Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2018 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2018

Thứ năm - 27/09/2018 09:44
A. NỘI DUNG TRỌNG TÂM SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 10-2018
- Lãnh đạo tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm trong tháng[1]. Tuyên truyền về kết quả phát triển kinh tế - xã hội từ đầu năm đến nay, nhiệm vụ và giải pháp nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các địa phương, đơn vị năm 2018.
- Ngoài ra, tuyên truyền kết quả đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết XV Đảng bộ tỉnh (theo Báo cáo số 308-BC/TU, ngày 02-7-2017 của Tỉnh ủy). Tiếp tục tuyên truyền kết quả 02 năm thực hiện Chỉ thị 05 -CT/TW của Bộ Chính trị "về đẩy mạnh việc học tập tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh", tập trung biểu dương, cổ vũ các tấm gương điển hình cá nhân và tập thể trong các lĩnh vực công tác, các phong trào thi đua gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Tuyên truyền các nội dung Đề án tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam giai đoạn 2018 – 2020 theo Quyết định số 930/QĐ-TTg ngày 28/7/2018 của Thủ tướng chính phủ. Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc theo tinh thần Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 02-4-2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tuyên truyền nhằm đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh trong thời gian  tới theo Hướng dẫn số 41-HD/BTGTU, ngày 20-6-2018 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. Các nội dung theo Kết luận số 34-KL/TW vgày 07/8/2018 của Bộ Chính trị về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.  Việc triển khai thực hiện các chương trình của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV về thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, 6 khóa XII của Đảng; trong đó tăng cường tuyên truyền việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của BCHTW Đảng khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" theo Chương trình số 51-Ctr/TU, ngày 09-02-2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV. Tuyên truyền kết quả thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2025 (Kết luận số 927-KL/TU, ngày 02-5-2018).
Thông tin, tuyên truyền công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của các địa phương, đơn vị; về phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, sản phẩm chủ lực của tỉnh; triển khai nông nghiệp công nghệ cao; bảo tồn và phát triển thương hiệu sản phẩm sâm Ngọc Linh; xây dựng nông thôn mới; công tác phòng, chống dịch bệnh; phòng, chống thiên tai; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, phát hiện và xử lý các hành vi gian lận thương mại, thực phẩm bẩn, thực phẩm kém an toàn.
Thường xuyên tuyên truyền, vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, nâng cao cảnh giác trước những âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; đấu tranh phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ bí mật nhà nước liên quan đến quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh Theo Kế hoạch số 165/KH-UBND, ngày 16-5-2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh.
B. THÔNG TIN THỜI SỰ
I. THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1: Một số nội dung trọng tâm về tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam giai đoạn 2018 – 2020
Ngày 28/7/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 930/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam giai đoạn 2018 - 2020. Trong đó, có một số nội dung đáng chú ý là:
Về nội dung tuyên truyền:
Tập trung tuyên truyền, phổ biến những nội dung chủ yếu sau: (i) Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến biển, đảo. (ii) Các văn bản luật pháp quốc tế, thỏa thuận song phương và đa phương giữa Việt Nam với các quốc gia, các tổ chức quốc tế có liên quan đến biển, đảo. (iii) Những chứng cứ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; vị trí, vai trò, tiềm năng của biển, đảo Việt Nam. (iv) Phát triển kinh tế biển, đảo, đặc biệt là những ngành kinh tế mũi nhọn như: Khai thác và chế biến dầu khí, kinh tế hàng hải, khai thác và chế biến hải sản, du lịch biển và kinh tế hải đảo, xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển; bảo vệ môi trường. (v) Giáo dục cho ngư dân về các quy định pháp luật trong hoạt động thủy sản như: Nuôi trồng, thủy, hải sản, đánh bắt xa bờ, hậu cần nghề cá...; chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển nhằm thu hút mạnh hơn các nguồn lực đầu tư, bảo vệ chủ quyền biển, đảo; ứng phó với rủi ro, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, dự báo ngư trường, mùa vụ, thời tiết, đối tượng đánh bắt; chính sách khuyến khích ngư dân định cư lâu dài; gương cá nhân và tập thể tiên tiến, điển hình trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Về tổ chức thực hiện Đề án:
(i) Các bộ, cơ quan và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo, định hướng, cung cấp thông tin, tư liệu liên quan đến công tác tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam; cung cấp thông tin các mô hình, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trong công cuộc phát triển kinh tế biển, đảo và đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
(ii) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: a) Chỉ đạo, định hướng và cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí, xuất bản, hệ thống thông tin cơ sở tại địa phương việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến bảo vệ và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam. b) Chỉ đạo Sở Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng trên địa bàn triển khai thực hiện công tác tuyên truyền phù hợp với yêu cầu, tình hình thực tế tại địa phương. c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các bộ, cơ quan liên quan chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ quy định trong Đề án. d) Cân đối và bố trí ngân sách địa phương để triển khai thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
(iii) Bộ Thông tin và Truyền thông (cơ quan chủ trì thực hiện Đề án), Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mình tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ cụ thể đã được giao trong Đề án.
Chuyên đề 2: Tuyên truyền miệng - Những yếu tố cần và đủ[2]
Công việc của người tuyên truyền miệng đòi hỏi phải hội tụ ba yếu tố: Tâm huyết - Vốn sống - Năng khiếu. Người có tâm huyết với nghề, nhưng thiếu vốn kiến thức, thiếu vốn sống và kinh nghiệm… thì chẳng có gì để nói. Người có vốn kiến thức rộng, nhưng không có tâm huyết sẽ không có động lực, có nghĩa là không có “lửa” để “truyền lửa”. Tuy có tâm huyết, có “nguồn vốn” nhưng nếu thiếu năng khiếu thì cũng hạn chế đến kết quả công tác tuyên truyền miệng. 
Có thể nói, tuyên truyền miệng có những ưu thế đặc trưng, đặc tính “vượt trội” mà các hình thức, loại hình khác không thể thay thế được. Đây là một “kiểu” tuyên truyền có điều kiện và khả năng tiến hành một cách thường xuyên, kịp thời và phổ biến, dễ thích ứng, không có giới hạn về thời gian, số lần và cũng không cầu kỳ, phụ thuộc vào công cụ, trang bị phức tạp. Vì thế, lịch sử và ý nghĩa quan trọng của công tác này gắn liền với lịch sử của công tác tư tưởng trong suốt quá trình cách mạng của Đảng ta.
Một số kinh nghiệm khi tiến hành tuyên truyền miệng:
Thứ nhất, phải nhận thức rõ vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng của công tác tuyên truyền miệng. Để chỉ đạo công tác này, thời gian qua, hầu hết các tỉnh, thành phố đã ban hành quy chế tổ chức, hoạt động và kiện toàn đội ngũ báo cáo viên cấp tỉnh. Đây là yếu tố “cần và đủ” bước đầu để nâng cao ý thức của cấp ủy các cấp trong việc nhìn nhận, đánh giá đúng mức độ của lĩnh vực công tác này trong tình hình mới. Song song với đó, cần chú trọng hơn nữa việc thống nhất nội dung tuyên truyền từ trên xuống dưới, với nhiều hình thức phù hợp với từng vùng, từng loại đối tượng trong dân cư và được quản lý chặt chẽ, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật phát ngôn.
Thứ hai, phải hướng vào việc nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong nhân dân góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước. Thông qua hoạt động tuyên truyền miệng, đối thoại trực tiếp, đội ngũ báo cáo viên có điều kiện hòa nhập, giúp nhân dân ở cơ sở tháo gỡ khó khăn, giải đáp kịp thời những vướng mắc của nhân dân trong phạm vi chức năng và quyền hạn của báo cáo viên. Đây cũng là yếu tố quan trọng tạo sức đề kháng cho người dân trước những luận điệu phản tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chia rẽ nội bộ của các thế lực thù địch.
Thứ ba, đội ngũ báo cáo viên không chỉ có “phát” mà phải luôn biết “thu” - tức là phải chú trọng nắm bắt thông tin từ trong nhân dân để phản ánh kịp thời cho lãnh đạo nhằm điều chỉnh phù hợp. Đồng thời, giúp cho lãnh đạo các cấp hiểu và đánh giá đúng tình hình cũng như năng lực và phẩm chất của cán bộ ở từng địa phương.
Thứ tư, đối với một số địa bàn miền núi cần lưu ý để có phương pháp phù hợp với từng vùng (vùng biên giới, vùng đệm biên giới, vùng có “tà đạo”, vùng trọng điểm tệ nạn xã hội, vùng có hoạt động thường xuyên của người nước ngoài, v.v…). Nhiều địa phương miền núi thực hiện phương châm “lấy nhân dân giáo dục nhân dân”, tranh thủ tiếng nói từ những nhân tố tích cực ở cơ sở, những người có uy tín lớn trong cộng đồng dân cư như già làng, trưởng bản, trưởng dòng tộc, cán bộ, đảng viên cao tuổi v.v.. Một số nơi có bộ đội biên phòng đóng quân, địa phương đã biết tranh thủ đội ngũ này làm công tác tuyên truyền miệng lồng ghép thông qua các hoạt động như xóa mù chữ, khám, chữa bệnh…
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền miệng, cần quan tâm đến các yếu tố sau:
Một là, các địa phương phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi (về con người, phương tiện, kinh phí …) cho báo cáo viên, tuyên truyền viên hoạt động. Quan tâm xây dựng các mô hình điểm, “người thật việc thật”, bởi vì như Bác Hồ căn dặn: “Một tấm gương sống còn hơn cả một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Hai là, cung cấp kịp thời, chính xác và đầy đủ thông tin cho báo cáo viên. Tùy theo điều kiện cụ thể của từng nơi để có cách điều hành đội ngũ báo cáo viên, có thể tổ chức thành từng nhóm chuyên đề như: nhóm thời sự - chính trị; nhóm khoa học - kỹ thuật; nhóm kinh tế; nhóm văn hóa - xã hội; nhóm an ninh - quốc phòng và nhóm pháp luật v.v..
Ba là, đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên phải được dày công tìm tòi, phát hiện để đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng. Người làm báo cáo viên phải giỏi nghiệp vụ, có hiểu biết nhất định về lĩnh vực kinh tế - xã hội, phải yêu mến công việc này để say sưa nghiên cứu, tích lũy, có phương pháp và kỹ năng tổng hợp thông tin, ít nhiều có năng khiếu diễn đạt, có tâm huyết, có bản lĩnh chính trị. Đặc biệt, phải có cảm xúc. Bởi, cảm xúc của người tuyên truyền, đối với vấn đề truyền đạt có ảnh hưởng trực tiếp tới tình cảm và tư duy của đối tượng tuyên truyền như Lênin từng nói: “Thiếu cảm xúc, con người không có sự tìm kiếm chân lý”.
II. TIN TRONG TỈNH
1. Ngày 5-9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và cắt băng khánh thành Trung tâm Quốc gia nghiên cứu và phát triển sâm Ngọc Linh do Bộ Khoa học và Công nghệ đầu tư xây dựng tại thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô.
Trung tâm được chính thức khởi công vào tháng 9/2014, thuộc Dự án đầu tư “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống, canh tác, mở rộng sản xuất, xây dựng, phát triển thương hiệu quốc gia cho sâm Ngọc Linh”, do Bộ Khoa học và Công nghệ và UBND tỉnh Kon Tum phối hợp thực hiện, với tổng mức đầu tư gần 570 tỷ đồng.
Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ sự vui mừng trước việc Trung tâm được hoàn thành và đưa vào hoạt động. Thủ tướng mong muốn, Trung tâm sẽ phát huy tốt vai trò mũi nhọn, đi đầu trong việc nâng cao hiệu quả bảo tồn nguồn giống sâm Ngọc Linh; tạo tiền đề phát triển thương hiệu quốc gia cho sản phẩm sâm củ Ngọc Linh Kon Tum về lâu dài.
Thủ tướng nhấn mạnh, việc nghiên cứu, phát triển sâm Ngọc Linh là rất quan trọng và cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn thời gian tới, nhất là trong bối cảnh nhu cầu sử dụng trong nước rất lớn và mỗi năm, nước ta nhập rất nhiều sản phẩm sâm từ nước ngoài… 
Thủ tướng yêu cầu Trung tâm tập trung nghiên cứu làm rõ tính đặc hữu riêng có của sâm Ngọc Linh so với các giống sâm khác trên thế giới; làm tốt công tác bảo vệ nguồn gen, phát triển sâm Ngọc Linh; nghiên cứu, phát triển các sản phẩm từ sâm, đảm bảo giá trị dinh dưỡng cao, giá cả hợp lý phục vụ trong nước và xuất khẩu; hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp và người dân ngăn chặn nạn mua bán sâm Ngọc Linh giả...
Bên cạnh đó, Thủ tướng yêu cầu Trung tâm kết nối được với các nhà khoa học trong nước và quốc tế trong việc nghiên cứu bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh, các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh; chính quyền địa phương giám sát hiệu qủa hoạt động của Trung tâm...
* Cùng ngày, Thủ tướng đã đến dự Lễ khai giảng năm học mới cùng thầy trò Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú huyện Tu Mơ Rông (huyện Tu Mơ Rông). Thăm Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Đăk Tô. Đồng thời, thăm vườn sâm Ngọc Linh của Công ty CP Sâm Ngọc Linh tại xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông.
Trò chuyện với tập thể cán bộ, công nhân Công ty CP Sâm Ngọc Linh và  người dân, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh đến điều kiện tự nhiên ưu đãi ở Kon Tum nói chung, huyện Tu Mơ Rông nói riêng - vùng đất có nhiều tiềm năng to lớn phát triển dược liệu, đặc biệt là dược liệu quý hiếm.
Vui mừng trước những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn, nghiên cứu, phát triển sâm Ngọc Linh, nhất là việc tạo dựng được vườn sâm gốc, Thủ tướng cho biết, chính sự kiên trì, tri thức, ý chí và bản lĩnh đã làm nên những thành công bước đầu rất quan trọng.
Đánh giá cao mô hình đầu tư cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trồng sâm Ngọc Linh của doanh nghiệp, Thủ tướng cho rằng, nâng cao mức sống của người dân, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho bà con sẽ đem lại hiệu quả lớn lao trong việc bảo vệ nguồn gen sâm quý; bảo vệ thương hiệu và đấu tranh chống sâm giả, sâm kém chất lượng.
Thủ tướng nhấn mạnh, Nhà nước đặc biệt quan tâm đến bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh cũng như cây dược liệu khác không đồng nghĩa với việc bao cấp trong nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ cây dược liệu. Các bộ, ngành Trung ương, địa phương và doanh nghiệp cần đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ, sản xuất theo chuỗi giá trị, hạn chế bào chế thô nhằm phát huy lợi thế so sánh mà các nước khác không có...
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc căn dặn, sâm Ngọc Linh xứng đáng với tên gọi "Quốc bảo", và tỉnh Kon Tum cần phải phát huy mạnh mẽ vai trò của "Quốc bảo" trong "quốc kế dân sinh". Muốn như vậy, phải đầu tư chế biến sâu; có nhiều sản phẩm từ sâm Ngọc Linh; để hàng triệu người được tiếp cận, được sử dụng các sản phẩm từ sâm quý, chứ không thể bán thô...
Thủ tướng cũng mong muốn chính quyền địa phương tăng cường, triệt để hơn trong khâu bảo vệ thương hiệu sản phẩm quốc gia của sâm Ngọc Linh; chống hàng giả, hàng nhái, đội lốt sâm Ngọc Linh...
2. Chiều 5-9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn công tác của Chính phủ đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Kon Tum.
Đón tiếp và làm việc với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, về phía lãnh đạo tỉnh Kon Tum có các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trưởng các sở, ban, ngành của tỉnh.
Tại buổi làm việc, thay mặt lãnh đạo tỉnh Kon Tum, đồng chí Nguyễn Văn Hòa đã báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh từ đầu năm 2018 đến nay: Trong 8 tháng đầu năm 2018, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh đạt 5.185 tỷ đồng, tăng 9,25% so với cùng kỳ năm 2017; tổng diện tích cao su trên địa bàn đạt 74.756ha, diện tích cà phê đạt 17.952ha, diện tích sâm Ngọc Linh đã trồng 329,27ha; có 13 xã đạt nông thôn mới; thu hút được 32 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 6.987 tỷ đồng; có 159 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 1.096 tỷ đồng; 153 trường đạt chuẩn quốc gia; chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tiếp tục được nâng lên; 1.683 lao động được tạo điều kiện giải quyết việc làm; tổng số hộ nghèo trên địa bàn còn 26.164 hộ, chiếm 20,3%; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế tiếp tục đi vào chiều sâu, được tăng cường trên nhiều lĩnh vực.
Bên cạnh kết quả đạt được, tỉnh Kon Tum hiện còn gặp nhiều khó khăn: chất lượng tăng trưởng kinh tế và tái cơ cấu trong các ngành, các lĩnh vực còn chậm; công tác quản lý bảo vệ rừng còn bất cập, việc xây dựng “cánh đồng lớn”, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn chậm; liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn; tiến độ xây dựng nông thôn mới còn chậm và chưa đạt yêu cầu đề ra; kết cấu hạ tầng còn thiếu và chưa đồng bộ; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao…
Tỉnh Kon Tum đề xuất, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét thống nhất cho tỉnh thực hiện thí điểm việc giao rừng, cho thuê rừng đặc dụng để phát triển sâm Ngọc Linh và các dược liệu khác dưới tán rừng kết hợp quản lý, bảo vệ rừng bền vững; xem xét thống nhất chủ trương cho tỉnh lập Đề án hình thành khu công nghiệp sản xuất, chế biến dược liệu tập trung với quy mô lớn trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt, làm cơ sở triển khai thực hiện công tác phát triển dược liệu trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới; quan tâm hỗ trợ 500 tỷ đồng để tỉnh Kon Tum khắc phục hậu quả thiên tai; quan tâm xem xét, công nhận Di tích lịch sử Quốc gia Ngục Kon Tum là Di tích Quốc gia đặc biệt và hỗ trợ kinh phí để đầu tư, nâng cấp Di tích; quan tâm hỗ trợ kinh phí để địa phương chủ động khắc phục, sửa chữa, duy tu các tuyến đường tuần tra biên giới; hỗ trợ kinh phí để đầu tư đồng bộ các đoạn còn lại của Quốc lộ 14C và Quốc lộ 24 đoạn qua địa bàn tỉnh Kon Tum…
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao, biểu dương những nỗ lực của tỉnh Kon Tum trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh.
Thủ tướng nhấn mạnh, Kon Tum đã chú trọng làm tốt công tác quan hệ quốc tế với các nước láng giềng như Lào, Campuchia; quan tâm, giải quyết tốt vấn đề dân tộc; có hướng phát triển đúng đắn đối với cây sâm Ngọc Linh.
Thủ tướng cũng đã chỉ rõ, bên cạnh những kết quả đạt được, trong phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Kon Tum vẫn còn một số hạn chế như thu nhập bình quân đầu người thấp; việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm trên thị trường còn ít; phát triển doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số quản trị hành chính công chậm được cải thiện.
Với nhiều lợi thế, tiềm năng trong phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng đề nghị tỉnh Kon Tum tiếp tục nỗ lực tìm kiếm các nguồn lực để đầu tư phát triển; lựa chọn một số nhiệm vụ trọng tâm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển trong thời gian tới; chú trọng phát triển dược liệu, nhất là sâm Ngọc Linh; tiếp tục tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nước láng giềng như Lào và Campuchia; khai thác tốt tiềm năng đất đai, khí hậu, nét đẹp văn hoá truyền thống; giải quyết việc làm cho người lao động và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; quan tâm hơn đối với giáo dục, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo; giải quyết tốt vấn đề đất đai, y tế; tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, phát triển rừng bền vững, kinh tế cửa khẩu, du lịch.
Thủ tướng ghi nhận các kiến nghị của tỉnh Kon Tum để xem xét, giải quyết trong thời gian tới.
3. Ngày 6-9, tại khách sạn Indochine (TP.Kon Tum), UBND tỉnh Kon Tum phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội nghị “Đầu tư, phát triển sâm Ngọc Linh và các dược liệu khác”. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và chỉ đạo hội nghị.
Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, gồm:  Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Dân tộc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; lãnh đạo các tỉnh Quảng Nam, Gia Lai, Đăk Nông; các nhà khoa học, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Về phía tỉnh Kon Tum, có các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh;Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy;  Nguyễn Văn Hòa- Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; A Pớt- Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban ngành, địa phương trong tỉnh.
Phát biểu khai mạc hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Bí thư Tỉnh ủy khẳng định: Kon Tum là địa phương có tiềm năng, thế mạnh về rừng, đất lâm nghiệp và điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp cho việc phát triển các loài dược liệu tự nhiên, trong đó có nhiều loài quý, hiếm. Trên cơ sở kết quả điều tra, khảo sát, tỉnh Kon Tum đã phê duyệt Đề án đầu tư, phát triển và chế biến dược liệu đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 để tổ chức triển khai thực hiện.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển trong thời gian qua cho thấy, ngành dược liệu của tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị tạo ra chưa nhiều. Việc đầu tư phát triển, chế biến và sử dụng dược liệu còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, manh mún, chưa hiệu quả; tình hình khai thác, buôn bán dược liệu tự nhiên chưa được kiểm soát chặt chẽ dẫn đến một số dược liệu quý hiếm có nguy cơ cạn kiệt; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ cho việc phát triển dược liệu còn hạn chế; chưa có chính sách phù hợp để thúc đẩy phát triển ngành dược liệu; chưa có sự liên kết chặt chẽ trong quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ dược liệu; công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu dược liệu của tỉnh còn yếu kém.
Để triển khai hiệu quả Đề án, tỉnh Kon Tum đang yêu cầu các ngành, địa phương đẩy mạnh phát triển sản phẩm dược liệu gắn với quảng bá, xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội - Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng cho biết.
Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng tin tưởng rằng, với các giải pháp cụ thể, quyết liệt, đồng bộ, nhiệm vụ phát triển dược liệu của Chính phủ nói chung và của địa phương nói riêng sẽ gặt hái được thành công, thúc đẩy phát triển sản xuất, chuyên nghiệp hóa và gia tăng giá trị sản phẩm, gia tăng lợi ích cộng đồng và nhân rộng các mô hình có hiệu quả; tạo "làn gió mới" và tiến đến tự sản xuất, cung cấp dược liệu trong nước và xuất khẩu quốc tế.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Kon Tum, đến nay trên địa bàn tỉnh đã trồng được trên 500ha sâm Ngọc Linh (bao gồm cả vườn giống); các doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tư lắp đặt dây chuyền chế biến để cho ra đời những sản phẩm sâm Ngọc Linh thương mại đầu tiên, khắc phục tình trạng tiêu thụ sâm Ngọc Linh dưới dạng sâm củ, nhằm tạo giá trị gia tăng cao cho ngành dược liệu và tiếp cận thị trường quốc tế.
Thông qua hội nghị này, tỉnh Kon Tum khẳng định sâm Ngọc Linh hiện chưa được đưa ra thị trường để tiêu thụ, tỉnh đang triển khai đăng ký nhãn hiệu chứng nhận "Sâm Ngọc Linh Kon Tum" để tiến tới giao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý "Ngọc Linh" cho Hội Sâm Ngọc Linh Kon Tum. Những sản phẩm dán nhãn hiệu chứng nhận "Sâm Ngọc Linh Kon Tum" sẽ chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ được trồng từ vườn sâm gốc, đảm bảo cho việc xây dựng vững chắc thương hiệu sâm Ngọc Linh - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Ngọc Tuấn thông tin.
Ngoài sâm Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum còn có nguồn tài nguyên dược liệu rất phong phú và đa dạng, với hơn 853 loài cây thuốc và nấm làm thuốc, thuộc 549 chi, 191 họ của 6 ngành thực vật khác nhau. Trong đó có 35 loài, thuộc 27 họ thực vật thuộc diện quý hiếm cần được bảo tồn.
Qua công tác bảo tồn, nghiên cứu và phát triển, tỉnh Kon Tum định hình và phát triển 4 khu vực nuôi trồng, nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển cây dược liệu thế mạnh của tỉnh như: Đảng sâm, đương quy, ngũ vị tử, sa nhân tím, giảo cổ lam, lan kim tuyến,...
Đến nay, tỉnh cũng đã thu hút được 17 dự án đầu tư phát triển dược liệu với tổng vốn đầu tư 11.229 tỷ đồng trên quy mô 7.800ha. Ngay trước khi diễn ra Hội nghị này, tỉnh cũng đã trao Quyết định đầu tư, chủ trương khảo sát tìm hiểu cơ hội đầu tư cho nhiều dự án với tổng vốn đăng ký trên 12.000 tỷ đồng. Trong đó có một số dự án chiến lược của các nhà đầu tư lớn, kỳ vọng sẽ đưa các sản phẩm có chất lượng và sức cạnh tranh tiêu thụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Về định hướng phát triển dược liệu trong thời gian tới, tỉnh Kon Tum phấn đấu trở thành vùng dược liệu trọng điểm quốc gia vào năm 2030 với diện tích vùng trồng dược liệu đạt 25.000ha, trong đó có 10.000ha sâm Ngọc Linh. Mỗi năm ngành dược liệu đóng góp khoảng 10% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của tỉnh...
Tỉnh Kon Tum cam kết sẽ thực thi đầy đủ các chính sách ưu đãi đầu tư tối đa của Chính phủ, đồng thời ban hành chính sách đặc thù để thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và hộ gia đình trong, ngoài tỉnh đầu tư phát triển dược liệu, như: hỗ trợ giống dược liệu chủ lực; miễn lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích trồng dược liệu; giao rừng, cho thuê rừng để quản lý, bảo vệ và kết hợp phát triển sâm Ngọc Linh và các dược liệu khác dưới tán rừng...
Xây dựng các chuỗi liên kết từ khâu trồng, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ dược liệu trong nước; tăng cường công tác bảo vệ nguồn gen và sâm gốc, đấu tranh ngăn chặn nạn mua bán sâm giả, sâm không rõ nguồn gốc, xuất xứ…
UBND tỉnh Kon Tum kiến nghị cần có sự thống nhất quan điểm trong phát triển sản phẩm quốc gia sâm Ngọc Linh, đó là chỉ phát triển được ở vùng lập địa núi Ngọc Linh do đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum, đồng thời là cây dược liệu có tính đặc hữu hẹp, chỉ phát triển được ở vùng lập địa núi Ngọc Linh; hình thành Trung tâm nghiên cứu dược liệu mang tầm quốc gia đặt tại tỉnh Kon Tum để thực hiện công tác nghiên cứu, bảo tồn các dược liệu quý hiếm, chuyển giao khoa học công nghệ và nghiên cứu sản xuất các sản phẩm từ dược liệu.
Đặc biệt, cần sự hỗ trợ từ Trung ương để hình thành Khu công nghiệp sản xuất, chế biến dược liệu tập trung với quy mô lớn để tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất các sản phẩm có chất lượng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Tại hội nghị, đã có nhiều báo cáo tham luận của các bộ, ngành Trung ương, doanh nghiệp, nhà khoa học được trình bày. Trong đó, đều khẳng định, sâm Ngọc Linh là loài dược liệu quý hiếm, đặc hữu của Kon Tum và Quảng Nam; đánh giá cao tiềm năng, lợi thế phát triển dược liệu của Kon Tum; làm rõ những tồn tại, bất cập cũng như đề xuất những giải pháp mà tỉnh Kon Tum cần quan tâm để đưa Kon Tum thành vùng dược liệu trọng điểm quốc gia.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao sự chuẩn bị cho hội nghị một cách chu đáo, ấn tượng và hiệu quả của tỉnh Kon Tum; đó là yếu tố quan trọng đem lại thành công cho hội nghị.
Thủ tướng biểu dương những kết quả mà Kon Tum đạt được trong bảo tồn, nghiên cứu và thu hút đầu tư trong lĩnh vực phát triển sâm Ngọc Linh và dược liệu.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu, trong thời gian tới, địa phương phải có nhiều giải pháp để phát triển sâm Ngọc Linh và dược liệu và đem lại lợi ích cho nhân dân, để sâm Ngọc Linh xứng đáng là "quốc kế dân sinh", trong đó phải bảo tồn, giữ gìn sự quý hiếm thông qua việc kiểm soát chặt chẽ nguồn giống đưa vào trồng cũng như đầu ra sản phẩm; tạo ra nhiều sản phẩm từ sâm và giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách.
Các bộ ngành Trung ương cần khẩn trương hoàn thiện các chính sách liên quan nhằm tạo thuận lợi cho địa phương trong phát triển dược liệu, trong đó có chính sách về sử dụng rừng và đất rừng để nuôi trồng dược liệu; chính sách về thuế, về hỗ trợ vốn, giống...
Thủ tướng đồng ý để  tỉnh Kon Tum nghiên cứu lập đề án hình thành Khu công nghiệp sản xuất, chế biến dược liệu tập trung với quy mô lớn, và giao cho các bộ, ngành liên quan hỗ trợ Kon Tum trong quá trình lập đề án.
* Cùng với Hội nghị đầu tư phát triển Sâm Ngọc Linh Kon Tum và các dược liệu khác, UBND tỉnh còn tổ chức một số hoạt động bên lề từ ngày 04 - 07/9 tại thành phố Kon Tum gồm: Triển lãm Sâm Ngọc Linh Kon Tum và các dược liệu khác; Lễ Ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, trao chủ trương khảo sát tìm hiểu cơ hội đầu tư, chứng nhận mở rộng đăng ký chỉ dẫn địa lý, chứng chỉ công nhận nguồn giống cây trồng của tỉnh và an sinh xã hội; 2 phiên gặp gỡ, trao đổi cơ hội hợp tác, đầu tư với các đối tác Hàn Quốc và một số doanh nghiệp trong nước.
* Trước đó, vào chiều 4-9, ngay khi vừa đến Kon Tum, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đến thăm hỏi, tặng quà một số gia đình chính sách, cán bộ lão thành, người có công với cách mạng: ông Vũ Năng Phấn, 93 tuổi, cán bộ tiền khởi nghĩa, 75 tuổi Đảng; ông Đào Duy Tồn, 93 tuổi, cán bộ tiền khởi nghĩa, thương binh 4/4, nhiễm chất độc hóa học, 70 năm tuổi Đảng và các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh Kon Tum là bác sĩ Sô Lây Tăng và bà Y Vêng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy.
4. Sáng 13-9, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW, ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới”. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì Hội nghị.
Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW, nhìn chung các cấp, các ngành đã quán triệt và triển khai thực hiện khá nghiêm túc; trong đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã xây dựng Chương trình 51-CT/TU ngày 12-6-2013 để triển khai thực hiện; tiến hành sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết và xác định những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để tập trung lãnh đạo thực hiện. Qua đó, các cấp, các ngành, các địa phương đã triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra; quốc phòng, an ninh trên địa bàn được giữ vững, ổn định, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; các tiềm lực trong khu vực phòng thủ được đầu tư xây dựng ngày càng vững chắc; chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh được nâng lên, góp phần quan trọng phát triển KT-XH của địa phương.
Điểm nổi bật trong 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28/TW chính là vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng; sự quản lý, điều hành của chính quyền; năng lực tham mưu của các cơ quan quân sự, công an và các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể không ngừng được nâng lên. Việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và toàn dân về nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ được chú trọng, góp phần nâng cao nhận thức của hệ thống chính trị và người dân, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong khu vực phòng thủ; góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong 10 năm qua, Tỉnh ủy cũng đã quan tâm chỉ đạo xây dựng các tiềm lực trong khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong hình hình mới. Trong đó tập trung xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần; xây dựng các tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học, công nghệ; xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh và đối ngoại.
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị; quyết tâm xây dựng tỉnh Kon Tum trở thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, đề nghị các cấp, các ngành, các phương tiếp tục quán triệt và triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định; trong đó tập trung tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, nhất là tập trung quán triệt và thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng về xây dựng khu vực phòng thủ, về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới…
Phối hợp với Ban Chỉ đạo đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa tỉnh xây dựng kế hoạch xử lý tình huống, đấu tranh về tư tưởng; tiếp tục củng cố xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; sẵn sàng chủ động đối phó với mọi tình huống phức tạp xảy ra, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Tập trung triển khai có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, kế hoạch về phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Quan tâm chăm lo thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tiếp tục rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp, khiếu kiện phức tạp, kéo dài, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân, nhất là các vụ khiếu kiện liên quan đến đất đai, môi trường, không để tạo thành “điểm nóng” ảnh hưởng đến an ninh trật tự…
Thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính tị, trọng tâm là thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Trung ương 4,6,7 gắn với thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tăng cường công tác vận động quần chúng của Đảng, công tác dân vận chính quyền, nâng cao nhận thức chính trị, củng cố lòng tin của Nhân dân đối với các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết đấu tranh, phản bác, chặn lọc các thông tin xuyên tạc, vu cáo, kích động của các thế lực thù địch nhất là trên mạng xã hội.
5. Ngày 19-9, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 20 năm thi hành Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng (1997-2017). Đồng chí Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Qua 20 năm thực hiện Pháp lệnh, Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng vững mạnh về mọi mặt; xây dựng khu vực biên giới vững mạnh về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh trong thế trận quốc phòng và thế trận an ninh nhân dân tại địa phương.
Bên cạnh đó, tập trung xây dựng, củng cố, đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền, đoàn thể các xã biên giới đảm bảo hoạt động có hiệu quả; ưu tiên đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội như điện, đường, trường, trạm; tuyên truyền, vận động nhân dân định canh, định cư, chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa.
Đến nay, 13/13 xã biên giới được sử dụng điện lưới quốc gia, có trụ sở làm việc kiên cố, có trường học, có đường giao thông vào trung tâm xã, có trạm y tế đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân khu vực biên giới… Đời sống vật chất, tinh thần đồng bào các dân tộc trên biên giới ngày càng được nâng cao, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và quân đội; tăng cường đoàn kết quân dân.
Mối quan hệ, phối hợp giữa lực lượng Bộ đội Biên phòng với các địa phương, ngành chức năng không ngừng được xây dựng, ký kết và củng cố, đảm bảo tốt chức năng của mỗi địa phương, mỗi ngành, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; duy trì thực hiện quy chế khu vực biên giới, cửa khẩu; đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật ở khu vực biên giới; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới vững mạnh; tuyên truyền quần chúng nhân dân tham gia phong trào bảo vệ đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự thôn, làng…
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Hòa đề nghị các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố và lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh tập trung xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh; quy hoạch sắp xếp dân cư ở khu vực biên giới; kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới; vận động nhân dân đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới. Bên cạnh đó, thực hiện tốt công tác ngoại giao nhân dân, đối ngoại quân sự và đối ngoại Biên phòng, giải quyết tốt các vấn đề có liên quan đến hai bên biên giới; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Đồng chí nhấn mạnh, lực lượng Biên phòng phải tiến hành đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng, tổ chức quản lý, bảo vệ chặt chẽ đường biên, cột mốc, dấu hiệu đường biên giới quốc gia; chủ động phối hợp đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại, khai thác, vận chuyển lâm sản, khoáng sản trái phép, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật…
Tại hội nghị, 8 tập thể và 16 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng được trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh; nhiều tập thể, cá nhân được trao giấy khen của Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.
* Cùng ngày, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết và gặp mặt điển hình tiên tiến thực hiện “Ngày Biên phòng toàn dân” giai đoạn 2009-2019. Đồng chí Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Tại hội nghị, 11 tập thể, 26 cá nhân được tặng Bằng khen của UBND tỉnh; 3 tập thể, 6 cá nhân được tặng Bằng khen của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; 47 cá nhân được trao tặng Kỷ niệm chương của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.
6. Ngày 26-9, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Kon Tum tổ chức Hội nghị tập huấn, tuyên truyền về kết quả công tác quản lý biên giới đất liền năm 2018.
Dự Hội nghị, về phía Trung ương có đồng chí Hoàng Ngọc Hà - Vụ trưởng Vụ Thông tin đối ngoại và Hợp tác quốc tế, Ban Tuyên giáo Trung ương; đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.
Về phía tỉnh Kon Tum có các đồng chí: Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Lê Thị Kim Đơn - Uỷ viên BTV Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ; lãnh đạo các sở, ngành của tỉnh; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; các Đồn Biên phòng; lãnh đạo các xã biên giới và già làng, trưởng thôn, người có uy tín tại các xã biên giới.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã được cung cấp một số thông tin cơ bản liên quan đến công tác phân giới, cắm mốc và quản lý biên giới đất liền tuyến Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia; Giải pháp và phương hướng phát triển thương mại biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia tại Kon Tum trong thời gian tới; tình hình an ninh trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia và những yêu cầu đặt ra đối với chính quyền nhân dân tỉnh Kon Tum; bài học kinh nghiệm, vấn đề cần quan tâm trong triển khai công tác quản lý biên giới tuyến Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia trên địa bàn tỉnh.
Tỉnh Kon Tum có đường biên giới dài 292,522km tiếp giáp với 2 nước bạn là CHDCND Lào và Vương quốc Campuchia.
Trong thời gian qua, công tác phân giới, cắm mốc, bảo vệ biên giới đất liền luôn được Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Kon Tum quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hiện đã hoàn thành phân giới, cắm mốc, triển khai công tác tăng dày, tôn tạo mốc quốc giới tuyến biên giới Việt Nam - Lào đoạn qua tỉnh Kon Tum.
Về tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, thực hiện ý kiến của Bộ Ngoại giao, tỉnh Kon Tum đã chỉ đạo Đội phân giới, cắm mốc tỉnh phối hợp chặt chẽ với đội phân giới, cắm mốc phía Campuchia song phương tổ chức khảo sát thực địa, xác định vị trí cắm mốc phụ. Đến nay, hai bên đã thống nhất 21/116 vị trí mốc phụ và phối hợp đo bằng hệ thống định vị toàn cầu hai tần số và hiện đã xác định 58 vị trí mốc; xây dựng hoàn thành 35 cột mốc phụ số chẵn.
Về công tác quản lý, bảo vệ biên giới, tỉnh đã chỉ đạo ban hành các kế hoạch tăng cường quản lý, bảo vệ biên giới Việt Nam - Campuchia trong tình hình mới; kế hoạch phòng chống vượt biên, xâm nhập trên địa bàn tỉnh. UBMTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, cấp uỷ, chính quyền các huyện biên giới tăng cường công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia quản lý, bảo vệ đường biên, cộc mốc, giữ gìn trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới. Huy động hệ thống chính trị, trong đó nòng cốt là lực lượng dân quân thường trực các xã biên giới và các đồn biên phòng tăng cường tuần tra kiểm soát, kịp thời phát hiện và xử lý các hoạt động ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên khu vực biên giới, bảo vệ vững chắc đường biên, cột mốc. Tình hình an ninh, trật tự trên khu vực biên giới ổn định, chủ quyền biên giới quốc gia đuợc giữ vững.
Phát biểu tại Hội nghị, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Y Mửi nhấn mạnh nhiệm vụ quản lý biên giới đất liền là hết sức quan trọng. Thời gian tới, đề nghị lực lượng bảo vệ biên giới tỉnh Kon Tum tiếp tục thường xuyên phối hợp với lực lượng bảo vệ biên giới và chính quyền phía bạn Lào và Campuchia để giữ vững đường biên giới quốc gia, đảm bảo an ninh, trật tự trên tuyến biên giới; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân 2 bên biên giới tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ, giữ gìn và phát triển mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào; giữ gìn, bảo vệ, củng cố phát triển mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam - Campuchia; chủ động nắm tình hình, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hoạt động vi phạm trên tuyến biên giới...
III. TIN TRONG NƯỚC
1. Ngày 20-9-2018, Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Hướng dẫn số 68-HD/BTGTW, hướng dẫn tuyên truyền Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
Dự kiến, Hội nghị sẽ diễn ra tại Hà Nội, trong các ngày từ 02 đến 06-10-2018, là sự kiện chính trị quan trọng của Đảng và đất nước. Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương sẽ thảo luận, thông qua các vấn đề: Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019; Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và một số vấn đề quan trọng khác.
Đây là những vấn đề, nội dung quan trọng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân.  Do đó, Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu công tác tuyên truyền (về Hội nghị) cần được đổi mới nội dung, phương thức thông tin theo hướng: triển khai chủ động, bài bản, kịp thời; chuẩn xác, toàn diện về nội dung thông tin; sáng tạo, sinh động về hình thức thể hiện; tạo sức thuyết phục, lan tỏa trong Đảng, trong nhân dân và xã hội. Phát huy ưu thế của các loại hình, thể loại báo chí để đạt chất lượng, hiệu quả tuyên truyền. Không để xảy ra sơ xuất, thiếu sót, bị các thế lực xấu lợi dụng, xuyên tạc.
Chú ý nắm chắc tình hình dư luận xã hội trước, trong và sau khi Hội nghị được tiến hành, giúp cho cấp ủy kịp thời có chỉ đạo uốn nắn, định hướng tuyên truyền, đáp ứng yêu cầu thông tin của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về sự kiện chính trị quan trọng của Đảng và đất nước. Làm cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng và kết quả Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII…góp phần tăng cường niềm tin trong Đảng, trong nhân dân và xã hội đối với sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo; động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII và các nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Quốc hội.
2. Một số nét chính về tình hình kinh tế - xã hội của nước ta tháng 8 và 8 tháng năm 2018
Kết quả đạt được:
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2018 của nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Xuất khẩu 8 tháng tăng 14,5%; cán cân thương mại thặng dư 2,8 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng; giải ngân vốn đầu tư phát triển đạt khá. Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, sản lượng thủy sản 8 tháng tăng 5,8%. Khu vực công nghiệp và dịch vụ tiếp tục đà tăng trưởng tốt. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,2%. Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện, cải cách thủ tục hành chính được triển khai mạnh mẽ, toàn diện, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, tạo niềm tin thị trường. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tăng cường hoạt động kết nối mạng lưới đổi mới sáng tạo. Các chính sách xã hội được quan tâm thực hiện tốt. Thể thao thành tích cao đạt được nhiều kết quả nổi bật. Công tác thông tin, tuyên truyền được chú trọng, nhất là các hoạt động kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 02 tháng 9. Công tác đối ngoại, ngoại giao kinh tế thực hiện có hiệu quả. An ninh chính trị được giữ vững, trật tự xã hội được duy trì ổn định.
Tuy nhiên, giá cả một số hàng hóa cơ bản và giá dầu thô thế giới có xu hướng tăng, cùng với yêu cầu thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số hàng hóa, dịch vụ; điều hành tỷ giá, lãi suất... và yếu tố tâm lý trước những biến động trên thị trường quốc tế sẽ gây áp lực cho việc kiểm soát lạm phát. Tiến độ thu ngân sách trung ương và một số địa phương còn thấp so với dự toán. Sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước còn chậm, quản trị doanh nghiệp chậm đổi mới, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao; cơ cấu lại một số dự án đầu tư kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước còn chậm. Hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Còn một số vấn đề xã hội bức xúc ở một số ngành, lĩnh vực, địa phương. Tình hình thiên tai, bão, lũ diễn biến bất thường, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là sản xuất nông nghiệp.
Một số nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới:
Trong những tháng còn lại của năm 2018, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương tuyệt đối không được chủ quan, bám sát yêu cầu và tình hình thực tiễn, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, nhất là các Nghị quyết số: 01/NQ-CP, 19-2018/NQ-CP, 35/NQ-CP, gắn với đôn đốc, kiểm tra, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành; trong đó tập trung thực hiện một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, các bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương, Ngân hàng nhà nước Việt Nam thường xuyên theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước, có giải pháp đối với các lĩnh vực còn dư địa, phối hợp điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô linh hoạt, hiệu quả, ứng phó tốt nhất với tác động bất lợi của kinh tế thế giới, góp phần kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ hai, Ban chỉ đạo điều hành giá theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh khi thị trường có biến động bất thường.
Thứ ba, các bộ, ngành, địa phương điều chỉnh theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư việc điều chỉnh kế hoạch vốn giữa dự án giải ngân chậm và dự án có nhu cầu vốn để đẩy nhanh tiến độ giải ngân. Khẩn trương phê duyệt quyết toán làm cơ sở giải ngân hết số vốn cho các nhà thầu theo quy định. Chỉ đạo nhà thầu thi công đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án, công trình. Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ thanh toán vốn đối với khối lượng đã hoàn thành; rà soát, đẩy nhanh việc hoàn thành các thủ tục phê duyệt thiết kế, dự toán, đấu thầu đối với các dự án khởi công mới. Các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn theo kế hoạch.
Thứ tư, các bộ, cơ quan ngang bộ theo phân công chuẩn bị tốt các báo cáo, tờ trình, tài liệu phục vụ Hội nghị Trung ương và Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, bảo đảm chất lượng, đúng thời gian yêu cầu.
Thứ năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng nhà nước Việt Nam trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mình triển khai thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ cụ thể đã được giao trong Nghị quyết số 119/NQ-CP, ngày 09/9/2018.   
3. Một số mô hình thí điểm thực hiện theo Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII
Ngày 07/8/2018, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 34-KL/TW về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Cụ thể là:
a) Về thí điểm kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và cơ quan chuyên môn của chính quyền có chức năng, nhiệm vụ tương đồng cấp tỉnh, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện.
Giao cho ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa phương, chủ động lựa chọn thực hiện mô hình thí điểm. Người được phân công kiêm nhiệm là người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp; là ủy viên ban thường vụ cấp ủy (hoặc cấp ủy viên) và là ủy viên UBND theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Việc kiện toàn chức danh người đứng đầu theo trình tự: Ban Thường vụ cấp ủy phân công đối với chức danh về đảng; giới thiệu để HÐND bầu ủy viên UBND và UBND quyết định bổ nhiệm chức vụ thủ trưởng cơ quan chuyên môn của UBND. Người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và cơ quan chuyên môn thuộc UBND thuộc biên chế cơ quan đảng.
b) Về thí điểm hợp nhất cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy với cơ quan chuyên môn (hoặc tham mưu) thuộc UBND có chức năng, nhiệm vụ tương đồng cấp tỉnh, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện.
Giao ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể của địa phương, chủ động lựa chọn địa bàn cơ quan, xây dựng, phê duyệt và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện mô hình thí điểm. Việc thí điểm hợp nhất theo các định hướng cơ bản sau: (i) Cơ quan hợp nhất là cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy; đồng thời là cơ quan chuyên môn của UBND cùng cấp; thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Ban Bí thư về cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy và quy định của pháp luật về cơ quan chuyên môn của UBND cùng cấp. Một số chức năng, nhiệm vụ của cơ quan cũ không tương đồng thì có thể chuyển cho cơ quan tương đồng khác để bảo đảm hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn, giúp việc. (ii) Tên gọi của cơ quan sau hợp nhất phải khái quát được chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hợp nhất, do ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy xem xét, quyết định cụ thể. Sau khi hợp nhất, cơ quan mới được khắc con dấu theo tên của cấp có thẩm quyền quyết định và sử dụng trong quá trình tổ chức, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy và cơ quan chuyên môn của UBND. (iii) Cơ cấu lại tổ chức bên trong của cơ quan hợp nhất theo hướng không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong tổ chức và hoạt động, phù hợp tình hình thực tế, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. (iv) Về bố trí chức danh người đứng đầu: Người đứng đầu cơ quan hợp nhất là ủy viên ban thường vụ (hoặc cấp ủy viên) do ban thường vụ cấp ủy phân công và giới thiệu để HÐND bầu ủy viên UBND, chủ tịch UBND bổ nhiệm giữ chức vụ cấp trưởng theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Riêng đối với việc hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra và thanh tra, thực hiện quy trình bầu cử ủy viên, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra theo Quy chế bầu cử trong Ðảng, bổ nhiệm kiểm tra viên theo quy định của Ðảng; sau đó, thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm các chức danh thanh tra viên, chánh thanh tra, phó chánh thanh tra theo quy định của Nhà nước. (v) Khi hợp nhất, số lượng lãnh đạo cấp phó của cơ quan hợp nhất không vượt quá tổng số lãnh đạo cấp phó hiện có của các cơ quan thành viên; đồng thời, xây dựng lộ trình cơ cấu lại để đến hết năm 2020, có số lượng lãnh đạo cấp phó của cơ quan hợp nhất theo quy định. (vi) Biên chế của cơ quan hợp nhất do cơ quan có thẩm quyền giao theo quy định; được tính vào biên chế của cơ quan đảng và không vượt quá số lượng biên chế hiện có của các cơ quan thành viên; đồng thời, xây dựng vị trí việc làm và tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động cho phù hợp với tình hình thực tế và theo các nghị quyết, kết luận hiện hành của Ban Chấp hành Trung ương và của Bộ Chính trị. Cán bộ, công chức trong các cơ quan hợp nhất được hưởng chế độ, chính sách của cán bộ, công chức cơ quan đảng cho đến khi thực hiện chế độ tiền lương mới. (vii) Về thủ tục hành chính khi giải quyết công việc thực hiện theo quy định hiện hành của Ðảng và Nhà nước; đồng thời, xây dựng cơ chế vận hành và các quy trình giải quyết công việc theo nguyên tắc không trùng lặp, không phát sinh khâu trung gian. (viii) Về thể thức văn bản: với các văn bản tham mưu giúp cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy thì sử dụng thể thức văn bản của Ðảng. Với các văn bản phục vụ việc quản lý, điều hành của Nhà nước thì sử dụng thể thức văn bản theo quy định của Nhà nước. Với các công văn hành chính, văn bản chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao thì sử dụng thể thức văn bản cho phù hợp. (ix) Quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, các phương tiện làm việc và ngân sách theo các quy định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước. Tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức để đáp ứng yêu cầu mới về nhiệm vụ của cơ quan.
c) Về thí điểm trưởng ban dân vận cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban MTTQ cấp tỉnh, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện.
Giao ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy căn cứ vào tình hình, điều kiện thực tế tại địa phương chủ động lựa chọn thực hiện thí điểm ở cấp huyện; Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Dân vận Trung ương, Ðảng đoàn MTTQ Việt Nam làm việc và thống nhất với ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy nơi có điều kiện để thí điểm trưởng ban dân vận đồng thời là chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh.
Kiện toàn chức danh kiêm nhiệm thực hiện theo trình tự phân công ủy viên ban thường vụ, trưởng ban dân vận cấp ủy trước, sau đó giới thiệu để Ủy ban MTTQ hiệp thương chức danh chủ tịch ủy ban MTTQ theo quy định của Ðiều lệ MTTQ Việt Nam và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
d) Về tổ chức lại đảng bộ khối doanh nghiệp cấp tỉnh.
Giao cho ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, chủ động lựa chọn mô hình, xây dựng, phê duyệt đề án, các quy định cụ thể và lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức lại các đảng bộ khối doanh nghiệp cấp tỉnh theo một trong ba phương án: (i) kết thúc hoạt động đảng bộ khối doanh nghiệp; tùy theo quy mô, tính chất doanh nghiệp hoặc nơi doanh nghiệp đặt trụ sở hoặc nơi đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp để chuyển các đảng bộ, chi bộ doanh nghiệp từ trực thuộc đảng ủy khối doanh nghiệp tỉnh, thành phố về trực thuộc cấp ủy phù hợp (cấp huyện hoặc cấp cơ sở). (ii) hợp nhất đảng bộ khối các cơ quan cấp tỉnh và đảng bộ khối doanh nghiệp cấp tỉnh; cơ cấu lại tổ chức bên trong và đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. (iii) sắp xếp lại tổ chức, biên chế của đảng ủy khối doanh nghiệp cấp tỉnh, bảo đảm tinh gọn; tập trung vào một số nhiệm vụ công tác xây dựng đảng và nâng cao tính thực chất và hiệu quả hoạt động.
đ) Về thí điểm hợp nhất các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện
Giao cho ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình, điều kiện thực tế tại địa phương, chủ động lựa chọn mô hình hợp nhất, xây dựng, phê duyệt đề án và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thí điểm; trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc báo cáo đề xuất Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ xem xét, hướng dẫn.
e) Về thí điểm hợp nhất văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội, văn phòng HÐND và văn phòng UBND cấp tỉnh thành một văn phòng tham mưu, giúp việc chung ở những nơi có đủ điều kiện.
Giao cho Ðảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ tập trung chỉ đạo thực hiện thí điểm theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 56/2017/QH14, ngày 24/11/2017 của Quốc hội và Nghị quyết số 10/NQ-CP, ngày 03/2/2018 của Chính phủ; chủ động tháo gỡ khó khăn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo đảm có hiệu quả.
Giao ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương căn cứ tình hình, điều kiện thực tế tại địa phương chủ động chỉ đạo xây dựng, phê duyệt đề án và phối hợp các cơ quan liên quan lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc hợp nhất theo hướng cơ quan hợp nhất bảo đảm thực hiện toàn diện, có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan sáp nhập; cơ cấu các đơn vị bên trong không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ; khi sáp nhập, số lượng cấp phó của cơ quan hợp nhất không vượt quá số lượng cấp phó hiện có của các cơ quan sáp nhập và xây dựng lộ trình để đến năm 2020 có số lượng cấp phó theo quy định; Biên chế của cơ quan hợp nhất do UBND tỉnh quản lý và không vượt quá tổng số biên chế hiện có của các cơ quan sáp nhập; đồng thời xây dựng vị trí việc làm, tiếp tục cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và thực hiện tinh giản biên chế theo các nghị quyết, kết luận hiện hành của Trung ương và của Bộ Chính trị. Quá trình thực hiện nếu có những vấn đề còn vướng mắc thì phối hợp Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ để tháo gỡ.
Về công tác tổ chức thực hiện: Bộ Chính trị giao Ban cán sự đảng Chính phủ chủ trì, phối hợp Ban Tổ chức Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, quy định mẫu dấu cho các cơ quan thực hiện thí điểm hợp nhất và hướng dẫn việc khắc dấu, quản lý và sử dụng thống nhất trong toàn quốc.
Ban Tổ chức Trung ương có trách nhiệm phối hợp các cơ quan liên quan theo dõi tổng hợp tình hình thực hiện, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bổ sung, sửa đổi theo thẩm quyền; đồng thời sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện các mô hình thí điểm làm căn cứ đề xuất từng bước nhân rộng những mô hình phù hợp, hiệu quả.
4. Một số kết quả quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong 5 năm qua
Một số kết quả đạt được:
Sau 05 năm Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập (ngày 01/02/2013), nhất là từ Đại hội XII của Đảng đến nay, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng (PCTN) đã có một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả toàn diện, tích cực, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định “công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực đã trở thành phong trào, xu thế” được nhân dân đồng tình, đánh giá cao, được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Cụ thể là:
Thứ nhất, quyết liệt chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, với mức án nghiêm khắc và nhân văn; thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng và đồng chí Tổng Bí thư “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai”, tạo bước đột phá trong công tác PCTN. Từ khi thành lập đến nay, Ban Chỉ đạo đã đưa 68 vụ án, 57 vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, đến nay đã kết thúc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm 40 vụ án, với 500 bị cáo nhận các mức án nghiêm khắc (10 bị cáo với 11 án tử hình, 19 bị cáo với 20 án tù chung thân, 459 bị cáo tù có thời hạn từ 12 tháng đến 30 năm,...). Tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng đạt trên 31%; việc kê biên, thu giữ tài sản trong các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đạt trên 35 ngàn tỷ đồng, điển hình như: vụ án xảy ra tại Ngân hàng TMCP Đại Tín trên 10.000 tỷ đồng, vụ án xảy ra tại Ngân hàng TMCP Xây dựng (giai đoạn I) trên 6.000 tỷ đồng, vụ AVG hơn 8.500 tỷ đồng, vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc xảy ra tại Phú Thọ trên 1.400 tỷ đồng...
Thứ hai, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác PCTN. Trong 05 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật Đảng 77.662 đảng viên vi phạm, trong đó hơn 4.300 cán bộ, đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay đã thi hành kỷ luật hơn 500 tổ chức đảng và 35 ngàn đảng viên vi phạm, trong đó 1.300 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 56 cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 11 đồng chí là Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, khai trừ Đảng 01 đồng chí Ủy Viên Trung ương - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nhiều đồng chí là tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang. Từ năm 2013 đến nay, qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý hơn 400 ngàn tỷ đồng và 18.525 ha đất, chuyển 515 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự sang cơ quan có thẩm quyền để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế - xã hội và PCTN được đẩy mạnh, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”. Nhiều quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và PCTN được ban hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, đi vào cuộc sống, vừa để giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện và xử lý các sai phạm, tham nhũng.
Thứ tư, công tác cán bộ; cải cách hành chính, công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các giải pháp phòng ngừa tham nhũng được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đạt những kết quả tích cực. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có nhiều đổi mới, nhất quán, rõ ràng, chỉ đạo giải quyết được nhiều vấn đề tồn đọng trước đây trong công tác cán bộ; “không chạy chức, chạy quyền” đã trở thành tuyên ngôn mạnh mẽ. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công khai, minh bạch, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng...
Thứ năm, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc, nhân dân và báo chí trong PCTN. Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân trong PCTN, tạo sự thống nhất, quyết tâm cao trong hành động, tạo hiệu ứng tốt trong xã hội. Công khai kết quả kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế; chủ động cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm, giúp định hướng tốt dư luận xã hội và cũng thể hiện sự công khai, minh bạch của Đảng, Nhà nước trong xử lý tham nhũng. Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực đồng hành cùng cơ quan chức năng trong PCTN; có nhiều tin, bài về công tác PCTN, đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác PCTN của Đảng, Nhà nước.
Thứ sáu, chú trọng kiện toàn về tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng PCTN; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về PCTN, từng bước mở rộng hoạt động PCTN ra ngoài khu vực Nhà nước. Ban Chỉ đạo có rất nhiều nỗ lực, cố gắng, có nhiều đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động, làm việc rất nghiêm túc, trách nhiệm, bài bản, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, có việc vượt yêu cầu đề ra; vừa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo những khâu yếu, việc khó, có nhiều vướng mắc, vừa chú trọng các giải pháp căn cơ, đồng bộ, tạo bước tiến vượt bậc, toàn diện trong công tác PCTN. Từ khi thành lập đến nay, Ban Chỉ đạo đã tổ chức 14 Phiên họp và 06 Cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo, sau mỗi Phiên họp, Cuộc họp của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo tình hình thực tế đều có chuyển biến rõ rệt...
Về các nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới:
Trong thời gian tới cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí, nhất là Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tại Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN ngày 25/6/2018. Trong đó, tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng.
Thứ hai, tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo hành lang chính trị, pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ, bảo đảm công tác PCTN có hiệu lực, hiệu quả.
Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, liêm khiết, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới.
Thứ tư, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực để PCTN.
Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Thứ sáu, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện sớm, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng.
Thứ bảy, tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy, cán bộ nâng cao hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong PCTN; tăng cường kiểm soát quyền lực, thực hành liêm chính trong các cơ quan chống tham nhũng. Từng bước tiếp tục mở rộng hoạt động PCTN ra ngòai khu vực Nhà nước một cách phù hợp, mở rộng hợp tác quốc tế về PCTN.
C. VĂN BẢN MỚI
I. VĂN BẢN CỦA TỈNH
1. Ngày 12/9/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 2569/UBND-NNTN triển khai Công điện số 6741/CĐ-BNN-TY ngày 30/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc chủ động ngăn chặn nguy cơ xâm nhiễm bệnh Dịch tả lợn Châu Phi vào Việt Nam.
Theo đó, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và các đơn vị liên quan tăng cường theo dõi, giám sát đàn lợn tại địa phương, nếu phát hiện lợn bệnh với các triệu chứng, bệnh tích điển hình của bệnh Dịch tả lợn Châu Phi; hoặc nghi là lợn, sản phẩm lợn nhập lậu trái phép thì cần lấy mẫu gửi đến Chi cục Thú y vùng quản lý địa bàn hoặc Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung ương để chẩn đoán, xét nghiệm xác định tác nhân gây bệnh; Thành lập các đoàn công tác đi kiểm tra, đôn đốc thực hiện việc phòng, chống dịch bệnh tại các cửa khẩu và các địa bàn có nguy cơ cao; Tổ chức tuyên truyền đến cộng đồng dân cư để người dân không tham gia các hoạt động buôn bán, vận chuyển lợn, sản phẩm của lợn nhập lậu vào trong nước tiêu thụ; không mua bán lợn, sản phẩm của lợn không có nguồn gốc rõ ràng, chưa qua kiểm dịch thú y để hạn chế phát sinh và lây lan dịch bệnh.
Sở Công Thương (Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 389 tỉnh) chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Hải quan cửa khẩu Quốc tế Bờ Y và các đơn vị liên quan tăng cường công tác chống buôn lậu lợn và các sản phẩm của lợn từ nước ngoài vào Việt Nam; tuyệt đối không cho phép buôn bán, vận chuyển lợn và sản phẩm của lợn bất hợp pháp, không rõ nguồn gốc qua biên giới, kể cả quà tặng, quà biếu của cư dân biên giới; phát hiện và kiên quyết xử lý tình trạng buôn lậu lợn, sản phẩm của lợn theo đúng quy định của pháp luật; tổ chức giám sát chặt chẽ, tăng cường công tác kiểm dịch động vật.
2. Ngày 12/9/2018, UBND tỉnh ban hành văn bản số 2581/UBND-KGVX yêu cầu các sở, ban ngành, đoàn thể của tỉnh; UBND các cấp nghiêm túc đặt mua, đọc, phát hành báo, tạp chí của Đảng theo đúng tinh thần Chỉ thị 11-CT/TW, Kết luận 29-KL/TW và chỉ đạo của Tỉnh ủy tại Công văn 668-CV/TU ngày 16/3/2015.
UBND tỉnh giao Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp với Bưu điện tỉnh Kon Tum theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các nội dung liên quan đến cung ứng dịch vụ công ích trong hoạt động phát hành báo chí; tổng hợp, báo cáo kịp thời về UBND tỉnh biết, chỉ đạo.
Thời gian qua, việc mua và đọc báo, tạp chí của Đảng và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy trên địa bàn tỉnh của các sở, ban ngành, địa phương đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương các cấp chưa thực hiện nghiêm túc việc mua và đọc báo, tạp chí của Đảng; đặt báo với số lượng thấp, không đạt tỷ lệ báo trên số lượng tổ chức; không phát hành báo, tạp chí của Đảng tới các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, dẫn đến cán bộ, đảng viên và nhân dân ở khu vực này ít được tiếp cận, đọc báo, tạp chí của Đảng.
3. Ngày 12/9/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 2580/UBND - KGVX chỉ đạo theo dõi, xác minh và tổ chức họp báo cung cấp thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Theo đó, yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố: Phân công cán bộ, công chức thường xuyên theo dõi, nắm bắt và kịp thời xác minh, làm rõ những nội dung phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng có liên quan đến địa phương, lĩnh vực ngành quản lý; đồng thời, chuẩn bị tốt về nội dung, xin cấp phép tổ chức họp báo trước khi tổ chức họp báo nhằm đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng cho báo chí theo đúng quy định hiện hành.
Chủ động trả lời, cung cấp thông tin cho báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng về các nội dung, vụ việc xảy ra trên địa bàn, lĩnh vực ngành quản lý theo quy định tại Nghị định số 09/2017/NĐ-CP ngày 09/02/2017 của Chính phủ quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước;tránh tình trạng chờ có văn bản chỉ đạo của cấp trên mới triển khai thực hiện....
4. Ngày 20/9/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 2659/UBND-KGVX chỉ đạo tăng cường quản lý, kết nối các cơ sở cung ứng thuốc trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý việc cung cấp, phân phối thuốc vì lợi ích của người dân, chấn chỉnh tình trạng mua bán, sử dụng thuốc không rõ xuất xứ, giá cả, không bảo đảm chất lượng, tình trạng bán thuốc không theo đơn, bảo đảm công khai, minh bạch trong quản lý thuốc trên địa bàn tỉnh theo tinh thần Chỉ thị số 23/CT-CTg ngày 23/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh yêu cầu.
Sở Y tế tổ chức triển khai thực hiện việc kết nối các cơ sở cung ứng thuốc trên địa bàn tỉnh từ tháng 9 năm 2018; trong năm 2018 hoàn thành đối với các cơ sở bán buôn thuốc, nguyên liệu làm thuốc, nhà thuốc, tủ thuốc trạm y tế xã; phấn đấu trong năm 2019 hoàn thành đối với quầy thuốc. Trên cơ sở tài liệu, hướng dẫn của Bộ Y tế tổ chức tập huấn cho các cơ sở cung ứng thuốc trên địa bàn; bảo đảm không để bất cứ cơ sở nào không kết nối được do không được tập huấn, hướng dẫn; trên cơ sở quy định việc kê đơn thuốc điện tử của Bộ Y tế chỉ đạo thực hiện nghiêm quy định này đồng bộ với việc kết nối các cơ sở cung ứng thuốc để bảo đảm việc kiểm soát kê đơn thuốc và bán thuốc theo đơn. Hướng dẫn các cơ sở cung ứng thuốc việc cập nhật thông tin về sản phẩm  thuốc, chỉ định, cách dùng, liều dùng, nguồn gốc xuất xứ và giá cả trên cơ sở thông tin dữ liệu thuốc quốc gia. Phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí và Đài Phát thanh - Truyền hình và các đơn vị có liên quan trên địa bàn tỉnh tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống thông tin cơ sở về kết nối các cơ sở cung ứng thuốc, việc mua và sử dụng thuốc theo đơn. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc kết nối và thực hiện kê đơn, mua bán thuốc theo đơn, xử lý nghiêm các vi phạm.
Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Sở Y tế hướng dẫn các cơ quan báo chí tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về kết nối các cơ sở cung ứng thuốc, việc mua và sử dụng thuốc theo đơn.
UBND các huyện, thành phố chỉ đạo các cơ quan chuyên môn liên quan tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống thông tin cơ sở về kết nối các cơ sở cung ứng thuốc, việc mua và sử dụng thuốc theo đơn; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc kết nối và việc thực hiện kê đơn, mua bán thuốc theo đơn trên địa bàn, xử lý theo quy định các trường hợp vi phạm.
5. Ngày 21/9/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 2667/UBND-KGVX yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức triển khai Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường chỉ đạo, quản lý, phát huy vai trò của báo chí, xuất bản...
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức quán triệt những nội dung cơ bản của Kết luận của Ban Bí thư, Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đến đội ngũ phóng viên, biên tập viên cơ quan báo, đài của tỉnh, hội viên Hội Nhà báo tỉnh, thành viên ban biên tập đặc san, bản tin, Cổng thông tin điện tử tỉnh, trang thông tin điện tử, đài truyền thanh - truyền hình các huyện, thành phố.
Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên internet; cung cấp, cập nhật thông tin lên Cổng/Trang TTĐT của cơ quan, đơn vị theo đúng quy định. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động báo chí - xuất bản; việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Tăng cường công tác quản lý, hoạt động của phóng viên báo chí đăng ký thường trú trên địa bàn tỉnh; kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, xuất bản.
UBND tỉnh giao Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ và các đơn vị liên quan tham mưu và tổ chức các lớp bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí, cán bộ phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính, cán bộ lãnh đạo các cơ quan báo chí, xuất bản ở tỉnh và ở các huyện, thành phố.
II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
Nghị định số 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 của Chính phủ về nông nghiệp hữu cơ. Nghị định gồm 7 chương, 20 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2018. Trong chương VI về chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ, Nghị định quy định:
- Ưu tiên áp dụng các chính sách đã ban hành cho phát triển nông nghiệp hữu cơ (điều 16): (1) Ưu tiên kinh phí khoa học, khuyến nông để thực hiện đề tài nghiên cứu, dự án khuyến nông, đặc biệt về giống kháng sâu bệnh, phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, thuốc thú y thảo mộc; (2) Cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm hữu cơ hoặc vật tư đầu vào phục vụ cho sản xuất hữu cơ được ưu tiên hưởng các chính sách khuyến khích đầu tư đối với nông nghiệp, nông thôn đã được ban hành: a) Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; b) Chính sách hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp; chính sách liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn; chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn; c) Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; chính sách cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch; d) Chính sách đặc thù về giống, vốn và công nghệ trong nuôi trồng, khai thác dược liệu; đ) Chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu; e) Chính sách hỗ trợ gắn Nhãn xanh Việt Nam, hỗ trợ cơ sở thân thiện với môi trường; g) Các chính sách có liên quan khác; h) Trong cùng thời điểm và mục tiêu, cơ sở chỉ được lựa chọn 01 chính sách phù hợp nhất quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g Khoản này; (3) Nội dung, định mức hỗ trợ; điều kiện hỗ trợ; nguồn vốn và cơ chế hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thực hiện theo các văn bản đã được ban hành đối với các chính sách hỗ trợ nêu tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này.
- Một số chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, nhóm hộ sản xuất sản phẩm hữu cơ (điều 17): a) Hỗ trợ 100% kinh phí xác định các vùng, khu vực đủ điều kiện sản xuất hữu cơ: Điều tra cơ bản, khảo sát địa hình, phân tích mẫu đất, mẫu nước, mẫu không khí do cấp có thẩm quyền phê duyệt; b) Hỗ trợ một lần 100% chi phí cấp Giấy chứng nhận sản phẩm phù hợp TCVN về nông nghiệp hữu cơ do Tổ chức chứng nhận cấp (cấp lần đầu hoặc cấp lại); c) Hỗ trợ đào tạo, tập huấn sản xuất hữu cơ: định mức hỗ trợ thực hiện theo quy định của Chính phủ về khuyến nông; d) Hỗ trợ xây dựng, nhân rộng mô hình sản xuất hữu cơ theo TCVN: định mức hỗ trợ chi phí giống kháng sâu bệnh, phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học đối với mô hình trồng trọt; chi phí giống, thức ăn hữu cơ, thuốc thú y được phép sử dụng đối với mô hình chăn nuôi, thủy sản và chi phí nhân rộng mô hình theo quy định của Chính phủ về khuyến nông….
 
_________
 
Nguyễn Phi Em thực hiện
 

[1] 88 năm ngày truyền thống ngành Tổ chức xây dựng Đảng (14/10/1930-14/10/2018); 88 năm ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng (15/10/1930-15/10/2018);70 năm Ngày truyền thống ngành Kiểm tra của Đảng (16/10/1948-16/10/2018); 88 năm Ngày Truyền thống Văn phòng cấp ủy (18/10/1930-18/10/2018); 88 năm Ngày thành lập Hội LHPNVN (20/10/1930-20/10/2018) và 8 năm Ngày phụ nữ Việt Nam (20/10/2010-20/10/2018); 88 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam (14/10/1930-14/10/2018); 62 năm Ngày Truyền thống Hội LHTNVN (15/10/1956-15/10/2018); Ngày Quốc tế Người cao tuổi (01/10/1991-01/10/2018); Ngày khuyến học Việt Nam (02/10/1991-02/10/2018); 64 năm Ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954-10/10/2018); Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2004-13/10/2018).
 
[2] Tổng hợp từ bài viết của tác giả Khuất Minh Phương trên tuyengiao.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

CV.3196.BTGTU

Hướng dẫn và Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tố Hữu

Lượt xem:69 | lượt tải:24

THÔNG BÁO

giới thiệu chức danh và chữ ký của đồng chí Nghe Minh Hồng, Phó trưởng Ban TGTU

Lượt xem:84 | lượt tải:24

KH.124.BTGTU

điều tra DLXH về Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2020-2025

Lượt xem:73 | lượt tải:17

TÀI LIỆU

tuyên truyền kỷ niệm 90 năm thành lập Hội LHPN Việt Nam

Lượt xem:106 | lượt tải:76

TÀI LIỆU

tuyên truyền kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Đồng chí N.T.M.Khai

Lượt xem:73 | lượt tải:45

CV.3179.BTGTU

mời dự Hội nghị BCV trực tuyến tháng 9/2020 và Tọa đàm trực tuyến "Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới"

Lượt xem:93 | lượt tải:76

HD.76.BTGTU

Tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 90 năm Ngày Xô Viết-Nghệ Tĩnh

Lượt xem:237 | lượt tải:55
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập20
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm18
  • Hôm nay129
  • Tháng hiện tại216,952
  • Tổng lượt truy cập7,960,184
cuoc thi 90 nam covid
     Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
   
 - Giấy phép số 03/GP- TTĐT, ngày 21 tháng 9 năm 2015
     - Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum, số 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum, tỉnh Kon Tum
     - Người chịu trách nhiệm chính: Ông Huỳnh Quốc Huy, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
     - Điện thoại: 0260.3862301. Fax: 0260. 3865464. Email: bantuyengiaotinhuykt@gmail.com; phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây