Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 09-2018 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 09-2018

Thứ hai - 27/08/2018 09:26
A. NỘI DUNG TRỌNG TÂM SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 09-2018
- Lãnh đạo tuyên truyền các ngày lễ, các sự kiện quan trọng diễn ra trong tháng[1]. Tuyên truyền đậm nét 88 năm Ngày truyền thống Đảng bộ tỉnh (25/9/1930-25/9/2018) và Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XII nhiệm kỳ 2018 - 2023 (theo Hướng dẫn số 42-HD/BTGTU, ngày 15-8-2018 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy).
Tuyên truyền về kết quả phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm, nhiệm vụ và giải pháp nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các địa phương, đơn vị năm 2018; Tháng an toàn giao thông 2018; công tác phòng, chống dịch bệnh; phòng, chống thiên tai, lũ lụt; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, phát hiện và xử lý các hành vi gian lận thương mại, thực phẩm bẩn, thực phẩm kém an toàn.
- Ngoài ra, tiếp tục tuyên truyền kết quả 02 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị "về đẩy mạnh việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", tập trung biểu dương, cổ vũ các tấm gương điển hình cá nhân và tập thể trong các lĩnh vực công tác, các phong trào thi đua gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc (theo tinh thần Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 02-4-2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy); Tuyên truyền nhằm đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới (theo Hướng dẫn số 41-HD/BTGTU, ngày 20-6-2018 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy).
Tuyên truyền những kết quả đạt được trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh; các chương trình của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV về thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, 6 khóa XII của Đảng; trong đó tăng cường tuyên truyền việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của BCHTW Đảng khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" theo Chương trình số 51-Ctr/TU, ngày 09-02-2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV. Tuyên truyền kết quả thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2025 (Kết luận số 927-KL/TU, ngày 02-5-2018).
Thường xuyên tuyên truyền, vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, nâng cao cảnh giác trước những âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; đấu tranh phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ bí mật nhà nước liên quan đến quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh (theo Kế hoạch 165/KH-UBND, ngày 16-5-2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh).
B. THÔNG TIN THỜI SỰ
I. THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1: Kết luận của Bộ Chính trị về thực hiện một số mô hình thí điểm
Đồng chí Trần Quốc Vượng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư vừa ký ban hành Kết luận của Bộ Chính trị về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả."
Sáu mô hình thí điểm được nêu trong Kết luận của Bộ Chính trị đều được cụ thể hóa rõ đối tượng, rõ việc, rõ trách nhiệm, có sự phân cấp, phân quyền trong triển khai thực hiện. Cụ thể:
1- Về thí điểm kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và cơ quan chuyên môn của chính quyền có chức năng, nhiệm vụ tương đồng cấp tỉnh, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện.
Kết luận nêu rõ, giao cho ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa phương, chủ động lựa chọn thực hiện mô hình thí điểm.
Người được phân công kiêm nhiệm là người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp; là ủy viên ban thường vụ cấp ủy (hoặc cấp ủy viên) và là ủy viên UBND theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Việc kiện toàn chức danh người đứng đầu theo trình tự: Ban Thường vụ cấp ủy phân công đối với chức danh về đảng; giới thiệu để HÐND bầu ủy viên UBND và UBND quyết định bổ nhiệm chức vụ thủ trưởng cơ quan chuyên môn của UBND. Người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và cơ quan chuyên môn thuộc UBND thuộc biên chế cơ quan đảng.
2- Về thí điểm hợp nhất cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy với cơ quan chuyên môn (hoặc tham mưu) thuộc UBND có chức năng, nhiệm vụ tương đồng cấp tỉnh, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện, Bộ Chính trị giao ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể của địa phương, chủ động lựa chọn địa bàn cơ quan, xây dựng, phê duyệt và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện mô hình thí điểm.
Việc thí điểm hợp nhất theo các định hướng cơ bản sau: Cơ quan hợp nhất là cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy; đồng thời là cơ quan chuyên môn của UBND cùng cấp; thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Ban Bí thư về cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy và quy định của pháp luật về cơ quan chuyên môn của UBND cùng cấp.
Một số chức năng, nhiệm vụ của cơ quan cũ không tương đồng thì có thể chuyển cho cơ quan tương đồng khác để bảo đảm hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn, giúp việc.
Tên gọi của cơ quan sau hợp nhất phải khái quát được chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hợp nhất, do ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy xem xét, quyết định cụ thể.
Sau khi hợp nhất, cơ quan mới được khắc con dấu theo tên của cấp có thẩm quyền quyết định và sử dụng trong quá trình tổ chức, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy và cơ quan chuyên môn của UBND.
Cơ cấu lại tổ chức bên trong của cơ quan hợp nhất theo hướng không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong tổ chức và hoạt động, phù hợp tình hình thực tế, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Người đứng đầu cơ quan hợp nhất là ủy viên ban thường vụ (hoặc cấp ủy viên) do ban thường vụ cấp ủy phân công và giới thiệu để HÐND bầu ủy viên UBND, chủ tịch UBND bổ nhiệm giữ chức vụ cấp trưởng theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Đối với việc hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra và thanh tra, thực hiện quy trình bầu cử ủy viên, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra theo Quy chế bầu cử trong Ðảng, bổ nhiệm kiểm tra viên theo quy định của Ðảng; sau đó, thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm các chức danh thanh tra viên, chánh thanh tra, phó chánh thanh tra theo quy định của Nhà nước.
Khi hợp nhất, số lượng lãnh đạo cấp phó của cơ quan hợp nhất không vượt quá tổng số lãnh đạo cấp phó hiện có của các cơ quan thành viên; đồng thời, xây dựng lộ trình cơ cấu lại để đến hết năm 2020, có số lượng lãnh đạo cấp phó của cơ quan hợp nhất theo quy định.
Biên chế của cơ quan hợp nhất do cơ quan có thẩm quyền giao theo quy định; được tính vào biên chế của cơ quan đảng và không vượt quá số lượng biên chế hiện có của các cơ quan thành viên; đồng thời, xây dựng vị trí việc làm và tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động cho phù hợp với tình hình thực tế và theo các nghị quyết, kết luận hiện hành của Ban Chấp hành Trung ương và của Bộ Chính trị. Cán bộ, công chức trong các cơ quan hợp nhất được hưởng chế độ, chính sách của cán bộ, công chức cơ quan đảng cho đến khi thực hiện chế độ tiền lương mới. 
Ðối với thủ tục hành chính khi giải quyết công việc thực hiện theo quy định hiện hành của Ðảng và Nhà nước; đồng thời, xây dựng cơ chế vận hành và các quy trình giải quyết công việc theo nguyên tắc không trùng lặp, không phát sinh khâu trung gian.
Về thể thức văn bản, với các văn bản tham mưu giúp cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy thì sử dụng thể thức văn bản của Ðảng. Với các văn bản phục vụ việc quản lý, điều hành của Nhà nước thì sử dụng thể thức văn bản theo quy định của Nhà nước. Với các công văn hành chính, văn bản chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao thì sử dụng thể thức văn bản cho phù hợp…
3. Về thí điểm trưởng ban dân vận cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban MTTQ cấp tỉnh, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện, Bộ Chính trị giao ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy căn cứ vào tình hình, điều kiện thực tế tại địa phương chủ động lựa chọn thực hiện thí điểm ở cấp huyện; Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp Ban Dân vận Trung ương, Ðảng đoàn MTTQ Việt Nam làm việc và thống nhất với ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy nơi có điều kiện để thí điểm mô hình này. 
Kiện toàn chức danh kiêm nhiệm thực hiện theo trình tự phân công ủy viên ban thường vụ, trưởng ban dân vận cấp ủy trước, sau đó giới thiệu để Ủy ban MTTQ hiệp thương chức danh chủ tịch ủy ban MTTQ theo quy định của Ðiều lệ MTTQ Việt Nam và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
4. Về tổ chức lại đảng bộ khối doanh nghiệp cấp tỉnh được giao cho ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, chủ động lựa chọn mô hình, xây dựng, phê duyệt đề án, các quy định cụ thể và lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức lại các đảng bộ khối doanh nghiệp cấp tỉnh theo một trong ba phương án:
Một là, kết thúc hoạt động đảng bộ khối doanh nghiệp; tùy theo quy mô, tính chất doanh nghiệp hoặc nơi doanh nghiệp đặt trụ sở hoặc nơi đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp để chuyển các đảng bộ, chi bộ doanh nghiệp từ trực thuộc đảng ủy khối doanh nghiệp tỉnh, thành phố về trực thuộc cấp ủy phù hợp (cấp huyện hoặc cấp cơ sở).
Hai là, hợp nhất đảng bộ khối các cơ quan cấp tỉnh và đảng bộ khối doanh nghiệp cấp tỉnh; cơ cấu lại tổ chức bên trong và đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Ba là, sắp xếp lại tổ chức, biên chế của đảng ủy khối doanh nghiệp cấp tỉnh, bảo đảm tinh gọn; tập trung vào một số nhiệm vụ công tác xây dựng đảng và nâng cao tính thực chất và hiệu quả hoạt động.
5. Về thí điểm hợp nhất các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện được giao cho ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình, điều kiện thực tế tại địa phương, chủ động lựa chọn mô hình hợp nhất, xây dựng, phê duyệt đề án và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thí điểm; trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc báo cáo đề xuất Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ xem xét, hướng dẫn.
6. Về thí điểm hợp nhất văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội, văn phòng HÐND và văn phòng UBND cấp tỉnh thành một văn phòng tham mưu, giúp việc chung ở những nơi có đủ điều kiện, giao cho Ðảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ tập trung chỉ đạo thực hiện thí điểm theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 56/2017/QH14, ngày 24/11/2017 của Quốc hội và Nghị quyết số 10/NQ-CP, ngày 3/2/2018 của Chính phủ; chủ động tháo gỡ khó khăn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo đảm có hiệu quả. 
Ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương căn cứ tình hình, điều kiện thực tế tại địa phương chủ động chỉ đạo xây dựng, phê duyệt đề án và phối hợp các cơ quan liên quan lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc hợp nhất theo hướng cơ quan hợp nhất bảo đảm thực hiện toàn diện, có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan sáp nhập; cơ cấu các đơn vị bên trong không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ; khi sáp nhập, số lượng cấp phó của cơ quan hợp nhất không vượt quá số lượng cấp phó hiện có của các cơ quan sáp nhập và xây dựng lộ trình để đến năm 2020 có số lượng cấp phó theo quy định.
Biên chế của cơ quan hợp nhất do UBND tỉnh quản lý và không vượt quá tổng số biên chế hiện có của các cơ quan sáp nhập; đồng thời xây dựng vị trí việc làm, tiếp tục cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và thực hiện tinh giản biên chế theo các nghị quyết, kết luận hiện hành của Trung ương và của Bộ Chính trị. Quá trình thực hiện nếu có những vấn đề còn vướng mắc thì phối hợp Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ để tháo gỡ.
Bộ Chính trị giao Ban cán sự đảng Chính phủ chủ trì, phối hợp Ban Tổ chức Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, quy định mẫu dấu cho các cơ quan thực hiện thí điểm hợp nhất và hướng dẫn việc khắc dấu, quản lý và sử dụng thống nhất trong toàn quốc.
Ban Tổ chức Trung ương có trách nhiệm phối hợp các cơ quan liên quan theo dõi tổng hợp tình hình thực hiện, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bổ sung, sửa đổi theo thẩm quyền; đồng thời sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện các mô hình thí điểm làm căn cứ đề xuất từng bước nhân rộng những mô hình phù hợp, hiệu quả.
Chuyên đề 2: Một số vấn đề về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ 
Ban Tổ chức Trung ương ngày 06-7-2018 ban hành Hướng dẫn số 12-HD/BTCTW hướng dẫn một số vấn đề về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, trong đó yêu cầu:
Về nội dung sinh hoạt chi bộ
Đối với sinh hoạt thường kỳ: Căn cứ Điều lệ Đảng, định hướng của cấp trên, tình hình, đặc điểm của chi bộ và kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, hằng tháng chi bộ sinh hoạt gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Về công tác chính trị, tư tưởng: (i) Lựa chọn những nội dung thời sự trong nước, quốc tế, các vấn đề của địa phương, cơ quan, đơn vị sát với tình hình và phù hợp chức năng, nhiệm vụ của chi bộ để phổ biến, trao đổi. (ii) Thông báo kịp thời chủ trương, các văn bản của Đảng, Nhà nước, của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp cần phổ biến đến chi bộ. (iii) Đánh giá tình hình tư tưởng của đảng viên, quần chúng thuộc phạm vi lãnh đạo của chi bộ; những vấn đề chi bộ cần quan tâm. Kịp thời định hướng nhận thức, tư tưởng cho đảng viên.
b) Về thực hiện nhiệm vụ chính trị: (i) Đánh giá kết quả công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị trong tháng của chi bộ và việc thực hiện nhiệm vụ của đảng viên; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân để đề ra biện pháp khắc phục. (ii) Đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI Một số vấn đề cấp bách về xây dụng Đảng hiện nay, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. (iii) Đảng viên, nhất là người đứng đầu liên hệ, đánh giá việc thực hiện nội dung đã cam kết theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII; về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị; về chống chạy chức, chạy quyền và chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, xa rời quần chúng. (iv) Kết quả lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội. (v) Xác định nhiệm vụ của chi bộ tháng tiếp theo và biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo; phân công nhiệm vụ cho đảng viên.
Đối với sinh hoạt chuyên đề: Căn cứ chỉ thị, nghị quyết và định hướng của cấp trên, tình hình, đặc điểm của chi bộ, mỗi quý ít nhất một lần chi bộ tổ chức sinh hoạt theo các nhóm vấn đề sau:
(i) Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo hướng dẫn của Trung ương và cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên. (ii) Về các giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên. (iii) Về triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp đến sự lãnh đạo, chỉ đạo của chi bộ. (iv) Về các giải pháp phòng, chống, khắc phục, sửa chữa các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong chi bộ. (v) Về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa ở địa phương, cơ quan, đơn vị. (vi) Về việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chuyên môn của cơ quan, đơn vị, chi bộ. (vii) Về giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống của địa phương, cơ quan, đơn vị cho cán bộ, đảng viên. (viii) Những nội dung khác theo đặc điểm của từng loại hình chi bộ.
Chuyên đề 3: Tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận
Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ngày 09-4-2018 ban hành Hướng dẫn số 02-HD/TU về hướng dẫn việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII.
Theo đó, về định hướng chung, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu căn cứ tình hình thực tế và chức năng, nhiệm vụ được giao, các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Tỉnh ủy, các cơ quan, đơn vị lựa chọn nội dung và tổ chức tổng kết, nghiên cứu những mô hình mới, cách làm hay, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện, chuẩn bị cho việc ban hành mới các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy, tổ chức đảng, của chính quyền địa phương và xây dựng các chủ trương lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và công tác xây dựng Đảng ở địa phương, đơn vị.
Về định hướng cụ thể, việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận tập trung vào 4 lĩnh vực, đó là: Đối với kinh tế: nghiên cứu, tổng kết việc vận dụng phương thức lãnh đạo của Đảng về kinh tế ở địa phương, đơn vị; việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; phát triển doanh nghiệp; tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; phát triển kinh tế tư nhân; các mô hình phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã, nhất là trong vùng dân tộc thiểu số; nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài; cơ cấu lại, phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng kinh tế số và các chủ trương, giải pháp để tiếp cận, khai thác và phát huy các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Đối với lĩnh vực văn hóa-xã hội: chú trọng nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; nội dung phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh, phòng, chống các tệ nạn xã hội; giảm nghèo bền vững, chăm sóc người có công, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc; phát triển, quản lý xã hội bền vững, đồng thuận, kỷ cương; trồng và quản lý, bảo vệ rừng; bảo vệ môi trường; phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại: xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh Nhân dân trong tình hình mới; bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ của đất nước; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh mạng, an ninh thông tin; phòng, chống “diễn biến hòa bình”, tội phạm, tệ nạn xã hội và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các đối tượng cơ hội chính trị; hội nhập quốc tế, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước, các tổ chức quốc tế, các ngành, địa phương nước ngoài.
Đối với lĩnh vực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: chú trọng công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương, đơn vị. Công tác tổ chức cán bộ (tuyển dụng, đánh giá, quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm,…); những kinh nghiệm hay, mô hình mới trong sắp xếp, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, cải cách hành chính; công tác kiểm tra, giám sát; công tác dân vận; phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể; phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Cơ sở để chọn vấn đề tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận là sự chỉ đạo, yêu cầu của cấp trên; sơ kết 05 năm, tổng kết 10 năm thực hiện các nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng đã ban hành để tiếp tục chỉ đạo thực hiện; nghiên cứu các mô hình mới, cách làm hay cần đánh giá, kết luận để nhân rộng; những vấn đề lớn, quan trọng trong nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước khi tổ chức thực hiện gặp khó khăn, vướng mắc cần phải giải quyết; chuẩn bị nội dung cho việc ban hành các nghị quyết mới của Đảng, nhất là phục vụ việc xây dựng các văn kiện đại hội đảng các cấp.
Kế hoạch tổng kết, nghiên cứu phải đảm bảo các nội dung: căn cứ xây dựng kế hoạch; mục đích, yêu cầu, đối tượng, phạm vi tổng kết, nghiên cứu; các nội dung chính cần triển khai tổng kết nghiên cứu; phương pháp tổng kết, nghiên cứu; lực lượng tham gia (chủ trì, phối hợp); những công việc phải thực hiện ngay và thường xuyên; thời gian thực hiện, hoàn thành. Báo cáo tổng kết, nghiên cứu phải đánh giá đúng những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém của lĩnh vực, nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém này, rút ra những kinh nghiệm, bài học, đề xuất được những chủ trương, quan điểm, giải pháp tiếp tục giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra; có những kiến nghị hợp lý, khả thi với Đảng, Nhà nước và cấp trên.
Để triển khai tốt nhiệm vụ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Tỉnh ủy, căn cứ Hướng dẫn này, chỉ đạo việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đối với các vấn đề thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực, địa phương mình lãnh đạo, quản lý, phục vụ trực tiếp cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của địa phương, đơn vị mình; chỉ đạo ưu tiên phân bổ kinh phí hoạt động khoa học cho các đề tài, đề án tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận do cấp ủy, tổ chức đảng đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ. Các cơ quan báo chí của tỉnh tăng cường thông tin, tuyên truyền về kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận ở các địa phương, đơn vị; xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, chương trình giới thiệu, cổ vũ, nhân rộng những mô hình mới, kinh nghiệm hay (sau khi tổng kết, đánh giá) ở các địa phương, đơn vị; góp phần tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành tựu phát triển của tỉnh, của đất nước. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các địa phương, đơn vị liên quan đôn đốc, theo dõi, kiểm tra, giám sát việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận của các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị; định kỳ hằng năm, tổng hợp báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy về kết quả thực hiện.
II. TIN TRONG TỈNH
1. Trong hai ngày (6-8 và 23-8), Thường trực Tỉnh ủy làm việc với Ban Dân vận Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm việc với Ban Thường vụ Huyện ủy Ngọc Hồi.
- Làm việc với Ban Dân vận Tỉnh ủy về tình hình thực hiện nhiệm vụ của Ban từ đầu năm 2015 đến nay, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng yêu cầu trong thời gian tới, Ban Dân vận Tỉnh ủy và đồng chí Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy cần tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết; tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong đó, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tham mưu sơ kết, tổng kết việc thực hiện chủ trương của Đảng, của Tỉnh ủy về công tác dân vận. Bám sát cơ sở, theo dõi, tổng hợp tình hình dân tộc, tôn giáo, tư tưởng, tâm trạng, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân và phong trào quần chúng, những vấn đề bức xúc, nảy sinh ở cơ sở để kịp thời báo cáo, tham mưu Tỉnh ủy, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy lãnh đạo, giải quyết.
Đồng chí Nguyễn Văn Hùng cũng yêu cầu Ban Dân vận Tỉnh ủy nắm tình hình hoạt động và tham mưu Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao hơn nữa chất lượng tuyên truyền, vận động quần chúng. Chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hưởng ứng và tham gia thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do các cấp, các ngành phát động, tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, tích cực tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dụng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh. Phát huy và thực hiện tốt hơn nữa vai trò là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của tỉnh, Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo tỉnh; Ban Chỉ đạo 04 của Tỉnh ủy…
- Làm việc với Ban Thường vụ Huyện ủy Ngọc Hồi về triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị từ đầu nhiệm kỳ Đại hội VI Đảng bộ huyện (nhiệm kỳ 2015-2020) đến nay, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng đánh giá cao công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị từ đầu nhiệm kỳ Đại hội VI Đảng bộ huyện đến nay. Đồng chí yêu cầu, trong thời gian tới, Huyện ủy Ngọc Hồi tiếp tục chủ động, sáng tạo, quyết liệt hơn nữa trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra. Trong đó, cần khẩn trương rà soát kỹ các chỉ tiêu, trên cơ sở đó có giải pháp cụ thể, sát thực tế để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đạt ở mức cao nhất có thể đối với các chỉ tiêu dự kiến khó đạt.
Đặc biệt, toàn huyện tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả việc đầu tư xây dựng và phát triển vùng kinh tế động lực của tỉnh. Trong đó, hoàn thiện các thủ tục để sớm đề nghị thành lập thị xã Ngọc Hồi, tiếp tục thực hiện tốt chủ trương của Tỉnh uỷ, nhất là phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phát triển cánh đồng mẫu lớn, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư để hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, tiếp tục phối hợp với Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh cải cách thủ tục hành chính để thu hút đầu tư kết cấu hạ tầng công nghiệp và thương mại, thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, nâng cao chất lượng giáo dục, công tác giảm nghèo, an sinh xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh...
2. Sáng 16-8, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện các văn bản của Đảng về công tác văn thư, lưu trữ. Đồng chí Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.
Tại hội nghị, lãnh đạo Văn phòng Tỉnh ủy quán triệt Quy định số 66-QĐ/TW, ngày 06-2-2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng”, Hướng dẫn số 36-HD/VPTW ngày 03-4-2018 của Văn phòng Trung ương Đảng về “Thể thức văn bản của Đảng”; Đề án phát triển công tác văn thư, lưu trữ đảng và tổ chức chính trị - xã hội giai đoạn 2018-2025, tầm nhìn đến năm 2035; dự thảo Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Phát triển công tác văn thư, lưu trữ ở cơ quan, tổ chức đảng và tổ chức chính trị - xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn 2018-2025, tầm nhìn đến năm 2035”.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Y Mửi nhấn mạnh: Việc Trung ương ban hành các quy định mới thống nhất về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng lần này là hết sức cần thiết, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình soạn thảo và ban hành văn bản của các cấp ủy, cơ quan, tổ chức đảng trong giai đoạn mới, phù hợp với quá trình cải cách thủ tục hành chính trong Đảng.
Đồng chí Y Mửi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội của tỉnh tiếp tục phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ; trên cơ sở Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, tiến hành rà soát, bổ sung nhiệm vụ và giải pháp để phát triển mạnh công tác văn thư, lưu trữ của địa phương, đơn vị mình; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho công tác lưu trữ; lãnh đạo cán bộ công chức, người được giao theo dõi, giải quyết công việc phải lập đầy đủ hồ sơ công việc, giao nộp vào lưu trữ cơ quan đảm bảo đúng yêu cầu nghiệp vụ; Văn phòng Tỉnh ủy tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn, tập huấn nghiệp vụ công tác văn thư, lưu trữ, cập nhật kịp thời các văn bản mới của Trung ương chỉ đạo về công tác văn thư, lưu trữ cho các cơ quan, tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh, đồng thời nghiên cứu đề xuất phương án xây dựng mới Kho lưu trữ Tỉnh ủy đảm bảo quản lý chặt chẽ, tài liệu cơ quan, tổ chức đảng và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh.
3. Chiều 31-7, Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2018. Đồng chí Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại của tỉnh chủ trì Hội nghị.
Trong 6 tháng đầu năm 2018, công tác thông tin đối ngoại (TTĐN) của tỉnh tiếp tục được triển khai thực hiện một cách đồng bộ với nhiều nội dung, phương thức hoạt động đổi mới, đạt được nhiều kết quả tích cực. Tỉnh uỷ, UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về phát triển kinh tế - xã hội các xã biên giới đất liền kết hợp với tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc phòng với Lào và Campuchia đến năm 2020 và những năm tiếp theo; thực hiện Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới; Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt nam- Lào; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án tổng thể tuyên truyền bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông; triển khai kết quả Cuộc họp thường niên lần thứ XXVII giữa hai đoàn đại biểu biên giới Việt Nam, Lào; thống nhất cho phép một đoàn phóng viên của tổ chức Plan Hàn Quốc xin thực hiện phóng sự về hoạt động của dự án Tổ chức Plan tài trợ tại các huyện Kon Plông, Kon Rẫy. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ (cơ quan thường trực Ban chỉ đạo) ban hành nhiều hướng dẫn tuyên truyền phục vụ cho hoạt động TTĐN; thường xuyên định hướng cho các cơ quan báo chí, truyền thông thực hiện tốt công tác tuyên truyền TTĐN. Trên cơ sở đó, các đơn vị, địa phương đã xây dựng chương trình, kế hoạch sát với tình hình thực tế và nhiệm vụ chính trị để triển khai triển khai thực hiện có hiệu quả hoạt động TTĐN. Thông qua các hoạt động đã góp phần tích cực vào việc tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, những thành tựu đổi mới của đất nước, của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, nâng cao vị thế của tỉnh ra bên ngoài.
Kết luận Hội nghị, đồng chí Lê Thị Kim Đơn đề nghị các địa phương, đơn vị tăng cường quán triệt đầy đủ hơn nữa về tầm quan trọng của công tác TTĐN cho cán bộ, đảng viên và nhân dân theo tinh thần Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh về công tác đối ngoại trong tình hình mới. Tập trung thông tin tuyên truyền, phổ biến rộng rãi về Luật An ninh mạng, để giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân có thông tin chính xác, hiểu rõ về văn bản luật này, nhằm tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội; những quan điểm chủ trương của Đảng, Nhà nước trong xây dựng các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; tăng cường theo dõi nắm bắt tư tưởng, tâm trạng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để có định hướng kịp thời.
4. Chiều 20-8, Đoàn công tác Bộ Giao thông Vận tải do Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể làm trưởng đoàn đã đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh.
Tiếp và làm việc với Đoàn có các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; Lê Ngọc Tuấn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; lãnh đạo một số sở ngành liên quan...
Tại buổi làm việc, UBND tỉnh đề nghị Bộ Giao thông Vận tải chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai thủ tục chuẩn bị đầu tư Quốc lộ 18B (tỉnh Attapư, Lào) và đường cao tốc Bờ Y- Ngọc Hồi; bố trí kinh phí đầu tư hoàn chỉnh hệ thống quốc lộ qua địa bàn tỉnh như Quốc lộ 24, Quốc lộ 14C, Quốc lộ 40, Quốc lộ 40B và tuyến tránh đường Hồ Chí Minh đoạn qua thành phố Kon Tum; bố trí 40,5 tỷ đồng cho dự án nâng cấp Quốc lộ 14C (đoạn từ Km72 - Km97+823) để hoàn trả ngân sách tỉnh; xem xét hỗ trợ kinh phí từ nguồn Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương để sửa chữa, duy tu bảo dưỡng các tuyến tỉnh lộ, đường Tuần tra biên giới trên địa bàn tỉnh; xem xét hỗ trợ kinh phí và vật tư để triển khai công tác phòng chống, khắc phục thiệt hại do mưa bão trên các tuyến quốc lộ qua địa bàn tỉnh và Quốc lộ 18B (tỉnh Attapư, Lào); đề nghị Bộ Giao thông vận tải quan tâm, xem xét ý kiến nghị của tỉnh về việc giao Sở Giao thông Vận tải Kon Tum lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư các đoạn xung yếu, cấp bách chưa được đầu tư thuộc Quốc lộ 24 đoạn qua địa phận tỉnh và nâng cấp tuyến đường từ cầu Tà Meo-Tỉnh lộ 676-ĐH.34 thuộc địa phận tỉnh Kon Tum thành Quốc lộ 24D...
Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Văn Hùng đề nghị Bộ Giao thông Vận tải quan tâm chỉ đạo nghiên cứu có giải pháp căn cơ nhằm khắc phục những điểm mất an toàn nhằm bảo đảm an toàn giao thông trên đèo Lò Xo qua tỉnh Kon Tum, bởi đây là tuyến đường có lưu lượng phương tiện lưu thông lớn; tiếp tục quan tâm ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư các dự án giao thông qua địa bàn tỉnh...
Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải - Nguyễn Văn Thể ghi nhận những kiến nghị, đề xuất của tỉnh và Bộ Giao thông Vận tải sẽ phối hợp với các bộ ngành xem xét giải quyết. Đồng chí Bộ trưởng yêu cầu các đơn vị chức năng của Bộ phối hợp với địa phương khẩn trương triển khai các giải pháp căn cơ bền vững đảm bảo an toàn giao thông trên đèo Lò Xo qua tỉnh Kon Tum; đề nghị UBND tỉnh Kon Tum chỉ đạo Sở Giao thông Vận tải khẩn trương đẩy nhanh tiến độ dự án đường Hồ Chí Minh tránh thành phố Kon Tum và giải ngân nguồn vốn đã được bố trí trong năm 2018...
5. Ngày 16-8, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức Họp báo công bố Quyết định 2465/QĐ-SHTT ngày 30/7/2018 của Cục Sở hữu trí tuệ về việc sửa đổi giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý Ngọc Linh cho sản phẩm sâm củ. Đồng chí Trần Thị Tuyết - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì  buổi họp báo. 
Theo Quyết định 2465/QĐ-SHTT ngày 30/7/2018 của Cục Sở hữu trí tuệ, tại tỉnh Kon Tum vùng chỉ dẫn địa lý sâm củ Ngọc Linh từ các xã ban đầu được công nhận năm 2016 là Ngọc Lây và Măng Ri (huyện Tu Mơ Rông), nay được mở rộng thêm gồm: các xã Mường Hoong, Ngọc Linh, Xốp (huyện Đăk Glei), Đăk Na, Ngọc Yêu, Văn Xuôi, Tê Xăng (huyện Tu Mơ Rông).
Đối với tỉnh Quảng Nam, từ xã Trà Linh (huyện Nam Trà My) được mở rộng thêm xã Trà Nam, Trà Cang, Trà Dơn, Trà Don, Trà Leng, Trà Lập (huyện Nam Trà My).
Phát biểu tại buổi họp báo, đồng chí Trần Thị Tuyết nhấn mạnh, việc mở rộng chỉ dẫn địa lý Ngọc Linh cho sản phẩm sâm củ của tỉnh Kon Tum và Quảng Nam giúp cho các địa phương trong vùng chỉ dẫn có nhiều quyền lợi như: Được hưởng các chính sách của Nhà nước (tập huấn, đào tạo phát triển sâm Ngọc Linh…); được quyền quyết định khiếu nại tố cáo khi sản phẩm sâm củ bị xâm hại; được dán tem chỉ dẫn địa lý sâm Ngọc Linh…
III. TIN TRONG NƯỚC
1. Triển khai thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về nhiệm vụ của Ngành tuyên giáo trong thời gian tới
Tại buổi làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương ngày 01/8/2018, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có ý kiến chỉ đạo về một số nhiệm vụ trọng tâm của Ngành tuyên giáo trong thời gian tới, cụ thể là:
Trong thời gian tới, bên cạnh thuận lợi là cơ bản, công tác tuyên giáo đang đứng trước những khó khăn, thách thức lớn. Công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ngày càng phát triển theo chiều sâu và hướng tới chất lượng, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn; kinh tế thị trường bên cạnh những yếu tố tích cực, song cũng phức tạp, khó lường hơn trước dưới tác động tiêu cực bởi mặt trái của kinh tế thị trường; những vấn đề mới đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế; sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cơ hội chính trị ngày càng tinh vi, phức tạp; sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, Internet, mạng xã hội và xã hội thông tin, đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với công tác tuyên giáo nói chung... Đồng chí Tổng Bí thư nhất trí với những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của Ban Tuyên giáo Trung ương và ngành Tuyên giáo đã đề ra trong thời gian tới và nhấn mạnh bốn nội dung cần tập trung thực hiện như sau:
Một là, phải làm tốt hơn nữa công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng. Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng chính là nền tảng tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng, linh hồn của mọi công tác của Đảng, Nhà nước ta, không chỉ nhằm mục đích phục vụ nhiệm vụ trước mắt mà còn vì mục đích cơ bản, lâu dài. Đấy chính là nền tảng tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường chúng ta đã đi, tuyệt đối không dao động, mơ hồ. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong toàn bộ công tác tư tưởng - lý luận. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kiên định nguyên tắc lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững bản chất khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng và phát triển sáng tạo trong tình hình mới; chống cả chủ nghĩa cơ hội, xét lại, chủ nghĩa giáo điều. Kiên định, bảo vệ phải đi đôi với vận dụng đổi mới và phát triển sáng tạo; bổ sung và phát triển là để bảo vệ một cách tốt nhất, khoa học nhất chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo cần phải nhận thức thật sâu sắc, nhuần nhuyễn, có phương pháp tư duy biện chứng, xem xét sự vật nhiều chiều, nhiều góc độ, không tư duy phiến diện, một chiều, cực đoan, giáo điều, khô cứng. Đây là vấn đề cực kỳ hệ trọng có liên quan đến sự trường tồn, vững mạnh và phát triển của Đảng ta, chế độ ta, đất nước ta, không bao giờ được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác. Công tác lý luận, nghiên cứu, giáo dục, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là chức năng số một của ngành Tuyên giáo. Công tác tuyên giáo phải nắm chắc những đòi hỏi, yêu cầu đó để làm tốt hơn nữa và tuyên truyền một cách sáng tạo, nắm tư tưởng và đưa tư tưởng vào quần chúng, một cách hấp dẫn, có sức thuyết phục về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; góp phần giữ vững định hướng chính trị, mục tiêu lý tưởng của Đảng.
Hai là, công tác thông tin, tuyên truyền phải tập trung vào việc tăng cường, củng cố và giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân. Trên cơ sở mục tiêu, lý tưởng, đường lối chính trị đúng đắn của Đảng, công tác tuyên giáo phải bằng mọi cách, mọi lực lượng, mọi phương thức để tăng cường, củng cố và giữ vững cho được sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân. Thông qua công tác tư tưởng để cán bộ, đảng viên và nhân dân tự thấy, tự làm, tự hành động. Phải làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng một cách đúng đắn, không được làm gì để cán bộ, đảng viên, nhân dân hoài nghi, hoang mang, dao động. Toàn ngành Tuyên giáo cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nắm bắt, dự báo tình hình, tư tưởng chính trị, tâm trạng, dư luận xã hội, với nhiều hình thức, phương pháp đa dạng để phát hiện, báo cáo kịp thời những vấn đề phức tạp tác động đến tư tưởng, tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp uỷ, tổ chức đảng những giải pháp phù hợp nhằm định hướng tư tưởng chính trị, thông tin và dư luận xã hội, góp phần bảo đảm giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước, giải quyết, tháo gỡ những vấn đề, vụ việc phức tạp, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Cả hệ thống chính trị với ngành Tuyên giáo làm nòng cốt, chủ động làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; giải thích có cơ sở khoa học, thực tiễn, thuyết phục, có lý, có tình đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để tạo đồng thuận, nhất trí cao từ trong Đảng đến các tầng lớp nhân dân, để nhân dân đồng tình, ủng hộ và quyết tâm thực hiện.
Ba là, đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng. Trong tình hình hiện nay, khi bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, đất nước ta tiến hành đổi mới toàn diện và đồng bộ, hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cơ hội chính trị đang ra sức chống phá cách mạng nước ta thì cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; chống những khuynh hướng, những biểu hiện mơ hồ, lệch lạc về tư tưởng và đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, kích động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta ngày càng trở nên cấp thiết. Cần nhận rõ âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng cơ hội chính trị; làm tốt hơn công tác đấu tranh tư tưởng, bảo vệ lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ và nhân dân, bảo vệ mọi thành quả của cách mạng; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cơ hội chính trị. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cần nhận thức đúng tình hình, thấy rõ nguy cơ cũng như âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cơ hội chính trị; giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của chúng. Làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI, XII, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nâng cao tính chiến đấu của Đảng; chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; chống nguy cơ "diễn biến hoà bình".
Bốn là, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo có trình độ, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên cường, có trí tuệ, tâm huyết với công việc, có dũng khí đấu tranh, có năng lực, trình độ chuyên môn cao và có phương thức hoạt động và phương pháp tư duy biện chứng, khoa học phù hợp và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cấp uỷ, chính quyền các cấp có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành Tuyên giáo hoạt động tốt hơn. Những người làm công tác tuyên giáo của Đảng phải thực sự là lực lượng xung kích, nòng cốt đi đầu, mở đường về tư tưởng chính trị, thể hiện và nâng cao quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, đặc biệt là xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng.
Về một số công việc cụ thể, cần đặc biệt quan tâm đến mạng xã hội, công nghệ số, tăng cường hoạt động trong lĩnh vực này để thực hiện công tác tuyên giáo tốt hơn, nhanh hơn, sắc bén, kịp thời và hiệu quả hơn. Đối với công tác quy hoạch báo chí, cần triển khai thực hiện để sắp xếp, quản lý, định hướng và phát huy tốt hơn hoạt động báo chí.
2. Một số nét chính về tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2018
Một số kết quả đạt được:
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm tiếp tục xu thế tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát. Mặt bằng lãi suất, tỷ giá, thị trường ngoại tệ tương đối ổn định. Khu vực nông nghiệp tăng trưởng khá trong điều kiện chịu nhiều tác động bất lợi của tình hình thời tiết. Khu vực công nghiệp tăng trưởng mạnh; trong đó chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 7 tăng 14,3%. Khu vực thương mại, dịch vụ tiếp tục xu hướng tăng khá; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,1%; lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng 25,4%. Kim ngạch xuất khẩu tăng 15,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 18,7%. Thu ngân sách tăng. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký và giải ngân khá. Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện; trong đó Chỉ số đổi mới toàn cầu (GII) của Việt Nam xếp 45/126 quốc gia và nền kinh tế, tăng 02 bậc so với năm 2017, thứ hạng cao nhất đạt được từ trước đến nay; Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam xếp 57/156 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 11 bậc, đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN. Các chính sách an sinh xã hội, việc làm, giảm nghèo, y tế được quan tâm thực hiện tốt. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được chú trọng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế nước ta vẫn còn những hạn chế, bất cập và đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Giá các hàng hóa cơ bản trên thế giới biến động, có xu hướng tăng làm gia tăng sức ép lạm phát. Chiến tranh thương mại giữa các nền kinh tế lớn diễn ra căng thẳng hơn cùng với xu hướng bảo hộ thương mại và áp đặt hàng rào phi thuế quan của các nước ảnh hưởng tới xuất khẩu và sản xuất, kinh doanh trong nước. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước và triển khai kế hoạch cổ phần hóa, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước còn chậm. Tình hình thiên tai, bão lũ tiếp tục diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống. Tình trạng ô nhiễm môi trường, phá rừng, tai nạn giao thông, cháy nổ xảy ra còn nhiều...
Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới:
Chính phủ kiên định các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2018 đã đề ra theo các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, trọng tâm là kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo đảm an toàn cho người dân, củng cố niềm tin xã hội, niềm tin thị trường, niềm tin doanh nghiệp; yêu cầu các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo thực hiện hiệu quả, đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp được nêu tại các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, nhất là các nghị quyết số: 01/NQ-CP, 19-2018/NQ-CP, 35/NQ-CP và các nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ; trực tiếp chỉ đạo sát sao, quyết liệt, triển khai hiệu quả các giải pháp, nhiệm vụ thuộc ngành, lĩnh vực, địa bàn phụ trách; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi phát triển sản xuất, kinh doanh; tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ; trong đó tập trung thực hiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, Tổ điều hành kinh tế vĩ mô và các bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước, phối hợp điều hành kịp thời, hài hòa, hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô. Ban Chỉ đạo điều hành giá theo dõi diễn biến thị trường các mặt hàng thiết yếu, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh khi có biến động bất thường. Trong năm 2018, Chính phủ chưa xem xét điều chỉnh giá điện và giá một số dịch vụ công thiết yếu do nhà nước quản lý.
Thứ hai, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển; tạo niềm tin, thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài quy mô lớn và có chuỗi giá trị toàn cầu. Đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn, phát triển sản xuất, kinh doanh. Tăng cường phối hợp kiểm soát chặt chẽ, ngăn chặn việc nhập khẩu phế liệu hàng hóa công nghệ lạc hậu, chất lượng kém vào Việt Nam; khẩn trương phân loại, giải tỏa, thanh tra, chấn chỉnh việc cấp phép nhập khẩu phế liệu thời gian qua.
Thứ ba, từng Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan tập trung chỉ đạo đẩy nhanh việc thực hiện phương án sắp xếp các cơ quan báo chí, nhất là việc tiếp nhận báo chí của hội thuộc ngành, lĩnh vực quản lý theo Đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua.
Thứ tư, các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu quả, đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vi sự nghiệp công lập theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII); quán triệt thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Đẩy mạnh cải cách hành chính, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; tích cực xây dựng Chính phủ điện tử, thực hiện kết nối liên thông các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và mở rộng cung cấp dịch vụ cổng trực tuyến ở mức độ 3, mức độ 4 phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Thứ năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Công an Bộ, Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban Dân tộc trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình triển khai thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ cụ thể đã được Chính phủ giao trong Nghị quyết số 104/NQ-CP, ngày 08/8/2018.
3. Tăng cường giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài góp phần ổn định chính trị - xã hội tại các địa phương
Trong thời gian qua, quán triệt và thực hiện Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân, các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng, tập trung giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài đã được giải quyết, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, góp phần ổn định chính trị - xã hội và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo vẫn còn diễn biến phức tạp, còn tồn đọng nhiều vụ việc đông người, phức tạp, kéo dài chưa được giải quyết hoặc đã giải quyết nhưng chưa dứt điểm. Gần đây có tình trạng công dân tập trung dài ngày ở các cơ quan Trung ương và đến khu vực nhà riêng các đồng chí lãnh đạo khiếu kiện, gây áp lực yêu cầu giải quyết, căng khẩu hiệu, biểu ngữ trên đường phố, gây mất trật tự công cộng; có hành vi chống người thi hành công vụ, bắt giữ người trái pháp luật. Nội dung các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài chủ yếu liên quan đến đất đai (chiếm trên 70%), trong đó tập trung vào vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tranh chấp đất đai, việc chuyển đổi mô hình chợ truyền thống,…
Để giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài góp phần ổn định chính trị - xã hội, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Thứ nhất, chấn chỉnh những tồn tại, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo, nhất là trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Thủ trưởng các cơ quan hành chính phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình, kiên quyết xử lý vi phạm và thông báo công khai trước nhân dân. Tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm trong lĩnh vực quy hoạch, đầu tư, xây dựng phát triển đô thị; chấn chỉnh xử lý triệt để những tồn tại, sai phạm trong công tác quản lý đất đai. Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải công khai, minh bạch, đúng chính sách, pháp luật, bảo đảm cho người bị thu hồi đất có cuộc sống ổn định, bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, bảo đảm hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất.
Thứ hai, giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan đánh giá đầy đủ, sát thực tế việc thi hành Luật Đất đai, nhất là các bất cập là nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,... để giải quyết căn cơ các vấn đề là nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo, đảm bảo quyền lợi chính đáng của người có đất bị thu hồi. Bộ Công thương nghiên cứu, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến việc chuyển đổi mô hình chợ truyền thống.
Thứ ba, Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích công dân khởi kiện các quyết định hành chính và hành vi hành chính ra Tòa án nhân dân. Yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan hành chính, công chức khi có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện phải thực hiện nghiêm túc Luật Tố tụng hành chính, tham gia phiên tòa, tranh tụng, đối thoại, thi hành các bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật theo đúng quy định.
Thứ tư, chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp nghiêm túc thực hiện chế độ tiếp công dân định kỳ và đột xuất. Khi xảy ra vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phải đề cao trách nhiệm, sâu sát, quyết liệt, trực tiếp đối thoại với người dân, có biện pháp chỉ đạo giải quyết kịp thời, không để phát sinh thành "điểm nóng" gây phức tạp về an ninh, trật tự. Khi người dân địa phương tập trung khiếu kiện đông người đến các cơ quan Trung ương, yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phải trực tiếp chỉ đạo, phân công người có đủ thẩm quyền phối hợp với Thanh tra Chính phủ, các bộ, ngành liên quan để tiếp dân, vận động, thuyết phục, có biện pháp để công dân về địa phương giải quyết, không để công dân khiếu kiện dài ngày ở các cơ quan Trung ương, nhất là vào thời gian diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước…
Thứ năm, giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố lập kế hoạch giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt...
Thứ sáu, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo các đơn vị chức năng và công an địa phương nắm chắc tình hình khiếu nại, tố cáo, kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp biện pháp xử lý những tình huống phức tạp, bảo đảm an ninh, trật tự không để bị động, bất ngờ.
Thứ bảy, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo tăng cường công tác thông tin, truyền thông về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp, dư luận xã hội quan tâm để người dân hiểu đúng bản chất vụ việc, biện pháp giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân. Việc đưa tin phải khách quan, trung thực, không đưa tin một chiều, sai lệch nội dung, bản chất vụ việc khiếu nại, tố cáo gây tác động tiêu cực tới dư luận, để các phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động.
Thứ tám, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp tập trung giải quyết kịp thời và thông báo kết quả giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo do các cơ quan của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội chuyển đến; thực hiện nghiêm túc các kiến nghị giám sát, nhất là việc giải quyết các vụ việc khiếu kiện phức tạp, kéo dài.
Thứ chín, đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Đoàn thể chính trị - xã hội tích cực phối hợp với các cấp chính quyền trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tập thể.
Thứ mười, đề nghị Liên đoàn Luật sư Việt Nam huy động đội ngũ luật sư tích cực tham gia tư vấn pháp luật cho người dân; chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền trong quá trình giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo; chấn chỉnh, xử lý kịp thời một số luật sư có hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.
4. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong thời gian tới
Tính đến cuối năm 2017, cả nước có 20.092 hợp tác xã, 92.315 tổ hợp tác, 50 liên hiệp hợp tác xã, tỷ lệ hợp tác xã hoạt động có hiệu quả chiếm 45,3%. Trong đó, có 11.688 hợp tác xã nông nghiệp, 3.939 hợp tác xã công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, 2.081 hợp tác xã thương mại, dịch vụ, 828 hợp tác xã xây dựng, 920 hợp tác xã giao thông vận tải, còn là hợp tác xã khác (môi trường, điện, y tế, du lịch...) và 1.178 quỹ tín dụng nhân dân. Mặc dù còn khó khăn, nhưng khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã đã tạo thêm việc làm và thu nhập cho thành viên và người lao động, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước (đóng góp khoảng 5,6% GDP). Phần lớn các hợp tác xã đã cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi theo quy định của pháp luật, gần 50% hợp tác xã tăng trưởng về vốn kinh doanh. Nhiều hợp tác xã đã được củng cố, đổi mới về tổ chức và hoạt động, có chuyển biến về qui mô, công nghệ, năng lực quản trị sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ tốt hơn kinh tế hộ và xã viên. Hình thức tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng liên doanh, liên kết được nhiều nơi triển khai thực hiện và mang lại hiệu quả tích cực, đặc biệt là các hợp tác xã gắn với phát triển chuỗi giá trị sản phẩm bền vững hoạt động có hiệu quả. Đã xuất hiện nhiều hợp tác xã điển hình tiên tiến, sản xuất, kinh doanh giỏi với hình thức phong phú, đa dạng ở các ngành nghề, lĩnh vực, đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương và phát triển kinh tế bền vững của đất nước. Hệ thống Liên minh Hợp tác xã từ trung ương đến cơ sở đã thực hiện tốt các nhiệm vụ, chức trách được giao theo quy định là đại diện và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các thành viên; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đào tạo, tư vấn hỗ trợ và cung ứng các dịch vụ cho hợp tác xã; tham gia, phối hợp có hiệu quả với các bộ, ngành, địa phương xây dựng và ban hành các chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước về kinh tế hợp tác, hợp tác xã...
Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, kinh tế hợp tác, hợp tác xã còn nhiều hạn chế, phát triển chậm cả về số lượng và chất lượng (khoảng 20% hợp tác xã yếu kém); quản lý nhà nước còn chưa tập trung, bộ máy phân tán, chưa thống nhất từ trung ương đến địa phương, hoạt động chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý còn hạn chế, cơ chế chính sách thiếu đồng bộ và cụ thể hóa nên khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã gặp rất nhiều khó khăn; kinh phí của trung ương và địa phương hỗ trợ còn hạn chế, phân tán ở nhiều chương trình; kinh tế hợp tác, hợp tác xã phát triển chưa tương xứng tiềm năng và lợi thế của các địa phương, xây dựng mô hình hợp tác xã sản xuất gắn với chuỗi giá trị gặp nhiều khó khăn, trở ngại; phần lớn các hợp tác xã qui mô nhỏ, năng lực tài chính yếu và thiếu minh bạch, cơ sở vật chất còn nghèo, năng lực cạnh tranh yếu, hạn chế, thu nhập của phần lớn lao động trong khu vực hợp tác xã thấp, thiếu ổn định; hệ thống Liên minh hợp tác xã chưa làm tốt chức năng đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên, hạn chế huy động nguồn lực để hỗ trợ thành viên.
Để đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Thứ nhất, thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động cụ thể triển khai Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2018; Luật Hợp tác xã năm 2012, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII về kinh tế hợp tác, hợp tác xã, các nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao tại Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 22/5/2018.
Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hợp tác xã, nâng cao nhận thức và tư duy về phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã; nâng cao vai trò và lợi ích của tổ chức hợp tác xã trong phát triển kinh tế - xã hội với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.
Thứ ba, xây dựng, tổng kết, nhân rộng các mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, điển hình tiên tiến gắn với các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; triển khai Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, Quyết định số 461/QĐ-TTg, ngày 27/4/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển 15.000 hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả đến năm 2020; khẩn trương sửa đổi Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về tín dụng nông nghiệp và đề xuất chính sách về tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp.
Thứ tư, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quy định trong Luật Hợp tác xã; nghiên cứu, đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập trong các quy định tại Luật Hợp tác xã năm 2012; tạo điều kiện, phối hợp, hỗ trợ hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thực hiện vai trò nòng cốt phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã; ổn định tổ chức bộ máy, cơ chế, chính sách tương đương như các bộ, ngành kinh tế có liên quan.
Thứ năm, đối với hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được giao theo Điều lệ của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tại Quyết định số 105/QĐ-TTg, ngày 24/01/2017 và Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 22/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ; triển khai thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ đã giao trong Thông báo Kết luận số 276 -TB/VPCP, ngày 03/8/2018 của Văn phòng Chính phủ.
C. VĂN BẢN MỚI
I. VĂN BẢN CỦA TỈNH
1. Ngày 01/8/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 2153/UBND-NC về cách ghi thành phần dân tộc trên các loại giấy tờ cá nhân của công dân.
Theo đó, điều chỉnh cách ghi thành phần dân tộc trên các loại giấy tờ cá nhân của công dân tại mục 1 Công văn số 2997/UBND-NC ngày 06/11/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum, gồm: Cách ghi thành phần dân tộc được thực hiện theo hướng dẫn của Ủy ban Dân tộc tại Công văn số 40/UBDT-DTTS ngày 16/01/2018 và ý kiến của Bộ Tư pháp tại Công văn số 525/HTQTCT-BTP ngày 14/5/2018, cụ thể: Ghi tên nhóm nhỏ hoặc tên gọi khác trước, sau đóng mở ngoặc ghi tên chính thức của dân tộc (ví dụ: Pa-co (Ta-ôi), Rơ Ngao (Ba - na)). Các nội dung khác có liên quan, tiếp tục triển khai thực hiện theo chỉ đạo tại Công văn số 2997/UBND-NC ngày 06/11/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Văn bản nêu rõ, trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính có liên quan đến thông tin thành phần dân tộc của công dân, các cơ quan, đơn vị, địa phương không được từ chối đối với các giấy tờ cá nhân có cách ghi tên gọi khác của thành phần dân tộc hoặc có lỗi về mặt kỹ thuật tại các giấy tờ của công dân.
Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến về cách ghi thành phần dân tộc theo đúng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam được ban hành kèm theo Quyết định số 121/TCTK-PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục trưởng Tổng Cục thống kê...
2. Ngày 09/8/2018, UBND tỉnh có Công văn số 2238/UBND-TH chỉ đạo các đơn vị, địa phương thực hiện các nhiệm vụ:
UBND các huyện, thành phố: Thực hiện việc xét, đề nghị khen thưởng thành tích kháng chiến phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, có đủ căn cứ pháp lý, khen thưởng đúng người, đúng thành tích; việc thẩm định hồ sơ và trình cấp có thẩm quyền xét, đề nghị khen thưởng thành tích kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ phải theo các quy định của Điều lệ khen thưởng, các văn bản hướng dẫn thực hiện và theo Công văn số 1275/BTĐKT-Vụ III ngày 07/6/2018 của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương về việc thẩm định hồ sơ khen thưởng thành tích tham gia kháng chiến (được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử tỉnh). Rà soát, lập hồ sơ đề nghị khen thưởng (đối với các trường hợp đủ điều kiện, tiêu chuẩn) gửi về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Ban Thi đua - khen thưởng, Sở Nội vụ) trước ngày 01/10/2018 để xét, trình khen thưởng theo quy định hiện hành. Đối với các trường hợp đã khai báo nhưng không đủ căn cứ, điều kiện, tiêu chuẩn khen thưởng thì giải thích rõ lý do.
Hoàn thành việc trình khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến ở các huyện, thành phố trong tháng 10/2018.
Ban Thi đua - Khen thưởng (Sở Nội vụ) có trách nhiệm đôn đốc các đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện, lập hồ sơ, thủ tục trình Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. Hoàn thành trong tháng 11/2018.
3. Ngày 16/8/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 3215/UBND-NC chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, yêu cầu UBND các huyện, thành phố tiếp tục chỉ đạo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; bảo đảm việc đánh giá, công nhận, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo đúng quy định. Phân công cụ thể nhiệm vụ cho các đơn vị, công chức theo dõi, đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật phù hợp với lĩnh vực được giao quản lý; phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan thường trực Hội đồng đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cấp huyện và từng thành viên Hội đồng trong rà soát, thẩm định kết quả đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của cấp xã.
Thực hiện đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đối với tất cả các đơn vị cấp xã, không chỉ tập trung đánh giá các xã đăng ký xây dựng nông thôn mới. Tăng cường quản lý cán bộ, công chức cấp xã, không để xảy ra vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra. Chủ động hướng dẫn về tài liệu kiểm chứng kết quả đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật để tạo thuận lợi cho cấp huyện, cấp xã thực hiện.
Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, chỉ đạo điểm về mô hình tiếp cận pháp luật tại cơ sở; tăng cường khả năng tiếp cận thông tin về pháp luật cho người dân tại cơ sở, gắn với thực hiện Luật tiếp cận thông tin. Thực hiện việc niêm yết, công bố kết quả cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.
Đảm bảo việc đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thực chất, không chạy theo thành tích, phát huy ý nghĩa, vai trò và đạt mục đích trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; định kỳ sơ kết, giải đáp khó khăn, vướng mắc cho địa phương, cơ sở; chấn chỉnh đối với các địa phương tổ chức thực hiện chưa nghiêm túc...
UBND tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh.
4. Ngày 16/8/2018, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 2313/KH-UBND triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn tỉnh năm 2018, với chủ đề "Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, thực thi, bảo vệ pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần xây dựng nhà nước liêm chính, hành động, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh".
Theo đó, các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật được tổ chức thường xuyên, liên tục trong cả năm, tập trung vào 02 tháng, bắt đầu từ ngày 01/10/2018 đến hết ngày 30/11/2018; cao điểm từ ngày 05/11/2018 đến ngày 11/11/2018.
Căn cứ điều kiện thực tiễn và nhiệm vụ chính trị, các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tập trung vào các nội dung, như: Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách về tổ chức bộ máy, cán bộ; tăng cường trách nhiệm, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ; quy hoạch, tài chính, đầu tư kinh doanh, khởi nghiệp, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, phòng, chống tham nhũng, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và các quy định liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.
Tổ chức thi hành các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; quán triệt, truyền thông, phổ biến nội dung chính sách, quy định mới. Thông tin về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; cải cách tư pháp, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động đầu tư kinh doanh; giáo dục ý thức và lợi ích của việc tuân thủ, chấp hành pháp luật gắn với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, ý thức tuân thủ kỷ cương, kỷ luật công vụ. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm pháp luật, sách nhiễu người dân và doanh nghiệp, thực hiện nghiêm pháp luật phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí....
Về hình thức, xác định hưởng ứng Ngày Pháp luật là việc làm hàng ngày, thường xuyên của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người dân. Các cơ quan, đơn vị chủ động lựa chọn hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật phù hợp, thiết thực, hiệu quả, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.
Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp hướng dẫn tổ chức Ngày Pháp luật năm 2018, kịp thời phát hiện những vướng mắc, bất cập và có giải pháp tháo gỡ kịp thời; đôn đốc, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; biên soạn tài liệu về Ngày Pháp luật năm 2018 cung cấp cho các ngành, địa phương tham khảo, sử dụng... 
II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
Nghị quyết số 102/NQ-CP, ngày 03/8/2018 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), có hiệu lực thi hành từ ngày 03/8/2018. Theo đó, Nghị quyết nêu rõ các nguyên tắc, tiêu chí và phương pháp xây dựng chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH, cụ thể là:
Về nguyên tắc: (1) Ủy ban nhân dân các cấp căn cứ các tiêu chí, phương pháp xây dựng chỉ tiêu tại Mục III để xây dựng chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tại địa phương và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp đưa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, đồng thời xây dựng kế hoạch để thực hiện chỉ tiêu đã đề ra, trong đó phân tích, đánh giá tính khả thi và giải pháp thực hiện chỉ tiêu cho giai đoạn 2019 - 2020; (2) Hằng năm, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo về việc xây dựng chỉ tiêu, kế hoạch và tình hình thực hiện chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; (3) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiến hành tổng kết, đánh giá việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội giai đoạn 2019 - 2020 và đề xuất Chính phủ quyết định giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội cho giai đoạn từ năm 2021 trở đi đối với từng địa phương cho phù hợp.
Tiêu chí và phương pháp:
Bước 1: Xác định các tiêu chí: Các địa phương trên cơ sở kết quả tình hình thực hiện 06 tháng đầu năm, đồng thời ước thực hiện cả năm hiện hành để làm cơ sở tiến hành dự báo, xác định số liệu cho năm tiếp theo, bao gồm:
(1) Xác định đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội trong lực lượng lao động tại địa phương (bao gồm đối tượng thuộc diện phải đăng ký thường trú, tạm trú tại địa phương); (2) Xác định đối tượng đang tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp tại địa phương: Xác định đối tượng đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội tự nguyện do cơ quan bảo hiểm xã hội đang quản lý; (3) Xác định các đối tượng tiềm năng cần khai thác: Dựa trên số đối tượng thuộc diện tham gia, số đang tham gia đã xác định ở trên để tính toán số đối tượng tiềm năng cần khai thác trong thời gian tới…
Bước 2: Xác định chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tại địa phương: Trên cơ sở số liệu đối tượng tiềm năng phân loại theo nhóm nêu trên, căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội những năm tiếp theo, các địa phương xây dựng chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp năm 2019 và năm 2020; đồng thời xây dựng kế hoạch để thực hiện chỉ tiêu đã đề ra, trong đó phân tích, đánh giá tính khả thi và giải pháp thực hiện chỉ tiêu.
Chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đề xuất của các địa phương phải đảm bảo: Đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp: tỷ lệ tổng số lao động tham gia chiếm ít nhất là 90% số đối tượng thuộc diện tham gia vào cuối năm 2019 và chiếm ít nhất là 95% vào cuối năm 2020. Đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện: tốc độ gia tăng đối tượng tham gia của năm sau so với năm trước ít nhất bằng 30% - 50% so với năm trước.
 
_________
 
Nguyễn Phi Em thực hiện
 

[1] Kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9); Ngày hội “Toàn dân đưa trẻ đến trường” (5/9); Kỷ niệm 56 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Lào (5/9/1962 - 5/9/2018); 116 năm Ngày sinh đồng chí Lê Hồng Phong (06/9/1902- 06/9/2018); 63 năm Ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955- 10/9/2018); 88 năm phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh (12/9/1930 - 12/9/2018); 41 năm Ngày Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc (20/9/1977-20/9/2018); 73 năm Ngày Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945-23/9/2018)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

HƯỚNG DẪN VÀ TÀI LIỆU

tuyên truyền kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam

Lượt xem:5 | lượt tải:2

CT.01.TU

về học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020-2025

Lượt xem:28 | lượt tải:19

KH.02.BTGTU

tổ chức nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị; thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW và tăng cường tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng và lịch sử đảng bộ địa phương năm 2021

Lượt xem:65 | lượt tải:67

CV.25.BTGTU

tăng cường tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết

Lượt xem:169 | lượt tải:46

TÀI LIỆU

giao ban báo chí quý III năm 2020

Lượt xem:119 | lượt tải:62

HD.01.BTGTU

công bố, thảo luận, lấy ý kiến của Nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Lượt xem:259 | lượt tải:75

CV.3196.BTGTU

Hướng dẫn và Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tố Hữu

Lượt xem:356 | lượt tải:107
truongsa
dh 1
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao
Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập31
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm30
  • Hôm nay6,060
  • Tháng hiện tại257,230
  • Tổng lượt truy cập8,235,653
covid dh 13
     Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
   
 - Giấy phép số 03/GP- TTĐT, ngày 21 tháng 9 năm 2015
     - Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum, số 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum, tỉnh Kon Tum
     - Người chịu trách nhiệm chính: Ông Huỳnh Quốc Huy, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
     - Điện thoại: 0260.3862301. Fax: 0260. 3865464. Email: bantuyengiaotinhuykt@gmail.com; phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây