiệp để xây dựng "cánh đồng lớn" thực hiện phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo Kết luận số 366-KL/TU ngày 17 tháng 02 năm 2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chủ trương dồn đổi, tích tụ đất nông nghiệp để xây dựng “cánh đồng lớn” thực hiện phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày 13 tháng 3 năm 2017 của UBND tỉnh. (5) Các sở, ngành: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Lao động -Thương binh và xã hội, Hội Nông dân tỉnh, Hội Phụ nữ tỉnh, Liên minh Hợp tác xã, Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh và Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Kon Tum và các đơn vị liên quan theo chức năng, nhiệm vụ hướng dẫn, phối hợp triển khai thực hiện có hiệu qủa Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn Kon Tum và Chương trình hành động triển khai thực hiện 03 lĩnh vực đột phá phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
2. Ngày 06/9/2019, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 2312/KH-UBND chỉ đạo tổ chức điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh năm 2019 nhằm xác định và lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều thời điểm cuối năm 2019 làm cơ sở thực hiện các chính sách giảm nghèo và chính sách an sinh xã hội năm 2020.
Theo đó, đối tượng thực hiện điều tra, rà soát là toàn bộ hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Kon Tum có hộ khẩu thường trú tại địa phương từ 6 tháng trở lên (không bao gồm những hộ có hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng không sống tại địa phương từ 6 tháng trở lên) và những hộ gia đình đã đăng ký tạm trú tại địa phương từ 6 tháng trở lên. Việc điều tra được thực hiện thông qua các phương pháp đánh giá, chấm điểm tài sản, thu thập thông tin đặc điểm, điều kiện sống của hộ gia đình để ước lượng thu nhập và xác định mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo, hộ cận nghèo theo hướng dẫn của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội tại ban hành kèm theo Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 và Thông tư số 14/2018/TT-BLĐTBXH, ngày 26 tháng 9 năm 2018. Về thời gian thực hiện, UBND tỉnh giao UBND các huyện, thành phố hoàn thành việc điều tra, rà soát và báo cáo sơ bộ trước ngày 05/11/2019 và báo cáo kết quả chính thức trước ngày 20/11/2019; Sở Lao động-Thương binh và Xã hội có trách nhiệm xử lý kết quả điều tra tổng hợp báo cáo kết quả điều tra sơ bộ toàn tỉnh trước ngày 15/11/2019 và tham mưu UBND tỉnh phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo toàn tỉnh trước ngày 30/11/2019.
Ngoài ra, UBND tỉnh: (1) yêu cầu UBND các huyện, thành phố tổ chức phúc tra kết quả rà soát trên địa bàn xã, phường, thị trấn, bảo đảm tất cả các xã, phường, thị trấn đều được phúc tra sau khi có báo cáo kết quả rà soát của UBND cấp xã. Kết qủa phúc tra phải được thông báo công khai để nhân dân biết, trước khi UBND cấp xã làm thủ tục công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn. (2) Sở Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức phúc tra kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố (mỗi huyện, thành phố lựa chọn phúc tra từ 02-03 xã). Việc báo cáo chính thức chỉ được thực hiện sau khi các đơn vị, địa phương hoàn thành việc phúc tra theo quy định tại Kế hoạch. (3) Giao các sở, ngành: Lao động- Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc, Nông nghiệp và PTNT, Kế hoạch và Đầu tư, Y tế, Tài chính, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo,Thông tin và Truyền thông và Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh trực tiếp phụ trách địa bàn các huyện, thành phố; chủ động phân công cán bộ và chỉ đạo thực hiện hướng dẫn, giám sát việc tổ chức điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo tại địa bàn được phân công; đôn đốc tiến độ và giám sát nghiệm thu phiếu khảo sát trên địa bàn được phân công phụ trách và báo cáo tiến độ thực hiện hàng tuần theo quy định.
3. Ngày 09/9/2019, UBND tỉnh ban hành Công văn 2333/UBND-KTHT về việc tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài sản công trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban ngành, đơn vị thuộc tỉnh, UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện tốt các nội dung sau: (3.1). Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc quản lý, sử dụng tài sản công: Người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng tài sản công chỉ đạo các bộ phận chức năng, đơn vị trực thuộc rà soát lại việc quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan, đơn vị mình, tổ chức theo dõi, hạch toán đầy đủ về giá trị, số lượng, tránh tình trạng tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm đưa vào sử dụng nhưng không theo dõi trên sổ kế toán, sử dụng sai mục đích, gây thất thoát, lãng phí; thực hiện nghiêm chế độ báo cáo, kê khai tài sản công theo đúng quy định. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng tài sản và người đứng đầu cơ quan, địa phương chủ quản chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh khi để xảy ra sai phạm trong việc đầu tư xây dựng, mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản công. (3.2)Về tăng cường quản lý trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp: Thủ trưởng các sở, ban ngành, đơn vị thuộc tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố chỉ đạo thực hiện nghiêm tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc theo quy định. Kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc bao gồm cả diện tích làm việc của các chức danh, diện tích sử dụng chung và diện tích chuyên dùng ngay từ khâu lập, phê duyệt thiết kế đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp. Đồng thời, chỉ đạo tiến hành ngay việc rà soát tình hình quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước của cơ quan và các đơn vị trực thuộc thuộc phạm vi quản lý để thu hồi ngay đối với các trường hợp tự cho thuê, cho mượn khi chưa được sự đồng ý của UBND tỉnh...(3.3). Về quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập vào mục đích cho thuê, liên doanh, liên kết: Khi có nhu cầu sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết, các sở, ban ngành, đơn vị thuộc tỉnh và UBND các huyện, thành phố phải chỉ đạo các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc lập đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết theo quy định, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Đồng thời, rà soát, theo dõi việc thực hiện quản lý, sử dụng, xử lý tài sản công, đặc biệt là việc sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình rà soát, nếu phát hiện việc sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc chưa đảm bảo quy định; Thủ trưởng các sở, ban ngành, đơn vị thuộc tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị sự nghiệp trực thuộc khẩn trương triển khai các giải pháp chấm dứt, thanh lý Hợp đồng; đồng thời lập Đề án sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê, liên doanh, liên kết trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định. (3.4). Về tăng cường quản lý, sử dụng xe ô tô: Thủ trưởng các sở, ban ngành, đơn vị thuộc tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo các bô phận trực thuộc căn cứ tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô phục vụ chức danh, xe ô tô phục vụ cô ng tác chung quy định để bố trí, sử dụng xe ô tô theo đúng quy định. Chỉ bố trí, điều động xe ô tô công phục vụ công tác, không được sử dụng vào các mục đích cá nhân mà không phải là công việc thuộc nhiệm vụ được giao của cơ quan, đơn vị mình; không sử dụng xe ô tô công để cho thuê, cho mượn trái quy định. Trường hợp phát hiện có xe ô tô công sử dụng sai mục đích; tùy theo tính chất, mức đô vi phạm, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương đó phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh. Việc quản lý, sử dụng xe ô tô phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích. Khi có biến động tăng, giảm xe ô tô, đơn vị tiếp nhận xe phải có trách nhiệm lập các thủ tục gửi cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô kịp thời, tránh tình trạng xe ô tô đã điều chuyển nhiều năm nhưng không lập thủ tục sang tên, đổi chủ thể quản lý. (3.5). Về quản lý, sử dụng đất công: (a) Đối với đất công do nhà nước đang quản lý, giao Sở Tài nguyên Môi trường chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thành phố rà soát, hoàn thiện phương án quản lý, khai thác quỹ đất công trên địa bàn tỉnh trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt; tổ chức triển khai xây dựng kế hoạch, lộ trình và quy chế thực hiện phương án, trong đó quy định rõ trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, đơn vị liên quan cấp tỉnh, cấp huyện. Tăng cường công tác theo dõi, tổng hợp, xác định giá đất cụ thể làm giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo giá đất phản ánh sát đúng với giá trị thị trường. Tăng cường công tác theo dõi, hướng dẫn, giám sát quy trình thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất tại các huyện, thành phố. Kịp thời phát hiện và báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về đấu giá quyền sử dụng đất. (b) Đối với đất Nhà nước giao cho các doanh nghiệp để thực hiện dự án kinh tế, Sở Tài nguyên Môi trường chủ trì, phối hợp với các Sở, ban ngành có liên quan rà soát hiện trạng sử dụng các khu đất do Ủy ban nhân dân tỉnh cho các tổ chức, cá nhân thuê sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh. Phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng đất của từng dự án cụ thể để đề xuất các giải pháp trình UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo.
4. Ngày 19/9/2019, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch 2451/KH-UBND về triển khai thực hiện Đề án “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2019-2021” trên địa bàn tỉnh.
Kế hoạch nhằm mục đích tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, ý thức chấp hành, học tập, tìm hiểu pháp luật về phòng, chống tham nhũng (PCTN) và đạo đức liêm chính; xây dựng lối sống liêm chính và tuân thủ pháp luật về PCTN trong cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân; đưa công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN phát triển ổn định, bền vững, đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; góp phần tích cực vào công tác PCTN trên địa bàn tỉnh.
Về mục tiêu cụ thể, phấn đấu đạt kết quả: (1) Hàng năm, 100% báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; giáo viên, giảng viên các môn pháp luật, giáo dục công dân được tập huấn, bồi dưỡng cập nhật chính sách, pháp luật về PCTN; (2) Hằng năm, 100% cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN dưới các hình thức; (3) Đến hết năm 2019 có 90%, đến hết năm 2021 có 100% lãnh đạo doanh nghiệp, hiệp hội doạnh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, đơn vị nghiên cứu, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN; (4) Đến hết năm 2019 có 85%, đến hết năm 2021 có 100% người lao động tại cơ quan nghiên cứu, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN; (5) Đến hết năm 2019 có 75%, đến hết năm 2021 có 90% người lao động tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN; (6) Đến hết năm 2019 có 60%, đến hết năm 2021 có 70% người dân nông thôn, dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tiểu thương, lao động tự do trên địa bàn tỉnh được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN; (7) Đến hết năm 2021, 100% chương trình đào tạo thuộc các loại hình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng trên địa bàn tỉnh có nội dung về chính sách, pháp luật về PCTN, đạo đức liêm chính.
Nội dung tuyên truyền, phổ biến, gồm: Thực trạng, nguyên nhân, điều kiện tham nhũng và giải pháp PCTN; Ý nghĩa, tầm quan trọng của PCTN và xây dựng đạo đức liêm chính; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức liêm chính và PCTN; Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về PCTN; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Kinh nghiệm PCTN trong lịch sử Việt Nam; Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; hợp tác quốc tế của Việt Nam trong PCTN; kinh nghiệm quốc tế về PCTN; Tình hình, kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về PCTN; Quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và công dân trong PCTN; Mô hình, kinh nghiệm, gương tiêu biểu về PCTN và đạo đức liêm chính; Các sự kiện, vấn đề chính trị - pháp lý - kinh tế - văn hóa - xã hội có chủ đề, nội dung về PCTN và đạo đức liêm chính.
UBND tỉnh yêu cầu: (1) các sở, ban ngành, đoàn thể và UBND các huyện, thành phố trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được giao có trách nhiệm hướng dẫn, triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục các nhiệm vụ từ năm 2019 - 2021, như: Tổ chức, kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; đội ngũ giáo viên, giảng viên giảng dạy môn giáo dục công dân và môn pháp luật tại các trường Trung học phổ thông, các cơ sở giáo dục đào tạo. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ tuyên truyền viên là người có uy tín trong cộng đồng dân tộc tại các bản, tiểu khu, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. (2) Xây dựng chương trình, chuyên trang, chuyên mục; tin bài, tranh, ảnh cổ động, khẩu hiệu có chủ đề PCTN và xây dựng đạo đức liêm chính trên các kênh phát thanh, truyền hình, Cổng/trang thông tin điện tử và báo, tạp chí. Biên soạn, phát hành tài liệu, tờ rơi, tranh ảnh, khẩu hiệu, ấn phẩm tuyên truyền pháp luật về PCTN và đạo đức liêm chính. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật qua các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; tuyên truyền lưu động. (3) Tổ chức các hoạt động tôn vinh, nhân rộng mô hình, gương tiêu biểu trong PCTN và xây dựng đạo đức liêm chính; tổ chức các cuộc thi, giải thưởng có chủ đề PCTN và xây dựng đạo đức liêm chính. Xây dựng tủ sách pháp luật, điểm tuyên truyền tập trung về pháp luật PCTN và đạo đức liêm chính trong các cơ quan, đơn vị, địa phương. (4) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các cuộc họp, hội nghị, sinh hoạt cơ quan, tổ chức, đơn vị và nhân dân trên các địa bàn dân cư; lồng ghép trong các hoạt động chuyên môn nhất là trong các hoạt động cải cách và kiểm soát thủ tục hành chính, kiểm tra, giám sát, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm hành chính, điều tra, xét xử, thi hành án. Tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý về PCTN của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tư vấn pháp luật, tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực...
5. Ngày 20/9/2019, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Công văn số 2453/UBND-NCXDPL về tổ chức các hoạt động hưởng ứng “Ngày toàn dân phòng cháy chữa cháy” (4/10).
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu: (1) Thủ trưởng các sở, ban ngành và đoàn thể tỉnh; UBND các huyện, thành phố và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương chỉ đạo tự kiểm tra, khắc phục kịp thời những tồn tại, thiếu sót về công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC), nhất là các cơ sở trọng điểm về PCCC (như: Chợ, trung tâm thương mại, cơ sở kinh doanh xăng dầu, khí đốt hoá lỏng, nơi tập trung đông dân cư, nơi tập trung đông người, nơi có nhiều tài sản, tài liệu); xây dựng và tổ chức thực tập phương án chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở theo quy định; rà soát, củng cố đầu tư trang bị dụng cụ, phương tiện PCCC để chủ động xử lý khi có cháy nổ xảy ra. Tiến hành củng cố, kiện toàn hoạt động hoặc xây dựng mới các Đội dân phòng, Đội PCCC cơ sở theo quy định của Luật Phòng cháy, chữa cháy. (2) Tổ chức tuyên truyền trong tháng an toàn PCCC (tháng 10 năm 2019) bằng các hình thức phù hợp (tuyên truyền lưu động, treo, gắn khẩu hiệu, pa nô, in và phát hành những khuyến cáo về PCCC tại cơ quan, đơn vị, khu dân cư, chợ, trung tâm thương mại, nhà cao tầng); Những cơ quan, đơn vị, địa phương có điều kiện, khuyến khích tổ chức Hội thi tìm hiểu pháp luật, kỹ năng về PCCC và cứu nạn, cứu hộ cho lực lượng PCCC cơ sở, dân phòng và quần chúng Nhân dân; tổ chức các buổi nói chuyện, tuyên truyền trực quan...(3) Giao Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Kon Tum chỉ đạo các đơn vị, bộ phận chức năng tăng thời lượng đưa tin, tuyên truyền những điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt, xây dựng và đăng phát các clip cổ động, cảnh báo, hướng dẫn về an toàn PCCC và CNCH; phổ biến Luật Phòng cháy, chữa cháy và các văn bản hướng dẫn thi hành luật; tuyên truyền về trách nhiệm thực hiện công tác PCCC và CNCH để nâng cao nhận thức trong mọi tầng lớp Nhân dân. (4) Giao Công an tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền PCCC; kiểm tra, hướng dẫn thực hiện các quy định về điều kiện an toàn PCCC tại các cơ quan, đơn vị, cơ sở có nguy hiểm cháy nổ cao (như: Chợ, trung tâm thương mại, cơ sở kinh doanh xăng dầu, khí đốt hóa lỏng, kho vật liệu nổ, khu dân cư, khu công nghiệp...); kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật về PCCC; kịp thời tham mưu, đề xuất UBND tỉnh có biện pháp PCCC hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc chế độ thường trực sẵn sàng chiến đấu 24/24h; bảo quản, bảo dưỡng phương tiện, đảm bảo chữa cháy nhanh, kịp thời có hiệu quả các vụ cháy, nổ xảy ra trên địa bàn tỉnh....
II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
Ngày 15/8/2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng điều 214 về tội gian lận Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), điều 215 về tội gian lận Bảo hiểm y tế (BHYT) và điều 216 về tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động của Bộ Luật hình sự. Nghị quyết gồm 08 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2019. Một số quy định chủ yếu của Nghị quyết:
- Điều 3 của Nghị quyết quy định về một số tình tiết định khung hình phạt. Theo đó, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm b, khoản 2, các điều 214 và 215 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi gian lận BHXH, BHTN, BHYT từ 05 lần trở lên và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập. Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt quy định tại điểm đ, khoản 2, các điều 214 và 215 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội sử dụng công nghệ cao, móc nối với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc thủ đoạn gian dối, mánh khóe khác để tiêu hủy chứng cứ, che giấu hành vi phạm tội, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm. Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 216 của Bộ luật Hình sự; là trường hợp đã thực hiện hành vi phạm tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm d, khoản 2 và điểm c, khoản 3, Điều 216 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người sử dụng lao động đã thu hoặc đã khấu trừ tiền đóng bảo hiểm từ tiền lương tháng đóng bảo hiểm của người lao động nhưng không đóng cho cơ quan bảo hiểm.
- Điều 5, Nghị quyết nêu rõ, đối với hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 thì không xử lý về hình sự theo quy định tại Điều 216 của Bộ luật Hình sự mà tùy từng trường hợp xử lý như sau: Trường hợp chưa xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm hành chính. Trường hợp đã xử phạt vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn việc thi hành thì thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo quy định tại khoản 2, Điều 74 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Việc thi hành, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính này thực hiện theo pháp luật về thi hành, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Trường hợp gây thiệt hại cho người lao động, cơ quan BHXH hoặc tổ chức, cá nhân khác thì người bị thiệt hại có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với người vi phạm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự... Ngoài ra, Điều 5 quy định, không coi việc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 216 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài các quy định nêu trên, Nghị quyết này còn có nội dung quy định truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể; Xác định tư cách tố tụng của cơ quan bảo hiểm xã hội...
 

 

_________
 
Nguyễn Phi Em thực hiện
 

[1] Ngày Quốc tế Người cao tuổi (01/10); Ngày giải phóng Thủ đô (10/10); Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10); Ngày truyền thống Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam (15/10); Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10) và các ngày truyền thống của các ban, ngành, đoàn thể (Tổ chức xây dựng Đảng, Dân vận, Kiểm tra Đảng, Văn phòng cấp ủy, Tài chính Đảng; Hội Nông dân Việt Nam). Thông tin, phổ biến cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tham dự thi trắc nghiệm tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam” trên mạng xã hội VCNET.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

TÀI LIỆU

phục vụ giao ban báo chí tháng 11-2019 (tổ chức lúc 8h, 07.11.2019)

Lượt xem:292 | lượt tải:87

CV.7478.BTGTW

V/v gửi đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Quân tình nguyện và Chuyên gia VN tại Lào

Lượt xem:392 | lượt tải:69

CV.2714.BTGTU

mời dự Hội nghị trực tuyến BCV tháng 11/2019

Lượt xem:299 | lượt tải:69

DANH SÁCH

Thí sinh tham gia Hội thi Báo cáo viên giỏi cấp tỉnh năm 2019

Lượt xem:409 | lượt tải:92

CV.13.BTC

Về việc triệu tập thí sinh tham gia Hội thi Báo cáo viên giỏi cấp tỉnh năm 2019

Lượt xem:277 | lượt tải:66

CV.10.BTC

Công văn gửi câu hỏi thi ứng xử Hội thi BCV giỏi cấp tỉnh năm 2109

Lượt xem:481 | lượt tải:84

CV.2680.BTGTU

về tuyên truyền kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Hoàng Văn Thụ

Lượt xem:532 | lượt tải:85
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập32
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm28
  • Hôm nay4,369
  • Tháng hiện tại129,490
  • Tổng lượt truy cập5,035,199
     Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
   
 - Giấy phép số 03/GP- TTĐT, ngày 21 tháng 9 năm 2015
     - Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum, số 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum, tỉnh Kon Tum
     - Người chịu trách nhiệm chính: Bà Lê Thị Kim Đơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
     - Điện thoại: 0260.3862301. Fax: 0260. 3865464. Email: bantuyengiaotinhuykt@gmail.com; phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây