Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2017 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2017

Thứ ba - 26/09/2017 22:55
A. NỘI DUNG TRỌNG TÂM SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 10-2017
- Chỉ đạo tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng với chủ đề: "Ý nghĩa lịch sử và sự tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga, của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", hình thức: Lồng ghép vào nội dung sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội trong tháng 10/2017; chú trọng liên hệ sâu sắc với thực tiễn của cơ quan, đơn vị, làm rõ trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
- Tuyên truyền năm APEC Việt Nam năm 2017, các hoạt động chuẩn bị cho Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 25 diễn ra từ ngày 06 - 11/11/2017 tại Đà Nẵng; về kết quả tham gia và tổ chức xét chọn tác phẩm văn học, nghệ thuật và báo chí chủ đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh; về  tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân với các nội dung, chương trình Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
- Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm chào mừng các ngày lễ, các sự kiện chính trị diễn ra trong tháng 10-2017: Ngày giải phóng Thủ đô (10/10); Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10); ngày truyền thống của các ban, ngành, đoàn thể ...Tuyên truyền kết quả phát triển KT-XH 9 tháng đầu năm, nhiệm vụ và giải pháp nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển KT-XH năm 2017; công tác phòng, chống thiên tai, lũ lụt trong mùa mưa; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, phát hiện và xử lý các hành vi gian lận thương mại, thực phẩm bẩn, thực phẩm kém an toàn trên địa bàn tỉnh. Việc tổ chức Tết Trung Thu 2017 cho thiếu nhi, nhất là trên các địa bàn vùng sâu, vùng xa.
- Ngoài ra, tiếp tục tuyên truyền: (a) việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Trong đó, tiếp tục tuyên truyền việc triển khai thực hiện các nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII; việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 05- CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. (b) tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực phát triển kinh tế; xây dựng nông thôn mới; xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa; bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh…(c) về kết quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh; tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thích ứng với biến đổi khí hậu; công tác phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm; công tác quản lý bảo vệ tài nguyên, khoáng sản; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông...(d) tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta. 
B. THÔNG TIN THỜI SỰ
I. THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1: KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ CỐT LÕI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM NGÀY NAY
I/ Đẩy mạnh tuyên truyền và sinh hoạt chính trị tư tưởng kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917 – 7/11/2017)
1. Khái quát hoàn cảnh, diễn biến
- Sau cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là Chính phủ lâm thời tư sản và một bên là Xô-viết các đại biểu công nhân và binh sĩ, đứng đầu là Xô-viết Pê-tơ-rô-grát. Trước tình hình đó, V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích đã xác định cách mạng Nga là chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.
- Tháng 4-1917, V.I.Lênin về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Nga.
- Đêm 24-10-1917 theo lịch cũ nước Nga (tức đêm 6-11-1917), khởi nghĩa vũ trang nổ ra ở Thủ đô Pê-tơ-rô-grát.
- Ngày 25-10-1917 theo lịch cũ nước Nga (tức ngày 7-11-1917), các lực lượng khởi nghĩa đã làm chủ tình hình ở Thủ đô Pê-tơ-rô-grát, trừ Cung điện Mùa Ðông và một vài nơi. Tới 2 giờ 10 phút, rạng sáng 26-10-1917, Cung điện Mùa Ðông được giải phóng, các bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời bị bắt giữ. Cuộc khởi nghĩa vũ trang tại Pê-tơ-rô-grát kết thúc thắng lợi.
- Ngày 25-10-1917 theo lịch cũ nước Nga (tức ngày 7-11-1917) đã được ghi vào lịch sử là ngày thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại.
2. Ý nghĩa lịch sử và thời đại
- Cách mạng Tháng Mười Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Nó đã xóa bỏ các giai cấp bóc lột, tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân dân lao động, đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước.
- Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã dẫn tới sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người và làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực trong đời sống chính trị thế giới. Nó báo hiệu quá trình cải tạo thế giới theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu.
- Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra một bước ngoặt căn bản trong lịch sử loài người, từ thế giới tư bản chủ nghĩa sang thế giới xã hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
- Cách mạng Tháng Mười Nga đánh đổ chủ nghĩa đế quốc ở ngay “chính quốc”, đồng thời đánh vào hậu phương của nó là các nước thuộc địa của Nga Hoàng, mở ra thời kỳ vùng dậy không gì ngăn cản được của các dân tộc bị áp bức, giành độc lập, tự do, làm lay chuyển hậu phương rộng lớn của chủ nghĩa đế quốc thế giới.
- Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã cổ vũ, lôi cuốn mạnh mẽ phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của những nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh. Thắng lợi của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một loạt nước, như: Ba Lan, Bun-ga-ri, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc, An-ba-ni, Mông Cổ, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam đã tạo nên những tiền đề thực tế cho sự ra đời của một hệ thống xã hội mà trước đó chưa từng tồn tại trong lịch sử và chỉ một thời gian ngắn sau khi ra đời – hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã đóng vai trò chi phối với nhiều quá trình quan trọng của thế giới hiện đại.
- Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa lịch sử và tính chất quốc tế vô cùng sâu rộng; không một cuộc cách mạng nào trong thời đại ngày nay lại không chịu ảnh hưởng sâu xa của Cách mạng Tháng Mười. Nó cho thấy: trong thời đại ngày nay, sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa cuộc đấu tranh vì dân chủ và cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội chẳng những là mục tiêu mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa xã hội loài người tới tự do, công bằng, bình đẳng và văn minh.
II/ Kế thừa những giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga, Việt Nam kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững:
(1) Nhận thức sâu sắc những nguyên nhân và bài học sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng ta đã kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới: Đổi mới trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
(2) Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam gần 90 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Nhân dân ta kiên định sự nghiệp đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng và hướng tới là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để đạt tới mục tiêu cao cả đó, tất yếu phải trải qua nhiều chặng đường khó khăn, gian khổ với những bước đi, hình thức phù hợp trong suốt thời kỳ quá độ. Trước mắt, chúng ta cần thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, không ngừng học tập, nâng cao nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
- Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công gắn với việc triển khai thực hiện có hiệu quả ba nghị quyết Trung ương 5 (Khóa XII) về: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; phát triển kinh tế tư nhân.
- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
- Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.
Chuyên đề 2: NÂNG CAO NHẬN THỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NGƯỜI DÂN KHI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
Ngày 14-8-2017, Thường trực Tỉnh ủy ban hành Công văn số 367-CV/TU yêu cầu các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân khi sử dụng mạng xã hội, nhằm góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tác động tiêu cực từ Internet và mạng xã hội trên địa bàn.
Công văn 367-CV/TU nêu rõ: Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động ngày càng gia tăng các hoạt động lợi dụng Internet và mạng xã hội để đăng tải những bài viết nhằm chống phá, xuyên tạc, bịa đặt, lan truyền những nội dung sai sự thật để bôi nhọ, gây mất uy tín, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trong khi đó, tinh thần cảnh giác của một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người dân khi sử dụng mạng xã hội, nhất là Facebook cá nhân chưa cao; có trường hợp tham gia bình luận, chia sẻ những thông tin xấu, độc hoặc đưa những thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng lên mạng xã hội.
Để đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tác động tiêu cực từ Internet và mạng xã hội, Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu: (1) Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; bí thư các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và Nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh phản bác, vô hiệu hóa thông tin, luận điệu sai trái, độc hại, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; tuyệt đối không tham gia bình luận, chia sẻ những thông tin xấu, độc hoặc đưa thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng lên mạng xã hội.
Khi phát hiện những trường hợp tham gia bình luận, chia sẽ những thông tin xấu, độc hoặc đưa thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng lên mạng xã hội thì kịp thời nhắc nhở, đề nghị gỡ bỏ những thông tin trên. Trường hợp cần thiết, báo cáo Công an tỉnh hoặc Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy biết, để can thiệp. (2) Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉ đạo Trường Chính trị tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo đưa nội dung “Chuyên đề đấu tranh, phản bác các quan điểm tư tưởng sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và phần tử xấu trên Internet và mạng xã hội” vào nội dung các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác, lớp Bồi dưỡng chính trị hè năm 2017 và những năm tiếp theo cho đội ngũ giảng viên, giáo viên trong hệ thống giáo dục quốc dân và sinh hoạt chính trị đầu khóa của học sinh, sinh viên trên địa bàn. (3) Công an tỉnh, Sở Thông tin và Truyền thông tăng cường phối hợp trong việc theo dõi, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng xã hội. (4) Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Sở Thông  tin và Truyền thông theo dõi việc triển khai thực hiện nội dung Công văn này, thường xuyên báo cáo Thường trực Tỉnh ủy những vấn đề phát sinh để chỉ đạo kịp thời.
II. TIN TRONG TỈNH
1. Sáng 7-9, UBND tỉnh tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Giá trị, ý nghĩa lịch sử và công tác bảo tồn, phát huy giá trị Di tích Nhà ngục Kon Tum”. Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa, Phó chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Nga và Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa Việt Nam Trần Đình Thành cùng điều hành chương trình tọa đàm.
Tham dự Tọa đàm có Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Văn Hùng; các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu về lịch sử Việt Nam; lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh qua các thời kỳ và các nhân chứng lịch sử.
Buổi Tọa đàm đã có 10 lượt ý kiến phát biểu của các đại biểu, tập trung vào hai vấn đề chính: ý nghĩa và giá trị của di tích Nhà ngục Kon Tum và công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử Ngục Kon Tum. Các ý kiến phát biểu đã làm rõ thêm những ảnh hưởng to lớn của các sự kiện lịch sử đã diễn ra tại Nhà Ngục Kon Tum đối với phong trào cách mạng khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước; đánh giá về thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử Nhà ngục Kon Tum sau gần 30 năm được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia và đề xuất phương hướng bảo tồn, phát huy giá trị của di tích trong thời gian tới.
Theo đó, các ý kiến thống nhất đề xuất cần thiết phải bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích lịch sử Nhà ngục Kon Tum là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt. Đồng thời, tu sửa di tích Nhà ngục Kon Tum đảm bảo đúng quy định của Luật Di sản Văn hóa và trở thành địa điểm văn hóa - lịch sử, du lịch thực sự hấp dẫn đối với người dân trong và ngoài tỉnh.
2. Ngày 7-9, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Công an tỉnh tổ chức Hội nghị Tập huấn "Kỹ năng cung cấp thông tin và xử lý thông tin; nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa nhất là trên không gian mạng" cho 150 đồng chí là lãnh đạo và chuyên viên của các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; Thường trực đảng ủy, đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo (Tuyên huấn) và chuyên viên của các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy. Đồng chí Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.
Trong thời gian một ngày, các học viên được nghe Báo cáo viên Trung ương và của tỉnh trình bày các chuyên đề: “Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, nhất là trên không gian mạng; nhiệm vụ và các giải pháp đấu tranh của ta trong thời gian tới”; “Kỹ năng cung cấp thông tin và xử lý thông tin”; và “Một số hoạt động của các thế lực thù địch và phần tử xấu trên không gian mạng tác động đến an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh; đề xuất công tác phối hợp trong công tác đấu tranh phòng, chống các phần tử cơ hội, thù địch và các phần tử xấu trên mạng xã hội”.
Sau mỗi chuyên đề, Báo cáo viên đều dành thời gian để học viên trao đổi, giải đáp thắc mắc.
Phát biểu tại Hội nghị, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lê Thị Kim Đơn đề nghị các học viên tham dự nghiêm túc, qua đó nắm bắt những thông tin cơ bản, liên hệ với tình hình thực tiễn để tham mưu, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các phần tử xấu trên không gian mạng tại địa phương, đơn vị mình.
3. Sáng 20-9, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện tín dụng chính sách xã hội giai đoạn 2002 – 2017.
Từ năm 2002 đến nay, quy mô hoạt động và chất lượng tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh không ngừng được mở rộng và nâng lên toàn diện. Toàn tỉnh hiện có 102 điểm giao dịch tín dụng chính sách xã hội xã, phường, thị trấn với 1.658 tổ tiết kiệm và vay vốn. Trong 15 năm qua, nguồn chính sách xã hội đã và đang thực hiện 15 chương trình tín dụng, tổng doanh số cho vay đạt trên 4.150 tỷ đồng, tăng trưởng tín dụng hàng năm đạt từ 15 – 20%, dư nợ bình quân 33 triệu đồng/hộ. Vốn tín dụng chính sách đã giúp trên 53.000 hộ thoát nghèo vươn lên làm giàu, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh xuống còn 23% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 – 2020.
Toàn tỉnh có trên 250.000 lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách được vay vốn ưu đãi chính sách xã hội, góp phần tích cực thay đổi bộ mặt nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định xã hội tại địa phương.
4. Chiều 21-9, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị tổng kết 20 thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII “về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Văn Hùng chủ trì Hội nghị.
Sau khi Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII “về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” được ban hành năm 1997, Tỉnh ủy đã kịp thời xây dựng và ban hành các kế hoạch, chương trình triển khai thực hiện, qua đó đã góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong toàn Đảng bộ tỉnh đảm bảo về số lượng, nâng cao về chất lượng. Trên địa bàn tỉnh hiện có hơn 17.000 người công tác ở các cơ quan đảng, đoàn thể, hành chính, đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh và cấp huyện. Đội ngũ cán bộ công chức cấp xã hiện có gần 2.000 người.
Trên cơ sở phân tích nguyên nhân của những hạn chế, Hội nghị đã thảo luận và thống nhất 11 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm trong thời gian đến.
Phát biểu kết luận Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện tốt các khâu của công tác cán bộ là vô cùng quan trọng. Vì vậy, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã  thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án “ Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” trình Hội nghị Trung ương 7 khóa XII xem xét, cho ý kiến. Bí thư Tỉnh ủy chỉ đạo: “Trong khi chờ chỉ đạo của Trung ương, trên cơ sở kết quả đạt được và kinh nghiệm công tác trong lãnh đạo, điều hành hoạt động của hệ thống chính trị trong thời gian qua, đề nghị các cấp tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc của ban chấp hành, ban thường vụ cấp ủy; bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện các quy chế, quy định liên quan đến công tác cán bộ theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu. Đồng thời, mở rộng dân chủ, đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác cán bộ; tiếp tục thực hiện tốt việc thực hiện nhận xét, đánh giá cán bộ hàng năm, đảm bảo chất lượng”.
Ngoài ra, Bí thư Tỉnh ủy đề nghị, cần phải tăng cường  công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện ở các cấp, ngành, đảm bảo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác trong tình hình hiện nay. Đồng thời, thực hiện tốt việc kết hợp đào tạo, bồi dưỡng với thực hiện luân chuyển để rèn luyện cán bộ trong thực tiễn.
5. Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Kon Tum lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2017-2022, diễn ra trong hai ngày 25 và 26-9, đã thành công tốt đẹp.
Đại hội đã bầu 34 ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh đoàn khóa XIV, nhiệm kỳ 2017-2022; bầu 10 ủy viên Ban Thường vụ. Anh Xiêng Thanh Phúc – Bí thư Tỉnh đoàn khóa XIII được bầu giữ chức vụ Bí thư Tỉnh đoàn khóa XIV.
Đại hội cũng đã bầu 11 đại biểu (trong đó có 1 đại biểu dự khuyết) dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI.
III. TIN TRONG NƯỚC
1. Về các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT) trong lĩnh vực giao thông
Những kết quả đạt được:
Trước thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông quốc gia còn nhiều hạn chế, đòi hỏi phải được đầu tư lớn để nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu giao thông và phát triển kinh tế - xã hội, trong điều kiện nguồn lực Nhà nước còn hạn hẹp; với nhiều cố gắng, nỗ lực triển khai, trong thời gian qua, Bộ Giao thông vận tải cùng các cơ quan chức năng và các địa phương đã thực hiện nhiều dự án đầu tư trong lĩnh vực giao thông theo hình thức BOT với quy mô lớn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu đầu tư chung của ngành, địa phương đã thực hiện; góp phần tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn, giảm bớt áp lực nợ công, cải thiện đáng kể năng lực phục vụ của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông quốc gia. Cụ thể là: tính đến tháng 8/2017, Bộ Giao thông vận tải đã huy động được khoảng 209.347 tỷ đồng để đầu tư 70 dự án đường bộ theo hình thức hợp đồng BOT. Đã hoàn thành đưa vào vận hành khai thác 55 dự án với tổng mức đầu tư là 142.146 tỷ đồng. Đang triển khai đầu tư 15 dự án với tổng mức đầu tư là 67.201 tỷ đồng. Các dự án đi vào hoạt động, đã làm tăng thêm phương thức quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông mới, bước đầu mang lại hiệu quả, phù hợp xu thế phát triển, tạo điểm nhấn cho sự phát triển của Việt Nam; người tham gia giao thông có thêm lựa chọn với điều kiện giao thông thông thoáng an toàn hơn.
Một số yếu kém, vi phạm trong triển khai dự án BOT:
- Chưa thực hiện đúng quy định về việc xây dựng và công bố danh mục dự án kêu gọi đầu thư theo hình thức đối tác công tư; việc công bố sau khi phê duyệt danh mục dự án, không đúng thời điểm (tháng 1 hằng năm) là thiếu chặt chẽ và ảnh hưởng không tốt đến kết quả lựa chọn nhà đầu tư.
- Quyết định chủ trương đầu tư một số dự án còn bất hợp lý trong cân đối tổng thể và quy hoạch; phê duyệt một số nội dung đầu tư, tổng mức đầu tư chưa đúng quy định, còn một số khoản sai lệch.
- Lựa chọn nhà đầu tư, đàm phán, ký kết và giám sát thực hiện hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn thiếu chặt chẽ; nhà đầu tư đã lập, duyệt không đúng nhiều khối lượng, định mức, đơn giá trong dự toán công trình.
- Việc thanh quyết toán xác định giá trị công trình dự án còn bất hợp lý, hầu hết các công trình dự án hoàn thành giai đoạn xây dựng đã đưa vào khai thác, thu phí đều chậm và chưa quyết toán được theo đúng thời gian hợp đồng.
- Kết quả huy động vốn thực hiện các dự án BOT không đạt mục tiêu đa dạng các nguồn vốn, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư; xác định phương án tài chính thiếu chính xác, nhất là phương án thu phí giao thông.
Giải pháp thực hiện trong thời gian tới:
Thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ rà soát, xử lý các bất cập về chính sách phí, trạm thu phí; khắc phục ngay tình trạng quyết toán công trình chậm trễ bằng những giải pháp mạnh, cụ thể, trong đó gắn chặt với quyền thu phí; tiến hành ngay việc miễn giảm cho người dân khu vực lân cận các trạm thu vé theo chỉ đạo của Chính phủ.
Thứ hai, khẩn trương hoàn thiện thể chế chính sách: rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hình thức đầu tư đối tác công tư, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện của Việt Nam; tổng kết, xây dựng và ban hành Luật đầu tư đối tác công tư.
Thứ ba, công khai, minh bạch thông tin các dự án từ chủ trương đầu tư, quá trình thực hiện đầu tư, quản lý vận hành thu phí và đặc biệt ưu tiên đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; áp dụng một số chính sách thí điểm để kêu gọi nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng nước ngoài.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra để nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với các dự án BOT; xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân có vi phạm trong quá trình triển khai thực hiện các dự án BOT.
Thứ năm, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để nhận được sự đồng thuận cao của xã hội đối với chủ trương xã hội hóa đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông.
2. Một số tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất, phát triển kinh tế trong quân đội hiện nay
Quân đội làm kinh tế là thực hiện nhiệm vụ chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Đây cũng là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và trong hầu hết các văn kiện của Đảng và trong Hiến pháp 2013.
Trong những năm gần đây, quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong tham gia xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, triển khai xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng. Đến nay, quân đội đã xây dựng được 23 khu kinh tế - quốc phòng thuộc các các Quân khu, Binh đoàn với hàng triệu héc-ta, tạo điều kiện cho hàng nghìn hộ dân định cư sinh sống lâu dài, hình thành thế trận bố trí chiến lược, đặc biệt trên dọc tuyến biên giới từ Bắc vào Nam.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế, các doanh nghiệp quân đội đã không ngừng đổi mới, phát triển, hội nhập. Nhiều doanh nghiệp quân đội đã năng động, sáng tạo, chiếm lĩnh thị trường trong nước và cả ở nước ngoài, trở thành những đối tác kinh tế có uy tín. Năm 2016, các doanh nghiệp quân đội đạt doanh thu gần 16 tỷ USD (345.000 tỷ đồng), lợi nhuận trước thuế đạt hơn 43.000 tỷ đồng, đảm bảo cho hơn 181.000 lao động với thu nhập bình quân 11,8 triệu đồng/tháng. Các thương hiệu lớn như: Viettel ở lĩnh vực viễn thông (năm 2016, doanh thu của Viettel đạt hơn 228.000 tỷ đồng; lợi nhuận hơn 43.200 tỷ đồng, trở thành đơn vị hàng đầu của Việt Nam trong việc đóng góp ngân sách Nhà nước, với 180.000 tỷ đồng, giai đoạn 2000 - 2016), Tân Cảng ở lĩnh vực dịch vụ cảng biển, Tổng Công ty trực thăng Việt Nam ở lĩnh vực bay dịch vụ, Ngân hàng TMCP Quân đội ở lĩnh vực ngân hàng... là những thương hiệu có uy tín trong phạm vi cả nước và quốc tế. Thực hiện cơ cấu lại và đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp, năm 2000, quân đội có 305 doanh nghiệp, đến năm 2016 sắp xếp lại còn 88 doanh nghiệp. Trong đề án báo cáo Thủ tướng Chính phủ, tới đây quân đội sẽ chỉ còn 17 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, 12 doanh nghiệp cổ phần hoá nhưng nhà nước chiếm giữ 51%, những doanh nghiệp này cũng đều có nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng. Các doanh nghiệp được quân đội cơ cấu, đổi mới tham gia phát triển kinh tế phải tổ chức chặt chẽ theo mô hình tái cơ cấu mà Chính phủ quy định; thực hiện đúng luật pháp nhà nước, không có ngoại lệ. Những doanh nghiệp nào tham gia lĩnh vực thuần tuý về kinh tế, dịch vụ sẽ được cổ phần hoá hoặc thoái vốn.
Quân đội làm kinh tế là triển khai thực hiện quan điểm giải phóng và phát huy năng lực sản xuất toàn xã hội trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Trong đó, bản chất các doanh nghiệp quân đội là kinh tế nhà nước, thành phần giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế. Như vậy, có thể thấy rằng, thực hiện nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã là một chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm xây dựng Quân đội ta hùng mạnh, là đội quân chiến đấu giỏi, công tác tốt và lao động sản xuất giỏi, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trong thời kỳ mới. 
C. VĂN BẢN MỚI
I. VĂN BẢN CỦA TỈNH
1. Ngày 22-8-2017, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 30-HD/BTGTU về hướng dẫn tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917 – 7/11/2017). Nội dung tuyên truyền bao gồm: (1) Tuyên truyền khẳng định tầm vóc, ý nghĩa lịch sử và thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với phong trào cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam; chỉ ra những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga; nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu; bài học đối với sự nghiệp cách mạng và công tác xây dựng Đảng của Việt Nam. (2) Làm rõ những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong 100 năm qua, nhất là những thành tựu trong quá trình cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa; những đóng góp của các nước xã hội chủ nghĩa cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, văn minh và tiến bộ xã hội; sự hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa với các nước trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa; khẳng định mặc dù chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách lớn, nhưng con đường được mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn là một xu thế vận động tất yếu của lịch sử nhân loại. (3) Khẳng định những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước ta là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. (4) Đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, phủ nhận ý nghĩa lịch sử của Cách Mạng Tháng Mười Nga đi tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các vấn đề trong nước, chống phá cách mạng Việt Nam, chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
- Hướng dẫn nêu mục đích: (a) Thông qua đợt tuyên truyền và sinh hoạt chính trị tư tưởng làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga trong lịch sử nhân loại, qua đó giáo dục ý thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước, tạo ra động lực mới trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (nhiệm kỳ 2015-2020) và Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng. (b) Việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm phải được tiến hành với hình thức phong phú, đa dạng, sáng tạo, hiệu quả và tiết kiệm, gắn với các sự kiện chính trị của đất nước, của tỉnh phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đơn vị.
- Về tổ chức thực hiện, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy: (a) Biên tập, cập nhật các bài viết về kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga trên Trang Thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; biên tập nội dung này vào Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10/2017. (b) Theo dõi, đôn đốc công tác tuyên truyền trên báo chí và của các địa phương, đơn vị trong tỉnh; tổng hợp báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Trung ương. Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội tỉnh: (a) Chỉ đạo các tổ chức Đảng và các đoàn thể tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng tại sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội trong tháng 10 -2017 với chủ đề: "Ý nghĩa lịch sử và sự tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga, của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay". (b) Nội dung sinh hoạt theo Đề cương do Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành (được đăng tải trên Trang TTĐT Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy); chú trọng liên hệ sâu sắc với thực tiễn của cơ quan, đơn vị, làm rõ trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Sở Thông tin và Truyền thông: Hướng dẫn Cổng Thông tin điện tử của tỉnh, các tập san, bản tin, trang thông tin điện tử của sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố thông tin tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917 - 7/11/2017); ý nghĩa lịch sử và sự tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga, của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ theo dõi, đánh giá việc thực hiện công tác tuyên truyền nội dung này trên báo chí, truyền thông của tỉnh. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai tuyên truyền cổ động trực quan về kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917 - 7/11/2017). Báo Kon Tum, Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh: (a) Đẩy mạnh tuyên truyền về giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga; đồng thời có các bài viết, phóng sự phản ánh các hoạt động tuyên truyền về kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga. (b) Tổ chức tiếp sóng Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam Lễ kỷ niệm và phim tài liệu về 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga. Ban tuyên giáo các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy: Tham mưu cấp ủy chỉ đạo tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng sâu rộng trong các tổ chức Đảng và tuyên truyền rộng rãi đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Báo cáo kết quả thực hiện về Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ để theo dõi, tổng hợp.
2. Ngày 05/9/2017, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số  2401/KH-UBND về tiếp tục thực hiện Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động, người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp” trên địa bàn tỉnh Kon Tum giai đoạn 2017 - 2021.
Kế hoạch đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2021, có ít nhất 95 % người sử dụng lao động thuộc các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh được tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật lao động và các quy định pháp luật liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp; trên 80% người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh được tuyên truyền, phổ biến Luật an toàn, vệ sinh lao động và các quy định pháp luật liên quan tới quyền và nghĩa vụ của công dân và người lao động.
Để đạt được mục tiêu trên, kế hoạch đề ra 04 giải pháp chính: (a) Củng cố, kiện toàn tổ chức, nhân sự thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật lao động; (b) Bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động; (c) Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật lao động; (d) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động.
3. Ngày 06/9/2017, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 2405/KH-UBND duy trì và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục (PCGD), xóa mù chữ (XMC) giai đoạn 2017-2020.
Mục tiêu là tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng PCGDMN cho trẻ 5 tuổi, phấn đấu đến năm 2020 có 100% các xã đạt chuẩn PCGDMN cho trẻ 5 tuổi. Toàn tỉnh hoàn thành PCGDTH, XMC mức độ 2 và duy trì đạt chuẩn PCGDTHCS mức độ 1, nâng cao tỷ lệ số lượng xã đạt chuẩn PCGDTHCS ở mức 2. Giải quyết cơ bản tình trạng người mù chữ, tái mù chữ, học sinh bỏ học ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS, mở thêm các lớp XMC nhằm duy trì, củng cố, nâng cao chất lượng XMC trên địa bàn tỉnh.
Kế hoạch đề ra các chỉ tiêu cụ thể cần đạt được đến năm 2020 đối với PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi; đối với PCGDTH; đối với PCGDTHCS; đối với công tác XMC, gắn với một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu: (a) Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền về PCGD, XMC; (b) tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; (c) nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đảm bảo điều kiện cần thiết cho thực hiện công tác PCGD, XMC; (d) nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; (e) tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá PCGD, XMC; (f) đẩy mạnh công tác xã hội hóa để thực hiện nhiệm vụ PCGD, XMC;...
4. Ngày 07/9/2017, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 2426/KH-UBND triển khai chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc tỉnh Kon Tum đến năm 2020.
Mục tiêu là tiếp tục triển khai thực hiện thống nhất, có hiệu quả Quyết định 449/QĐ-TTg ngày 12/3/2013 phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 và Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 04/12/2013 phê duyệt Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020; đảm bảo sự quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 10/9/2014 trên địa bàn tỉnh nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, nhanh và bền vững, đẩy mạnh giảm nghèo vùng DTTS....
Kế hoạch đề ra các nhóm chỉ tiêu về kinh tế, văn hoá, xã hội phấn đấu đạt được đến năm 2020 như: Lao động người DTTS qua bồi dưỡng, đào tạo đạt trên 52%; trẻ em DTTS từ 3-5 tuổi đi học mẫu giáo đạt từ 90% trở lên; huy động 100% trẻ em DTTS trong độ tuổi tiểu học vào học tiểu học; trên 80% học sinh DTTS tốt nghiệp THPT được học đại học hoặc cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, đào tạo nghề; 100% cán bộ, công chức là người DTTS được đào tạo đạt chuẩn về mọi mặt; giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh bình quân 3-4%/năm; có 100% số xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020; ...
Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, căn cứ Kế hoạch này và chức năng, nhiệm vụ, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện; đồng thời, giao Ban Dân tộc chủ trì, chủ động tham mưu; theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh tình hình, kết quả thực hiện theo đúng Kế hoạch.
5. Ngày 19/9/2017, UBND tỉnh ban hành Quyết định 46/2017/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn.
Theo đó, mục tiêu của Đề án là thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích rừng hiện có, trọng tâm là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng gắn với phát triển du lịch sinh thái, phấn đấu đến năm 2020 duy trì và nâng độ che phủ rừng đạt 63,75%. Sử dụng có hiệu quả và bền vững tài nguyên rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững. Phấn đấu toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao và cho thuê đối với tổ chức, hộ gia đình cá nhân và cộng đồng dân cư hướng đến cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập và làm giàu từ rừng.
Để đạt được mục tiêu trên, Đề án đề ra 6 nhóm giải pháp: Tăng cường tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững; tăng cường công tác quản lý Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng; đầu tư phát triển rừng; sử dụng có hiệu quả, bền vững tài nguyên rừng; huy động tối đa các nguồn lực để triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp bền vững và triển khai các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2017.
II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
Quyết định số 35/2017/QĐ-TTg, ngày 25/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 75/2013/QĐ-TTg, ngày 06/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Quyết định gồm có 03 điều, 03 Phụ lục, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2017. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu của Quyết định:
1. Điểm đ khoản 1 Điều 3 được sửa đổi: “đ) Bồi dưỡng sức khỏe: Mức 500.000 đồng/người (không quá 02 lần/năm)”.
2. Điểm b, điểm c và điểm đ khoản 2 Điều 3 được sửa đổi: “b) Bồi dưỡng trực tiếp làm nhiệm vụ khảo sát, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ: Mức 220.000 đồng/người/ngày thực tế làm nhiệm vụ. Trong thời gian làm nhiệm vụ nếu hưởng tiền bồi dưỡng thì thôi hưởng chế độ công tác phí; c) Bồi dưỡng sức khỏe: Mức 500.000 đồng/người (không quá 02 lần/năm); đ) Được cấp trang phục chuyên dùng bằng hiện vật theo quy định tại Phụ lục I, ban hành kèm theo Quyết định này”.
3. Khoản 1 Điều 4 được sửa đổi: “1. Chế độ sinh hoạt phí: Mức 220.000 đồng/người/ngày thực tế khi trực tiếp đi kiểm tra, chỉ đạo công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở trong nước và ngoài nước. Trường hợp hưởng chế độ sinh hoạt phí thì không hưởng chế độ phụ cấp lưu trú theo quy định đối với cán bộ, công chức đi công tác trong nước”.
4. Điểm a khoản 1 Điều 5 được sửa đổi: “a) Mức 220.000 đồng/người/ngày thực tế được huy động làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở trong nước và ngoài nước”.
5. Điểm a khoản 2 Điều 5 được sửa đổi, bổ sung: “a) Được bồi dưỡng mức 3.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được 01 hài cốt liệt sĩ; mức 5.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được mộ tập thể có từ 02 đến 05 hài cốt liệt sĩ; mức 10.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được mộ tập thể có từ 06 hài cốt liệt sĩ trở lên”.
6. Khoản 1 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung: “1. Các đội tìm kiếm, quy tập làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở trong nước và ngoài nước được bảo đảm: a) Trang bị, phương tiện chuyên dụng, hậu cần, đời sống theo quy định tại Phụ lục II, ban hành kèm theo Quyết định này; b) Chi bảo đảm xăng dầu; c) Kinh phí làm nhà tạm; d) Chi cất bốc mộ liệt sĩ có hài cốt; đ) Chi sửa chữa, thay thế phụ tùng ô tô; e) Chi hỗ trợ cho Ban công tác đặc biệt, Ban chuyên trách cấp tỉnh của Bạn làm lễ tiễn hài cốt liệt sĩ; g) Chi hỗ trợ vận động nhân dân nước Bạn; h) Chi mua thuốc phòng và chữa bệnh thông thường (ngoài nguồn thuốc Bộ Quốc phòng cấp theo chế độ); i) Chi mua quà đối ngoại khi sang nước Bạn phối hợp triển khai nhiệm vụ; k) Chi thanh toán viện phí, vận chuyển bệnh nhân…; l) Chi mua dụng cụ phục vụ đào bới (cuốc, xẻng, xà beng, dao, rựa và các vật dụng khác) với các mức chi được quy định cụ thể, chi tiết trong Quyết định…”.
7. Điểm a khoản 2 Điều 7 được sửa đổi: “a) Trang bị, phương tiện thực hiện theo quy định tại Phụ lục III, ban hành kèm theo Quyết định này”.
_________
Nguyễn Phi Em thực hiện

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

TÀI LIỆU

phục vụ giao ban báo chí quí III-2017

Lượt xem:183 | lượt tải:65

Hướng dẫn số 31-HD/BTGTU

Hướng dẫn công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2018

Lượt xem:269 | lượt tải:0

Công văn số 70-CV/TCTG

phát hành Sổ tay Tuyên giáo 2018

Lượt xem:182 | lượt tải:47

Số 1024 - CV/BTGTU

V/v đăng ký tham gia tập huấn về phương pháp nghiên cứu và biên soạn Lịch sử.

Lượt xem:5803 | lượt tải:0

Công văn số 1025 - CV/BTGTU

V/v tuyên truyền APEC Việt Nam năm 2017

Lượt xem:401 | lượt tải:0

Công văn số 1017-CV/BTGTU

về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền "Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào 2017"

Lượt xem:750 | lượt tải:0

Hướng dẫn số 30-HD/BTGTU

tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga

Lượt xem:742 | lượt tải:0
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập8
  • Hôm nay2,541
  • Tháng hiện tại60,019
  • Tổng lượt truy cập435,623
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
      Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
      Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
      Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum. Điện thoại: 0260.3862301. Email: phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây