Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 07-2018 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 07-2018

Thứ năm - 28/06/2018 02:33
A. NỘI DUNG TRỌNG TÂM SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 07-2018
- Lãnh đạo tuyên truyền, phản ánh kịp thời các hoạt động tiếp xúc cử tri sau Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV; Kỳ họp lần thứ 6, Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XI. Việc tổ chức quán triệt, triển khai các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII), trong đó làm rõ  những quyết sách hệ trọng mà Trung ương thông qua tại Hội nghị là nền tảng  chính trị để đất nước phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế thành công.
Tuyên truyền nhằm đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới theo Hướng dẫn số 41-HD/BTGTU, ngày 20-6-2018 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.
Tuyên truyền các ngày lễ lớn, ngày kỷ niệm diễn ra trong tháng 7[1]. Đẩy mạnh tuyên truyền các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2018); 41 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam- Lào (18/7/1977 - 18/7/2018).
- Ngoài ra, tuyên truyền kết quả sau 2 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị, những tập thể, cá nhân điển hình trong học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ kinh tế- xã hội tháng 7 và những tháng còn lại của năm 2018. 
Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại gắn với tuyên truyền về xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ trên địa bàn tỉnh; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; phê phán, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta; chủ động đấu tranh những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để kích động về công tác cán bộ của Đảng. 
Thường xuyên tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh, các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm; công tác quản lý bảo vệ tài nguyên, khoáng sản; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông...
B. THÔNG TIN THỜI SỰ
I. THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1: Hướng dẫn học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII
Ngày 28-5-2018, Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Hướng dẫn học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng. Nội dung cụ thể sau:
I. Mục đích, yêu cầu
1. Mục đích: (a) Giúp các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo xây dựng chương trình hành động, kế hoạch tổ chức triển khai học tập, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XIIcủa Đảng. (b) Giúp cán bộ, đảng viên nắm vững, hiểu rõ những nội dung cơ bản, cốt lõi của các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, khoá XII của Đảng.
2. Yêu cầu: (a) Tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết nghiêm túc, hiệu quả, thiết thực, theo tinh thần đổi mới, đúng đối tượng. Khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin vào việc tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết. (b) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức khác nhau tới đông đảo quần chúng nhân dân những nội dung cơ bản, cốt lõi của các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng; góp phần đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, nhận thức lệch lạc. (c) Việc thảo luận, thông qua chương trình hành động của địa phương, đơn vị thực hiện nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng cần tập trung vào những nhiệm vụ, giải pháp, mục tiêu, chỉ tiêu phù hợp, sát với địa phương, đơn vị, tránh hình thức, chiếu lệ. (d) Chú trọng tới công tác đôn đốc, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết kịp thời việc học tập, quán triệt cũng như việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng.
II. Kế hoạch thực hiện
1. Nội dung học tập, quán triệt: Tập trung, làm rõ quan điểm, mục tiêu, những điểm mới, các nhiệm vụ giải pháp đột phá, nội dung cốt lõi trong nghị quyết về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; nghị quyết về“Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”; Nghị quyết về “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”.
2. Hội nghị cán bộ toàn quốc: (a) Ban Bí thư Trung ương Đảng trực tiếp chủ trì và chỉ đạo Hội nghị cán bộ toàn quốc học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết Trung ương 7, khóa XII của Đảng. (b) Hội nghị theo hình thức trực tuyến. Thời gian dự kiến tổ chức: 25/6/2018. (c) Tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chuẩn bị các điều kiện vật chất, hội trường để kết nối đường truyền và tổ chức trực tuyến tới cấp huyện, cơ sở (nếu có điều kiện).
3. Hội nghị của cấp ủy các cấp:
3.1. Hình thức, thời lượng
+ Cấp tỉnh và tương đương: Tham gia Hội nghị trực tuyến của Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức. Sau Hội nghị trực tuyến, dành thêm 01 buổi thảo luận và thông qua chương trình hành động. Sau đó nghiên cứu tài liệu, viết thu hoạch.
+ Cấp huyện và tương đương: Tùy theo điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị để tổ chức hội nghị học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết Trung ương 7, khóa XII của Đảng bằng hình thức do cấp ủy cấp tỉnh quyết định (trực tiếp, trực tuyến hay truyền hình trực tiếp).
Tổ chức học tập, quán triệt tại hội trường với thời lượng 01 ngày, trong đó có 01 buổi nghiên cứu, thảo luận, thông qua chương trình hành động. Sau đó tiếp tục nghiên cứu tài liệu, viết thu hoạch.
+ Cấp cơ sở: Tổ chức học tập tại hội trường về các nghị quyết trên với thời lượng như đối với cấp huyện.
3.2. Đối với các địa phương có đông đảng viên là người dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng sâu, vùng xa; địa phương có đông đảng viên là công nhân lao động tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… cấp ủy các cấp cần tổ chức việc học tập, quán triệt các nghị quyết với hình thức và thời lượng phù hợp điều kiện, đặc thù của từng đối tượng cụ thể.
3.3. Thành phần, thời hạn hoàn thành
- Đối với cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương
+ Thành phần: Các đồng chí ủy viên ban chấp hành, lãnh đạo chủ chốt các sở, ban, ngành, đơn vị trên địa bàn và một số đối tượng khác do cấp ủy tổ chức hội nghị quyết định.
+ Thời hạn hoàn thành: Trước 20/7/2018.
- Đối với các đảng ủy cơ sở tổ chức
Thành phần: Toàn thể cán bộ, đảng viên của đảng bộ cơ sở.
+ Thời hạn hoàn thành: Cuối tháng 7/2018.
3.4. Đối với các đảng ủy trực thuộc Trung ương: Khuyến khích việc kết nối trực tuyến với điểm cầu Trung ương tới cấp cơ sở.
Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, căn cứ điều kiện, nhiệm vụ chính trị và đặc thù của lực lượng vũ trang, xây dựng kế hoạch và triển khai trong toàn lực lượng. Chú ý, quán triệt bổ sung một số nội dung liên quan đến lĩnh vực quốc phòng, an ninh cho cán bộ, chiến sỹ.
4. Báo cáo viên: (a) Ban Thường vụ cấp ủy chủ trì và chịu trách nhiệm đối với việc học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết Trung ương 7, khóa XII của Đảng tại địa phương, đơn vị. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chủ động tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ báo cáo viên cho cơ sở về nghị quyết. (b) Báo cáo viên là đồng chí bí thư cấp ủy, các đồng chí cấp ủy viên, hoặc những đồng chí có trong danh sách báo cáo viên, đã được nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết tại các hội nghị do Trung ương, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương tổ chức và là chuyên gia am hiểu sâu về các lĩnh vực: công tác cán bộ, chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội.
5. Xây dựng chương trình, kế hoạch hành động: (a) Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương xây dựng chương trình, kế hoạch hành động, đề án để thực hiện các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng với lộ trình và phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện phù hợp với điều kiện cụ thể của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, đơn vị. (b) Cấp ủy cấp huyện và cấp cơ sở, tổ chức đảng chọn một số nội dung cụ thể, liên quan trực tiếp tới địa phương, đơn vị để xây dựng chương trình hành động của tập thể, trên cơ sở bám sát, cụ thể hóa chương trình hành động của cấp tỉnh. (c) Các cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch cụ thể hóa chương trình hành động của cấp ủy, tổ chức đảng để thực hiện, gắn với những chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. (d) Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch cá nhân thực hiện các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng phù hợp với chức trách, nhiệm vụ được giao; thể hiện quyết tâm, tinh thần đổi mới, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. (đ) Chương trình, kế hoạch hành động được thảo luận dân chủ trong ban thường vụ cấp ủy và thông qua tại hội nghị cán bộ chủ chốt.
6. Viết thu hoạch cá nhân: (a) Nội dung thu hoạch tập trung thể hiện nhận thức cá nhân về thực trạng (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân), những điểm mới, quan điểm, mục tiêu, giải pháp trong các nghị quyết của Trung ương 7, khóa XII của Đảng; liên hệ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân. Chú ý đề xuất, kiến nghị về các biện pháp thực hiện ở ngành, địa phương, đơn vị và trách nhiệm cụ thể của cá nhân. Bí thư, cấp ủy các cấp trực tiếp chỉ đạo, đảm bảo việc viết thu hoạch thiết thực, hiệu quả. (b) Đối với đảng viên đã nghỉ công tác trong các cơ quan của hệ thống chính trị, đảng viên không đủ sức khỏe lao động, không bắt buộc viết thu hoạch cá nhân, khuyến khích tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến trong sinh hoạt chi bộ định kỳ. Đối với những đảng viên được miễn sinh hoạt đảng thì không phải viết bài thu hoạch cá nhân. (c) Việc tham gia học tập, quán triệt nghị quyết và viết thu hoạch cá nhân được coi là một căn cứ đánh giá, phân loại, bình xét thi đua cuối năm của các cơ quan, đơn vị.
7. Tài liệu Hội nghị: (a) Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn các loại tài liệu: Tài liệu nghiên cứu; tài liệu học tập; tài liệu hỏi - đáp. (b) Căn cứ vào tài liệu do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn, các địa phương, ngành chủ động biên soạn các tài liệu phù hợp với điều kiện, đặc điểm của địa phương, đơn vị mình trên cơ sở đảm bảo nội dung cơ bản, cốt lõi và những điểm mới của các nghị quyết Trung ương 7, khóa XII của Đảng, trong đó chú trọng biên soạn các tài liệu phù hợp với đối tượng là đảng viên người dân tộc thiểu số, ở vùng sâu, vùng xa, đảng viên là công nhân lao động tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
8. Kinh phí và các điều kiện khác: (a) Kinh phí tổ chức hội nghị lấy từ nguồn kinh phí phục vụ việc học tập, quán triệt các nghị quyết Hội nghị Trung ương trong kế hoạch hằng năm. (b) Trong các hội nghị học tập, quán triệt, người học được cung cấp tài liệu trước.
III. Phổ biến, tuyên truyền và kiểm tra, đôn đốc
1. Phổ biến, tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân: (a) Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo và tổ chức phổ biến, tuyên truyền rộng rãi các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng trong nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng với các hình thức tuyên truyền đa dạng, phù hợp, thường xuyên, liên tục. (b) Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo và phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng tổ chức phổ biến, tuyên truyền nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng cho đoàn viên, hội viên.
2. Về công tác kiểm tra, đôn đốc: (a) Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc học tập, quán triệt nghị quyết và việc xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết. (b) Ban tuyên giáo cấp ủy tham mưu xây dựng kế hoạch kiểm tra việc học tập, quán triệt nghị quyết; phối hợp với văn phòng, ban tổ chức cấp ủy và các cơ quan liên quan tham mưu cho cấp ủy xây dựng và thực hiện chương trình hành động thực hiện nghị quyết.
IV. Tổ chức thực hiện: (1) Ban tuyên giáo, văn phòng cấp ủy tham mưu cho cấp ủy tổ chức khẩn trương, nghiêm túc, hiệu quả việc học tập, quán triệt và xây dựng chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng; tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân. (2) Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương gửi báo cáo về kết quả học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng về Ban Tuyên giáo Trung ương để tổng hợp báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư (trong Quí III/2018). (3) Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ tiến hành giám sát, kiểm tra việc tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết tại một số địa phương, đơn vị khi có điều kiện.
Chuyên đề 2: Hướng dẫn bồi dưỡng chính trị hè năm 2018
Ngày 14-6-2018, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 40-HD/BTGTU về hướng dẫn bồi dưỡng chính trị hè 2018. Nội dung cụ thể sau:
I. Mục đích nhằm bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, các trường mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh nắm vững những nội dung cơ bản,  quan điểm của Đảng trong các nghị quyết được thông qua tại Hội nghị lần thứ sáu và lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII; những vấn đề mới cần quan tâm trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước, của tỉnh; các vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ hằng năm theo kế hoạch, nhiệm vụ của năm học 2018- 2019, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trên cơ sở đó vận dụng sáng tạo, phù hợp vào công tác giảng dạy.
Hướng dẫn yêu cầu nội dung học tập, bồi dưỡng được thực hiện ở tất cả các cấp học, bậc học, đảm bảo thiết thực, cập nhật được các thông tin, kiến thức mới, phù hợp với các đối tượng, phục vụ cho công tác quản lý và giảng dạy tại các cơ sở giáo dục.
II. Nội dung bồi dưỡng bao gồm các vấn đề: (1) Những vấn đề lý luận cơ bản, cốt lõi trong các nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu và Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. (2) Tình hình quốc tế, trong nước và trong tỉnh nổi bật trong sáu tháng đầu năm 2018. Một số kết quả nổi bật sau nửa nhiệm kỳ thực hiện nghị quyết đại hội đảng các cấp; phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của đảng bộ địa phương trong nửa nhiệm kỳ tới. (3) Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2018 về xây dựng phong cách, tác phong công tác của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên. (4) Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân theo tinh thần triển khai Kết luận 94-KL/TW, ngày 28-3-2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng. (5) Các nội dung về chuyên môn, nghiệp vụ hàng năm theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
III. Về tài liệu học tập: (1) Các tài liệu do Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành năm 2017, 2018 gồm: Tài liệu nghiên cứu, tài liệu học tập các văn kiện Hội nghị lần thứ sáu và lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn. (2) Các tài liệu bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ do Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các tài liệu khác do cấp ủy địa phương cung cấp theo yêu cầu nội dung bồi dưỡng.
IV. Về phương thức tiến hành: Nghe báo cáo và trao đổi, thảo luận, viết thu hoạch, liên hệ với nội dung, nhiệm vụ giảng dạy.
V. Về đối tượng và trách nhiệm bồi dưỡng:
1. Đối tượng bồi dưỡng: Bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên thuộc Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, các trường mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên các huyện, thành phố.
2. Trách nhiệm bồi dưỡng: (1) Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cung cấp tài liệu liên quan. (2) Sở Giáo dục và Đào tạo phân công các đồng chí trong Ban Giám đốc Sở tổ chức học tập, nghiên cứu các nội dung tại mục II.1 của Hướng dẫn này cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên trực tiếp giảng dạy lý luận chính trị trong Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, các trường mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên các huyện, thành phố. (3) Căn cứ vào các nội dung tại mục II.1 của Hướng dẫn này, ban tuyên giáo các huyện ủy, thành ủy phối hợp với phòng giáo dục - đào tạo tham mưu cấp ủy chỉ đạo và tổ chức bồi dưỡng chính trị hè năm 2018 cho đội ngũ giáo viên các trường mầm non, phổ thông và trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên địa bàn.
II. TIN TRONG TỈNH
1. Ngày 11-6, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV) tổ chức Hội nghị lần thứ 11. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì Hội nghị.
Hội nghị tập trung thảo luận, cho ý kiến đối với Báo cáo đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Báo cáo tổng kết thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30-5-2014 của Bộ Chính trị khóa XI về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 02-2-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” và thực hiện một số nội dung về công tác cán bộ.
Sau giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thống nhất đánh giá: Các mặt công tác của tỉnh đều có sự chuyển biến và đạt được nhiều kết quả tích cực. Đa số các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đề ra có khả năng đạt; một số chỉ tiêu quan trọng như: tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2015-2020, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân, độ che phủ rừng, số lượng đảng viên được kết nạp mới... có khả năng đạt và vượt; tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm luôn duy trì ở mức khá; văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hoạt động đối ngoại được tăng cường; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Tuy nhiên, vẫn còn một số chỉ tiêu quan trọng của Nghị quyết dự kiến sẽ không đạt như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn... Kinh tế tăng trưởng chưa vững chắc. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, tài nguyên khoáng sản có lúc, có nơi chưa tốt. Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh còn thấp. Công tác đào tạo nghề hiệu quả chưa cao. Tình trạng khiếu kiện, tranh chấp, lấn chiếm đất đai và bồi thường, giải phóng mặt bằng có lúc diễn biến phức tạp. Công tác vận động quần chúng còn lúng túng...
Về các báo cáo tổng kết thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị và tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Hội nghị thống nhất đánh giá: Cấp ủy Đảng các cấp đã làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị và tổ chức đại hội Đảng các cấp; chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 22 với nhiều giải pháp đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn địa phương, cơ quan, đơn vị; công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường, kịp thời giải quyết những vấn đề vướng mắc nảy sinh từ cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ, đảng viên...
Phát biểu bế mạc Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng đề nghị các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh phát huy tinh thần trách nhiệm, lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ; đồng thời khẩn trương rà soát các mục tiêu, nhiệm vụ mà ngành mình, cấp mình đã đề ra; xác định cho được những công việc trọng tâm, bức xúc của địa phương, đơn vị cần tập trung triển khai thực hiện trong từng năm, từng quý và thời gian hoàn thành, nguồn lực đảm bảo để tổ chức thực hiện một cách quyết liệt, phấn đấu đạt mục tiêu đề ra ở mức cao nhất, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2018 và của cả nhiệm kỳ Đại hội XV Đảng bộ tỉnh.
2. Sáng 31-5, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN tỉnh tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc và biểu dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Trong diễn văn khai mạc Lễ kỷ niệm, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa khẳng định, thực hiện lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại tỉnh Kon Tum, cùng với đồng bào cả nước, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, quân dân Kon Tum đã một lòng đi theo cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã anh dũng đấu tranh, góp phần làm thất bại các chiến lược chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Sau khi giải phóng tỉnh Kon Tum và đặc biệt là từ khi thành lập lại tỉnh  đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, sự nỗ lực vươn lên của đồng bào, sự hỗ trợ, sẻ chia của Trung ương và hợp tác của tỉnh bạn, tiềm năng và lợi thế của Kon Tum ngày càng được phát huy, tạo nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội. Với sự phát triển không ngừng trên các lĩnh vực, kinh tế – xã hội, tỉnh Kon Tum có những tiến bộ vượt bậc và đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Trong thời gian qua, mặc dù còn rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Kon Tum đã ra sức xây dựng, thực hiện và phát triển các phong trào thi đua yêu nước một cách sôi nổi, liên tục, rộng khắp với nhiều hình thức đa dạng, phong phú… Nhiều phong trào thi đua được duy trì, phát triển và thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, đã phát huy tác dụng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó nổi bật là các phong trào như: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Thi đua quyết thắng”, “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng”…, đặc biệt là thi đua trong việc triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức, hành động của toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, qua đó đã huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc trên địa bàn trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đã đề ra.
Từ phong trào thi đua ái quốc, tỉnh Kon Tum vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng trong kháng chiến, Huân chương Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là sự ghi nhận thành quả to lớn qua các thời kỳ lịch sử, nói lên tinh thần thi đua yêu nước của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà.
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa khẳng định, kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2018) là dịp để tôn vinh các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua, trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; rút ra những bài học kinh nghiệm về đổi mới nội dung và hình thức tổ chức phong trào thi đua, các giải pháp, những cách làm sáng tạo trong việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác; tìm ra những kinh nghiệm xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, nhằm tiếp tục khơi dậy và phát huy mạnh mẽ các phong trào thi đua sâu rộng trong toàn tỉnh.
Tại buổi Lễ, Ban tổ chức đã trao truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt nam anh hùng” cho thân nhân 5 mẹ Việt Nam anh hùng; tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba cho 10 cá nhân; tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ  cho 1 tập thể, 1 cá nhân 1 đã có nhiều đóng góp trong các hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Kon Tum, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho 7 cá nhân đã có thành tích trong công tác từ năm 2012 đến năm 2017, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Nhân dịp này, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng đã trao Thư khen và Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen cho 14 tập, 28 cá nhân trong việc Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh. UBND tỉnh tặng Bằng Khen cho 25 cá nhân có thành tích trong lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh.
3. Chiều 27-6 tại TP.Kon Tum, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị giao ban công tác Tuyên giáo 6 tháng đầu năm cụm miền Trung - Tây Nguyên.
Đồng chí Võ Văn Phuông - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương và đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đồng chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có đồng chí Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo, các vụ, đơn vị thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương; lãnh đạo Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành miền Trung - Tây Nguyên.
Báo cáo tại Hội nghị đánh giá, trong 6 tháng đầu năm, Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên đã bám sát định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tỉnh ủy, thành ủy thực hiện tốt nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch đã đề ra.
Đặc biệt, đã tập trung làm tốt việc tổ chức học tập, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), thông báo nhanh kết quả và chuẩn bị các điều kiện tổ chức học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII). Đã tham mưu cấp ủy chỉ đạo sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); chủ động tham mưu, hướng dẫn tuyên truyền đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương, nhất là Hội nghị Trung ương 6, Trung ương 7 khóa XII, Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV; tuyên truyền sâu rộng các sự kiện quan trọng của đất nước và địa phương; chủ động theo dõi nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, kịp thời phản ánh và định hướng dư luận trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm; chủ động đấu tranh, tổ chức triển khai các biện pháp, hình thức đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, nhất là phản bác những thông tin xấu độc trên Internet nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Công tác giáo dục lý luận chính trị có nhiều đổi mới, hiệu quả; hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi cấp tỉnh, thành phố năm 2018 được nhiều địa phương tổ chức có chất lượng; công tác văn hóa, văn nghệ đạt nhiều kết quả tích cực…Tổ chức bộ máy Ban Tuyên giáo các cấp tại miền Trung- Tây Nguyên được củng cố, kiện toàn. Đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo các cấp tiếp tục được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng.
Về nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm, Hội nghị xác định 9 nhóm nhiệm vụ. Trong đó, tiếp tục chủ động tham mưu cấp ủy chỉ đạo tổ chức hội nghị học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, Trung ương 8 khóa XII bảo đảm nghiêm túc, chất lượng; chỉ đạo tuyên truyền kết quả giữa nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2015-2020; tiếp tục tuyên truyền có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, trọng tâm là việc thực hiện chuyên đề năm 2018 về xây dựng phong cách, tác phong công tác của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tuyên truyền nhân rộng mô hình, gương người tốt, việc tốt, điển hình trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW....
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Võ Văn Phuông đã ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực và kết quả của Ban Tuyên giáo các địa phương khu vực miền Trung- Tây Nguyên trong thời gian qua. Về nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2018, đồng chí Võ Văn Phuông thống nhất với các nhóm nhiệm vụ trọng tâm mà Hội nghị nêu ra, đồng thời nhấn mạnh một số nội dung nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên giáo trong thời gian tới.
Trong đó, đồng chí lưu ý Ban Tuyên giáo các địa phương cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, nội dung công tác tuyên giáo; tham mưu giúp cấp ủy chỉ đạo triển khai tuyên truyền và thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII); tích cực tham mưu, tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và cấp ủy địa phương liên quan đến các lĩnh vực tuyên giáo, khoa giáo, văn hóa, văn nghệ…; tăng cường tham mưu cấp ủy thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị gắn với kiểm tra, đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh thường xuyên vào sinh hoạt chi bộ, trở thành việc làm tự giác, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; tham mưu cấp ủy chỉ đạo, nâng cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên và nhân rộng các điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực qua việc học tập và làm theo Bác. Tăng cường tham mưu giúp cấp ủy triển khai, thực hiện Chỉ thị 23-CT/TW của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”….
Đồng thời với các nhiệm vụ trên, cần tập trung tuyên truyền nhằm tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận và ủng hộ của các tầng lớp nhân dân đối với việc trình và thông qua dự án Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV sắp tới. Tăng cường chỉ đạo, định hướng các cơ quan truyền thông, báo chí, cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động gây rối, chống phá, ngăn cản về việc thông qua dự án Luật đơn vị hành chính- kinh tế….
4. Chiều 21-6, Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Lễ kỷ niệm 93 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2018) và kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Hội Nhà báo tỉnh (15/6/1993 – 15/6/2018).
Dự lễ kỷ niệm có các đồng chí: A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; Lê Thị Kim Đơn - Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Lại Xuân Lâm - Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện các sở, ban, ngành cùng toàn thể đội ngũ những người đã và đang công tác trong lĩnh vực báo chí trên địa bàn tỉnh.
Tại lễ kỷ niệm, các hội viên cùng ôn lại truyền thống 93 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, 25 năm ngày thành lập Hội Nhà báo tỉnh.
Với những thành tích nổi bật, Hội Nhà báo tỉnh được Hội Nhà báo Việt Nam tặng cờ thi đua Tập thể hội xuất sắc các năm 2012, 2015; tặng Bằng khen cho tập thể hội về thành tích xuất sắc trong nghiệp vụ và xây dựng Hội năm 2011, 2013, 2014. Hội cũng được UBND tỉnh tặng cờ, bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác Hội.
Tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo tỉnh, đồng chí A Pớt ghi nhận, biểu dương sự nỗ lực của các cơ quan báo chí, Hội Nhà báo tỉnh trong thời gian qua. Đồng chí tặng hoa, chúc những người làm báo sức khỏe, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Dịp này, UBND tỉnh đã trao Bằng khen cho Hội Nhà báo tỉnh do có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua năm 2017; khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong tham gia Hội Báo Xuân toàn quốc năm 2018.
* Trước đó, nhân Kỷ niệm 93 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2018), Thường trực Tỉnh ủy - HĐND – UBND - UBMTTQ Việt Nam tỉnh, gồm các đồng chí: A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy; Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Nguyễn Thế Hải - Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Trần Thị Nga - Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Bùi Duy Chung - Phó Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh đã đến chúc mừng cán bộ, phóng viên, biên tập viên đang công tác tại Hội Nhà báo tỉnh, Báo Kon Tum, Đài PT-TH tỉnh.
* Sáng cùng ngày, đồng chí Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã đến thăm và chúc mừng các cơ quan, phóng viên thường trú của Báo Nhân Dân, Phân xã TTXVN, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam.​
5. Một số hoạt động phong trào nổi bật trong tháng:
5.1. Sáng 5-6 tại Sân vận động tỉnh, UBND tỉnh tổ chức Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới 5/6 năm 2018.
Phát biểu tại Lễ phát động, đồng chí Nguyễn Văn Hòa- Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh kêu gọi các cấp, ngành tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến hệ thống chính sách pháp luật quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tới toàn thể nhân dân; đẩy mạnh xã hội hóa về công tác bảo vệ môi trường; hoàn thiện các cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường...
5.2. Sáng 31-5, Ban Chỉ đạo Phòng chống tác hại của thuốc lá tỉnh tổ chức Lễ phát động thực hiện môi trường không thuốc lá.
Lễ phát động đã kêu gọi các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, các bệnh viện, nhà hàng, khách sạn, cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh chung tay thực hiện hiệu quả Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá; hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia không khói thuốc và Ngày Thế giới không thuốc lá bằng những hành động thiết thực, phù hợp như không kinh doanh, vận chuyển, mua bán các sản phẩm thuốc lá lậu, thuốc lá không rõ nguồn gốc; nghiêm cấm việc mua bán, quảng cáo các sản phẩm thuốc lá trong khuôn viên cơ quan, đơn vị, trường học; đưa nội dung không hút thuốc lá vào tiêu chí thi đua, đánh giá công chức, viên chức và người lao động tại cơ quan, đơn vị, trường học; tuyên truyền vận động người thân trong gia đình từ bỏ thuốc lá; không hút thuốc ở những nơi có quy định cấm hút thuốc; chủ động lên tiếng nhắc nhở những người hút thuốc không đúng nơi quy định để bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân và những người xung quanh.
5.3. Sáng 01-6 tại huyện Kon Plông, Tỉnh đoàn tổ chức Lễ ra quân chiến dịch thanh niên tình nguyện hè 2018 với chủ đề “Tuổi trẻ Kon Tum sáng tạo, tình nguyện vì cộng đồng”.
Chiến dịch diễn ra trong 2 tháng, từ nay đến hết tháng 8/2018, tại các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới của tỉnh, với hàng nghìn đoàn viên thanh niên địa phương cùng lực lượng của Tỉnh đoàn Đồng Nai và Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh tham gia. Chiến dịch tập trung vào việc sửa chữa, làm mới đường giao thông nông thôn; chuyển giao khoa học kỹ thuật, kiến thức khởi nghiệp cho thanh niên nông thôn; chung tay bảo vệ môi trường; xây dựng nhà nhân ái, điểm trường cho em; giúp xã xây dựng đạt chuẩn một số tiêu chí nông thôn mới…
5.4. Sáng 14-6, Ban Chỉ đạo hiến máu tình nguyện tỉnh tổ chức Lễ tôn vinh những người hiến máu tình nguyện tiêu biểu năm 2018 nhân Ngày Thế giới tôn vinh người hiến máu, với sự tham dự của 205 tập thể, cá nhân và gia đình tiêu biểu trong phong trào hiến máu tình nguyện của tỉnh.
Những năm qua, phong trào hiến máu tình nguyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, trở thành hoạt động sâu rộng, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, cơ quan, đoàn thể trên địa bàn tỉnh tham gia hưởng ứng. Số lượng máu thu được năm sau luôn cao hơn năm trước. Riêng 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã tổ chức 13 đợt thu nhận máu tập trung, tiếp nhận gần 2.000 đơn vị máu, trong đó hơn 1.500 đơn vị từ nguồn hiến máu tình nguyện, đạt gần 50% kế hoạch năm.
Nhân dịp này, UBND tỉnh tặng Bằng khen 1 gia đình và 4 cá nhân tiêu biểu; Ban Chỉ đạo hiến máu tình nguyện tỉnh và Hội Chữ Thập đỏ tỉnh tặng Giấy khen cho 200 tập thể, gia đình và cá nhân đã tình nguyện hiến máu 5 lần trở lên.
III. TIN TRONG NƯỚC
1. Một số nội dung quan trọng của Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV
Sau 21 ngày làm việc với tinh thần dân chủ, nghiêm túc và trách nhiệm, Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV đã hoàn thành chương trình làm việc với nhiều nội dung quan trọng:
(1) Quốc hội đã thảo luận đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2017 và tình hình thực hiện kế hoạch những tháng đầu năm 2018. Thông qua Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2016, trong đó, yêu cầu Chính phủ tăng cường chỉ đạo, có giải pháp tích cực để khắc phục những hạn chế, siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính, xử lý nghiêm, kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tăng cường quản lý vốn đầu tư, nợ công và bội chi ngân sách, bảo đảm an toàn nền tài chính quốc gia.
(2) Trên cơ sở thảo luận, xem xét toàn diện, kỹ lưỡng, Quốc hội đã thông qua 07 luật để tiếp tục thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phát triển kinh tế, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh; cho ý kiến về 09 dự án luật khác, làm cơ sở để các cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra tiếp tục nghiên cứu chỉnh lý, hoàn thiện trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới. Các dự án luật được xem xét, cho ý kiến, thông qua tại kỳ họp đã được các vị đại biểu Quốc hội thảo luận, tranh luận thẳng thắn, có trách nhiệm, trí tuệ, tâm huyết, thể hiện chính kiến rõ ràng và quyết định thông qua với tỷ lệ tán thành cao. Đối với Dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, trên cơ sở nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, các tầng lớp Nhân dân và cử tri, sau khi cân nhắc nhiều mặt, Quốc hội đã quyết định điều chỉnh thời gian thông qua dự án Luật này từ kỳ họp thứ 5 sang kỳ họp sau để có thêm thời gian nghiên cứu, hoàn thiện, bảo đảm chất lượng, tính khả thi của Dự án Luật này.
(3) Quốc hội đã thảo luận, thông qua Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018; đồng thời, yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đề cao trách nhiệm trong việc chuẩn bị các dự án, đảm bảo tiến độ, chất lượng, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm không hoàn thành Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để báo cáo Quốc hội.
Quốc hội cũng đã thảo luận, thông qua Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2019, Nghị quyết thành lập đoàn giám sát tối cao của Quốc hội về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến hết năm 2018” và “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy giai đoạn 2014 - 2018”. Quốc hội yêu cầu các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội căn cứ các nghị quyết nêu trên chủ động xây dựng, triển khai thực hiện chương trình hoạt động giám sát của mình. Trên cơ sở kết quả giám sát tối cao về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 - 2016”, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Đây là cơ sở quan trọng để Quốc hội tiếp tục giám sát nội dung này, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa XII của Đảng, tạo sự chuyển biến tích cực hơn trong việc cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới.
(4) Quốc hội cơ bản tán thành Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân; Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 4. Quốc hội đánh giá cao sự nỗ lực của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng, trưởng ngành trong giải quyết các kiến nghị của cử tri. Công tác này đã có sự thay đổi, chuyển biến rõ rệt về chất lượng giải quyết cũng như nội dung, số lượng các văn bản trả lời, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp. Quốc hội đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức hữu quan tiếp tục nâng cao chất lượng tổng hợp, giải quyết và giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri và Nhân dân; triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện kiến nghị nêu trong các báo cáo.
(5) Quốc hội đã tiến hành chất vấn 4 nhóm vấn đề đối với Bộ trưởng các bộ: Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo. Các Phó Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng, trưởng ngành khác đã tham gia báo cáo, giải trình rõ thêm những vấn đề liên quan đến nội dung chất vấn. Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã thay mặt Chính phủ báo cáo về một số vấn đề liên quan và trực tiếp trả lời chất vấn của đại biểu. Các nhóm vấn đề chất vấn được lựa chọn sát thực tế, là những vấn đề kinh tế - xã hội được cử tri và các đại biểu Quốc hội quan tâm. Đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi ngắn gọn, đúng trọng tâm, tích cực tranh luận; thành viên Chính phủ nắm chắc tình hình, trả lời thẳng thắn, rõ vấn đề, đưa ra các giải pháp thiết thực để khắc phục những hạn chế, bất cập. Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn, làm cơ sở để Quốc hội giám sát và Chính phủ, các bộ, ngành tổ chức thực hiện.
(6) Quốc hội biểu dương tinh thần yêu nước và sự quan tâm sâu sắc của Nhân dân đến các vấn đề quan trọng của đất nước; đồng thời, nghiêm khắc lên án những hành động lợi dụng dân chủ, xuyên tạc sự thật, kích động, quá khích, gây mất trật tự an ninh xã hội, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của Nhân dân, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo nắm chắc tình hình ở cơ sở, tăng cường công tác vận động quần chúng để không bị lôi kéo, lợi dụng, dẫn đến có hành vi vi phạm pháp luật; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
Quốc hội kêu gọi đồng bào, cử tri cả nước đoàn kết, thống nhất, hăng hái thi đua lao động sản xuất, sống và làm việc theo pháp luật, chung tay chung sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phồn vinh, thịnh vượng, nhân dân được hưởng cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc.
2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự trong thời gian tới
Ngày 16/6/2018, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 207-KH/BTGTW về công tác tuyên truyền góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự trong thời gian tới. Kế hoạch gồm 3 phần: Mục đích yêu cầu; nội dung, giải pháp tuyên truyền; tổ chức thực hiện. Trong đó có một số nội dung quan trọng, như:
- Tuyên truyền các mục tiêu, quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, nhân dân và sự đồng thuận xã hội trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước năm 2018 và cả nhiệm kỳ.
- Khái quát, quá trình chuẩn bị, sự cần thiết, nội dung chủ yếu của dự thảo Luật Đặc khu và Luật An ninh mạng; tuyên truyền giải thích làm rõ, dễ hiểu những vấn đề người dân còn băn khoăn, thắc mắc, những nội dung đang bị các thế lực thù địch, phản động lồng ghép thật giả, bịa đặt, xuyên tạc.
Tuyên truyền những nội dung liên quan đến Luật An ninh mạng và sự cần thiết ban hành Luật, mục đích, ý nghĩa của Luật, nhất là những vấn đề còn gây hiểu nhầm, bức xúc trong dư luận. Việc thông qua Luật An ninh mạng là nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đảm bảo tính hệ thống và phù hợp với từng thời kỳ; trong tuyên truyền chú ý cập nhật tư tưởng, quan điểm, chỉ đạo nhất quán của Đảng, Nhà nước về an ninh mạng.
Tuyên truyền những quan điểm chủ trương của Đảng, Nhà nước trong xây dựng các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt với mục tiêu cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, xây dựng thể chế đột phá, đủ sức cạnh tranh quốc tế, tạo động lực phát triển cho các đặc khu, lan tỏa đến các vùng kinh tế và cả nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia.
- Tuyên truyền để nhận diện được về các thông tin sai trái; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, vạch mặt các đối tượng đầu sỏ, trực tiếp móc nối, tổ chức biểu tình, bạo loạn; phê phán, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân lợi dụng, nhân danh lòng yêu nước để lôi kéo, kích động người dân vi phạm pháp luật.
- Tuyên truyền làm rõ những vấn đề liên quan tới yếu tố nước ngoài, làm rõ những nội dung phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng an ninh, quan hệ đối ngoại.
3. Một số nội dung cơ bản, ý nghĩa, tác dụng Luật An ninh mạng; định hướng công tác tuyên truyền trong thời gian tới
(1) Sự cần thiết phải ban hành Luật An ninh mạng
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, không gian mạng trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri thức. Sự phát triển bùng nổ của công nghệ mang tính đột phá như trí tuệ nhân tạo, Internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu lớn, hệ thống dữ liệu nhanh… đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng, được dự báo sẽ mang lại những lợi ích chưa từng có cho xã hội loài người nhưng cũng làm xuất hiện những nguy cơ tiềm ẩn vô cùng lớn. Nhiều quốc gia đã nhận thức rõ về những mối đe dọa đối với an ninh mạng, coi đây là thách thức mới, mối đe dọa mới có tầm quan trọng và nguy hiểm cao nên đã cụ thể hóa thành các văn bản chính sách, văn bản pháp luật như luật hoặc văn bản dưới luật tại hơn 80 quốc gia, tổ chức, liên minh quốc tế, như Mỹ, Anh, Đức, Hà Lan, Pháp, Ca-na-đa, Hàn Quốc, NATO… nhằm tạo ra các thiết chế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia từ không gian mạng; thành lập các lực lượng chuyên trách về an ninh mạng, tình báo mạng, chiến tranh mạng, phòng chống khủng bố mạng và tội phạm mạng. Chỉ trong vòng 06 năm trở lại đây, đã có 23 quốc gia trên thế giới ban hành trên 40 văn bản luật về an ninh mạng.
Ở nước ta, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin trong các lĩnh vực của đời sống đã góp phần to lớn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, phát huy sức sáng tạo và quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế về an ninh mạng cần khắc phục như: (i) Tiềm lực quốc gia về an ninh mạng của nước ta chưa đủ mạnh, chưa huy động, khai thác được sức mạnh tổng hợp để đối phó với các mối đe dọa trên không gian mạng. (ii) Không gian mạng và một số loại hình dịch vụ, ứng dụng công nghệ thông tin đang bị các thế lực thù địch, phản động sử dụng để thực hiện âm mưu tiến hành “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chế độ chính trị ở nước ta. Tình trạng đăng tải thông tin sai sự thật, làm nhục, vu khống tổ chức, cá nhân tràn lan trên không gian mạng nhưng chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu, dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc về nhân mạng, tinh thần, thậm chí ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. (iii) Ngày càng xuất hiện nhiều cuộc tấn công mạng với quy mô lớn, cường độ cao, gia tăng về tính chất nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Khủng bố mạng nổi lên như một thách thức đe dọa nghiêm trọng tới an ninh quốc gia. Hoạt động phạm tội trên không gian mạng ngày càng gia tăng về số vụ, thủ đoạn tinh vi gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, ảnh hưởng đến tư tưởng, văn hóa, xã hội. (iv) Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia chưa được xác định và bảo vệ bằng các biện pháp tương xứng. Do chưa xác định nội hàm sự cố an ninh mạng nên khi xảy ra các sự cố nguy hại, ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, việc triển khai hoạt động ứng phó, xử lý, khắc phục hậu quả của cơ quan chức năng có liên quan rất lúng túng, chưa có quy trình thống nhất, cơ quan có trách nhiệm bảo vệ an ninh mạng chưa thể chủ động triển khai các biện pháp, phương án phù hợp. (v) Tình hình lộ, lọt bí mật nhà nước qua không gian mạng rất đáng lo ngại, nhiều văn bản thuộc bí mật nhà nước bị đăng tải trên không gian mạng. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng trên là do nhận thức của các cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân về bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng còn hạn chế, ý thức trách nhiệm của nhiều cán bộ, nhân viên trong bảo mật thông tin trên không gian mạng còn chưa cao, chế tài xử phạt chưa đủ răn đe. (vi) Sự phụ thuộc vào thiết bị công nghệ thông tin có nguồn gốc từ nước ngoài. Không gian mạng đang ứng dụng sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tuy nhiên, sự phụ thuộc vào trang thiết bị công nghệ thông tin xuất xứ từ nước ngoài là mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh mạng nếu xảy ra xung đột. Để tránh bị tin tặc tấn công, thu thập thông tin, hoạt động tình báo, một số sản phẩm, dịch vụ mạng cần đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn nhất định, nhất là khi các sản phẩm, dịch vụ này được sử dụng trong hệ thống thông tin quan trọng và an ninh quốc gia, địa điểm cơ yếu, bảo mật, chứa đựng bí mật nhà nước. (vii) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an ninh mạng chưa được xây dựng, các văn bản hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng vi phạm pháp luật.
Thực trạng trên đã đặt đất nước ta trước những nguy cơ:
Một là, sự phát triển của mạng xã hội góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, song cũng tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động tác động, chuyển hóa chính trị, khủng bố.
Hai là, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đã và đang tạo ra những thành tựu khoa học công nghệ vượt trội, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng cũng được dự báo sẽ gây nên “thảm họa” nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Ba là, các thiết bị kết nối internet ngày càng phổ biến không chỉ mang lại những lợi ích to lớn cho cuộc sống con người, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh mà còn có thể bị sử dụng để tiến hành các cuộc tấn công mạng quy mô lớn.
Bốn là, các cuộc tấn công mạng có chủ đích (Advanced Peristent Threat - APT) không chỉ có thể phá hoại các mục tiêu, công trình quan trọng về an ninh quốc gia mà còn chiếm đoạt thông tin, tài liệu bí mật, chiếm đoạt để sử dụng các hệ thống dữ liệu lớn, dữ liệu nhanh phục vụ các ý đồ chính trị và hoạt động phạm tội.
Thực trạng, nguy cơ trên đã đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng và ban hành văn bản luật về an ninh mạng để phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
(2) Mục đích xây dựng Luật An ninh mạng
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý ổn định về an ninh mạng theo hướng áp dụng các quy định pháp luật một cách đồng bộ, khả thi trong thực tiễn thi hành.
- Phát huy các nguồn lực của đất nước để bảo đảm an ninh mạng, phát triển lĩnh vực an ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
- Bảo vệ chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên không gian mạng, xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh.
- Triển khai công tác an ninh mạng trên phạm vi toàn quốc, đẩy mạnh công tác giám sát, dự báo, ứng phó và diễn tập ứng phó sự cố an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; đảm bảo hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
- Nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng, hoàn thiện chính sách nghiên cứu, phát triển chiến lược, chia sẻ thông tin về an ninh mạng.
- Mở rộng hợp tác quốc tế về an ninh mạng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà nước ta tham gia ký kết.
(3) Nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng
Luật An ninh mạng gồm 07 chương, 43 điều, quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng; triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của Luật An ninh mạng. Quy định đầy đủ các biện pháp, hoạt động bảo vệ tương xứng với mức độ quan trọng của hệ thống thông tin này, trong đó nêu ra tiêu chí xác định, lĩnh vực liên quan, quy định các biện pháp như thẩm định an ninh mạng, đánh giá điều kiện, kiểm tra, giám sát an ninh và ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Luật An ninh mạng đã dành 01 chương (Chương III) quy định đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm: phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; phòng ngừa, xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng, chống chiến tranh mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng. Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng.
Chương IV của Luật An ninh mạng tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ, sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ được xử lý nghiêm minh. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết trong Chương này.
Hiện nay, dữ liệu của nước ta trên không gian mạng đã và đang bị sử dụng tràn lan với mục đích lợi nhuận mà Nhà nước chưa có đủ hành lang pháp lý để quản lý, thậm chí là bị sử dụng vào các âm mưu chính trị hoặc vi phạm pháp luật. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.
Nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của công tác bảo vệ an ninh mạng. Chương V Luật An ninh mạng đã quy định đầy đủ các nội dung bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xác định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao, chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng được quy định rõ trong Luật An ninh mạng, tập trung vào trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành chức năng, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện đồng   bộ các biện pháp được phân công để hướng tới một không gian mạng ít nguy cơ, hạn chế tối đa các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
Mặc dù được chuẩn bị kỹ lưỡng, được đa số Đại biểu Quốc hội tán thành, nhưng do đây là đạo luật có quy định về phòng ngừa, đấu tranh, xử lý trực tiếp các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng nên vẫn còn có những ý kiến băn khoăn về nội dung Luật. Một số đối tượng chống đối đã có hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc với những luận điệu như “chống lại loài người”, “bịt miệng dân chủ”, “đàn áp bất đồng chính kiến”, “tạo rào cản kinh doanh”, “tăng chi phí cho doanh nghiệp”, “thêm giấy phép con”, “lạm quyền”, “cấm sử dụng Facebook, Google”. Đây là những thông tin hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc, với mục đích cản trở hoặc gây tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong quần chúng nhân dân đối với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về an ninh mạng. Luật An ninh mạng không có những quy định nêu trên, không tạo rào cản, không tăng thủ tục hành chính, không cấp giấy phép con và không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của các tổ chức, cá nhân.
(4) Ý nghĩa, tác dụng của Luật An ninh mạng
Luật An ninh mạng được thông qua có ý nghĩa, tác dụng sau đây:
Thứ nhất, là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ an ninh quốc gia; xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật, như: (*) Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm sử dụng không gian mạng tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ví dụ như thông tin kích động lôi kéo tụ tập đông người, gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, gây mất ổn định về an ninh trật tự... (*) Các hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; (*) Các hành vi phát tán thông tin gây hại cho tổ chức, cá nhân, gồm: thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; (*) Các hành vi xâm phạm trật tự an toàn xã hội như sử dụng không gian mạng để hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội (những hành vi này đã được quy định rải rác, cụ thể trong 29 Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017). (*) Các hành vi tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng và liên quan như sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử...
Thứ hai, nhằm bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được quy định trong Luật An ninh mạng là hệ thống thông tin khi bị sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt, tấn công hoặc phá hoại sẽ xâm phạm nghiêm trọng an ninh mạng. Với tiêu chí như trên, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được xác định trong các lĩnh vực quan trọng đặc biệt đối với quốc gia như quân sự, an ninh, ngoại giao, cơ yếu; trong lĩnh vực đặc thù như lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật nhà nước; phục vụ hoạt động của các công trình quan trọng liên quan tới an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia hoặc những hệ thống thông tin quan trọng trong các lĩnh vực năng lượng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, hóa chất, y tế, văn hóa, báo chí. Chính phủ sẽ quy định cụ thể những hệ thống thông tin nào trong các lĩnh vực nêu trên thuộc Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được giao cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, trực tiếp là lực lượng An ninh mạng thuộc Bộ Công an, lực lượng Tác chiến Không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng. Để bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật trong nước, Luật An ninh mạng cũng giao Chính phủ quy định cụ thể việc phối hợp giữa Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ, các bộ, ngành chức năng trong việc thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục sự cố đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Thứ ba, nhằm phòng, chống tấn công mạng. Luật An ninh mạng là văn bản Luật đầu tiên quy định khái niệm của hoạt động “tấn công mạng”. Theo đó“Tấn công mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để phá hoại, gây gián đoạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử”. Đồng thời, quy định các nhóm hành vi cụ thể liên quan tới tấn công mạng tại Điều 17, 18, 19, 20 và Điều 21; quy định cụ thể các nhóm giải pháp cụ thể để phòng, chống tấn công mạng, quy định trách nhiệm cụ thể của cơ quan chức năng, chủ quản hệ thống thông tin. Như vậy:
- Hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân được bảo vệ trước hoạt động tấn công mạng theo quy định của Luật An ninh mạng.
- Các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ tương xứng với tầm quan trọng đối với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
- Quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được bảo vệ trước các hành vi tấn công mạng.
- Luật An ninh mạng cũng quy định cụ thể cơ chế phối hợp phòng, chống tấn công mạng của các bộ, ngành chức năng, xác định trách nhiệm cụ thể của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ trong phòng, chống tấn công mạng.
(5) Định hướng công tác tuyên truyền
Để tạo sự thống nhất trong cán bộ, đảng viên, sự đồng thuận trong xã hội về Luật An ninh mạng; góp phần đấu tranh, phản bác lại các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch, phần tử phản động, số cơ hội chính trị, không bị lôi kéo, tham gia vào các hoạt động tụ tập đông người, gây mất trật tự an ninh, công tác tuyên truyền cần tập trung làm tốt một số việc sau:
Thứ nhất, triển khai nghiêm túc, bài bản công tác tuyên truyền theo Kế hoạch số 207- KH/BTGTW, ngày 16/6/2018 của Ban Tuyên giáo Trung ương về “Công tác tuyên truyền góp phần ổn định an ninh trật tự trong thời gian tới”.
Thứ hai, thông tin, tuyên truyền, giải thích rõ những nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng. Làm rõ sự cần thiết, mục đích ban hành và ý nghĩa của Luật An ninh mạng; đấu tranh, phản bác lại các luận điệu bịa đặt, xuyên tạc các nội dung của Luật An ninh mạng.
Thứ ba, tuyên truyền, vạch trần các âm mưu, hoạt động lợi dụng việc ban hành Luật An ninh mạng (và dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt) để kích động biểu tình, bạo loạn chống phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, các phần tử cơ hội chính trị; qua đó nâng cao tinh thần cảnh giác, không mắc mưu các phần tử xấu, không bị kích động, xúi giục tham gia vào các hoạt động tụ tập đông người, tuần hành hoặc có hành vi quá khích gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật.
Thứ tư, tăng cường bám sát cơ sở, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nhất là những vấn đề bức xúc của nhân dân để chủ động, kịp thời xử lý và tham mưu cho cấp trên biện pháp giải quyết.
Thứ năm, định hướng và quản lý tốt thông tin trên báo chí, mạng viễn thông, mạng xã hội, bảo đảm đưa tin đúng định hướng, thông tin chính xác, đúng đắn, kịp thời để nhân dân hiểu rõ; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có thông tin, bình luận, phát ngôn thiếu căn cứ, sai lệch nội dung Luật An ninh mạng, kích động, tụ tập đông người, tuần hành, gây rối an ninh trật tự, bạo loạn và chống phá Đảng, Nhà nước trên báo chí, mạng xã hội…
C. VĂN BẢN MỚI
I. VĂN BẢN CỦA TỈNH
1. Ngày 05/6/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 1431/UBND-NNTN chỉ đạo tăng cường công tác quản lý chất thải rắn khu vực nông thôn.
Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường: Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan hướng dẫn UBND các huyện, thành phố trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn; phối hợp với UBND các huyện, thành phố theo dõi, thanh tra, giám sát hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn khu vực nông thôn, giảm ô nhiễm môi trường do chất thải rắn gây ra; rà soát, đánh giá các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó có quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn khu vực nông thôn để kịp thời phản ánh, đề xuất cơ quan thẩm quyền xem xét, giải quyết những hạn chế, bất cập phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện.
Giao Sở Xây dựng chủ trì nghiên cứu tham mưu xem xét lập, điều chỉnh Quy hoạch quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh theo các quy định hiện hành. Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, trong đó đặc biệt lưu ý hạn chế triển khai các bãi chôn lấp chất thải rắn phân tán quy mô cấp xã; hướng dẫn quy hoạch các vùng chăn nuôi trên địa bàn tỉnh và việc tổ chức thu gom, lưu giữ chất thải rắn phát sinh trong hoạt động nông nghiệp…
Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thành phố tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quản lý chất thải sinh hoạt, hướng dẫn tận dụng chất thải hữu cơ để tái sử dụng làm phân compost; rà soát các điểm tập trung rác, cơ sở xử lý chất thải rắn, yêu cầu phải thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường; không chấp nhận đầu tư lò đốt, hạn chế bãi chôn lấp quy mô cấp thôn, xã; khuyến khích các xã hoặc khu dân cư tập trung có dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt; xây dựng Phương án giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt, trình UBND tỉnh phê duyệt để làm cơ sở quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn; lập kế hoạch, kinh phí thực hiện trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng tại địa phương….
2. Ngày 06/6/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 1442/UBND-NNTN về việc triển khai thực hiện chính sách ổn định đời sống sản xuất đối với đồng bào di cư tự phát trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, UBND tỉnh giao các Sở, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 39/CT-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2004 và các quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ liên quan chủ trương, giải pháp tiết tục giải quyết tình trạng dân di cư tự do; Thông báo số 333/TB-VPCP ngày 21 tháng 8 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ về thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị về di cư tự do, ổn định dân cư ở các tỉnh khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên và các văn bản của bộ, ngành liên quan đến việc bố trí dân cư và sắp xếp, ổn định dân di cư tự phát.
Không tiến hành giao đất cho doanh nghiệp ở những nơi người dân chưa có đất, đất sản xuất còn thiếu mà ưu tiên giải quyết cho người dân. Nghiên cứu quỹ đất sản xuất hiện có để điều hòa, chuyển đổi phương án sản xuất thâm canh hiệu quả, gia tăng giá trị, hạn chế phương thức sản xuất cần dùng nhiều quỹ đất tự nhiên.
Chủ động thực hiện kiểm tra, tháo gỡ những khó khăn, bất cập, đề xuất những giải pháp quản lý, thực hiện chính sách ổn định dân di cư tự phát, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Tăng cường công tác vận động, tuyên truyền trong Nhân dân về chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước. Giải quyết dứt điểm các vi phạm tồn tại kéo dài. Đặc biệt quan tâm công tác quản lý xã hội, nắm tình hình, giải quyết các vấn đề bức xúc tại các điểm nống, các khu dân cư ngoài quy hoạch, ngoài dự án.
Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và các đơn vị liên quan tiến hành rà soát lại quy hoạch các dự án ổn định dân cư trên cơ sở nắm rõ tình hình, thực trạng đời sống, sản xuất của Nhân dân để tham mưu điều chỉnh, bổ sung phù hợp.
Trong đó, chú trọng giải quyết đất sản xuất từ việc chuyển đổi đất hiện trong quy hoạch vẫn là đất rừng, đất nông lâm trường sử dụng không hiệu quả, giải quyết khu vực đất đai bị tranh chấp, lấn chiếm, bao chiếm quá diện tích cho phép.
Nghiêm trị những hành vi phạm pháp luật (chặt phá rừng, buôn bán lâm sản, đất đai, chống đối người thi hành công vụ, xúi giục, tiếp tay cho các hoạt động trái pháp luật…).
Kịp thời tham mưu đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị với Chính phủ, các bộ ngành về cơ chế, giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách bố trí, sắp xếp, ổn định đời sống, sản xuất, giải quyết nhu cầu đất ở, đất sản xuất, bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh; bảo đảm việc học tập của trẻ em, chính sách với hộ nghèo, gia đình chính sách.
3. Ngày 06/6/2018, UBND tỉnh ban hành Văn bản số 1437/UBND-TH yêu cầu UBND các huyện, thành phố chỉ đạo UBND các xã phường, thị trấn thuộc thẩm quyền quản lý triển khai việc bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố thực hiện thống nhất nhiệm kỳ của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố là hai năm rưỡi, nhiệm kỳ 2018 - 2020 được tính từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2020.
Cụ thể, đối với các đơn vị đã bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố từ ngày 31/12/2016 trở về trước thì tổ chức tổng kết nhiệm kỳ và bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố nhiệm kỳ 2018-2020.
Đối với các đơn vị đã bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố từ ngày 01/01/2017 đến nay thì được xem xét kéo dài nhiệm kỳ cho đến thời điểm tổ chức bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố nhiệm kỳ 2020-2022 (trường hợp cần thiết, UBND các huyện, thành phố có thể chỉ đạo tiến hành tổng kết và tổ chức bầu cử lại trong nhiệm kỳ 2018-2020 để có sự thống nhất chung).
Đồng thời, chuẩn bị tốt các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ công tác bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố theo quy định; có kế hoạch đảm bảo an ninh, an toàn trật tự trước, trong và sau ngày bầu cử; giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật các khiếu nại, tố cáo của công dân và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm các quy định về bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố (nếu có). Hoàn thành việc bầu cử trong quý III năm 2018.
Ngoài ra, UBND tỉnh giao Sở Nội vụ hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác tổ chức bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng dân phố trên địa bàn tỉnh đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và thời gian quy định; kịp thời báo cáo, tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo xử lý các vướng mắc, phát sinh (nếu có).
4. Ngày 15/6/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 1554/UBND-NNTN triển khai thực hiện Công văn số 4301/BNN-TCTL ngày 06/6/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tăng cường công tác đảm bảo an toàn các hồ chứa nước trước mùa mưa lũ năm 2018.
Theo đó, UBND tỉnh giao các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao tăng cường đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn các chủ đập trên địa bàn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý an toàn đập, kiên quyết xử lý đối với các chủ đập không thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về quản lý an toàn đập; đồng thời tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về thủy lợi, quản lý an toàn đập nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, bảo đảm an toàn công trình và nâng cao nhận thức, năng lực ứng phó của người dân sống ở vùng hạ du; Đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công công trình nhằm bảo đảm cao trình vượt lũ theo quy định; đối với các hồ chưa hoàn thành phải xây dựng phương án ứng phó thiên tai cho công trình;
Tổ chức kiểm tra, đánh giá mức độ an toàn của các hồ chứa thủy lợi trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó, lập danh mục các hồ chứa hư hỏng, xuống cấp và xây dựng phương án chủ động bảo đảm an toàn công trình và dân cư vùng hạ du, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh cân đối bố trí kinh phí sửa chữa, nâng cấp các đập, hồ chứa nước nhằm bảo đảm an toàn công trình, dân cư vùng hạ du và tích nước phục vụ sản xuất; tổ chức trực ban thường xuyên, theo dõi diễn biến thời tiết. Khi có mưa lớn, bão phải cử cán bộ thường trực tại công trình nhằm sớm phát hiện và tham mưu xử lý ngay khi có sự cố xảy ra.
Các đơn vị quản lý công trình thủy điện, thủy lợi tổ chức kiểm tra, rà soát toàn bộ các hồ chứa thuộc phạm vi quản lý, xử lý, khắc phục ngay những công trình, hạng mục công trình hư hỏng có nguy cơ mất an toàn. Xây dựng phương án ứng phó thiên tai trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và thực tổ chức thực hiện;
Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương rà soát ngay các vùng ở hạ du hồ chứa tập trung đông dân cư, có nguy cơ ngập lụt, chuẩn bị phương án cảnh báo cho Nhân dân biết để sẵn sàng ứng phó khi xả lũ. Đối với các hồ chứa xung yếu phải xây dựng phương án tích nước hợp lý để bảo đảm chống hạn, an toàn công trình và dân cư vùng hạ du. Các công trình có nguy cơ mất an toàn phải báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai để có phương án xử lý kịp thời;
Tổ chức trực ban thường xuyên, theo dõi diễn biến thời tiết, khi có mưa lớn, bão phải cử cán bộ thường trực tại công trình nhằm sớm phát hiện và xử lý ngay khi có sự cố xảy ra; đồng thời, theo dõi, cập nhật thông tin về mực nước tại các trạm thủy văn, mực nước, lưu lượng đến hồ và các bản tin dự báo tiếp theo để vận hành, điều tiết hồ chứa cho phù hợp với tình hình thực tế và theo đúng quy trình vận hành hồ chứa đã được phê duyệt.
II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp. Nghị định gồm 40 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/6/2018. Một số quy định chủ yếu của Nghị định:
- Đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ: (1) Cây trồng: Lúa, cao su, hồ tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả, rau; (2) Vật nuôi: Trâu, bò, lợn, gia cầm; (3) Nuôi trồng thủy sản: Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra.
- Mức hỗ trợ: (1) Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: Hỗ trợ tối đa 90% phí bảo hiểm nông nghiệp; (2) Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: Hỗ trợ tối đa 20% phí bảo hiểm nông nghiệp; (3) Tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường: Hỗ trợ tối đa 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.
 - Rủi ro được bảo hiểm hỗ trợ: (1) Rủi ro thiên tai, bao gồm: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần. Thiên tai phải được công bố hoặc xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (2) Rủi ro dịch bệnh, bao gồm: a) Dịch bệnh động vật: Dịch bệnh động vật trên cạn: Các bệnh truyền nhiễm của động vật trên cạn theo danh mục bệnh động vật phải công bố dịch (bao gồm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây thiệt hại lớn về kinh tế - xã hội và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm giữa người và động vật) do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật thú y; Dịch bệnh động vật thủy sản: Các bệnh của động vật thủy sản theo danh mục bệnh phải công bố dịch do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật thú y; b) Dịch hại thực vật: Sinh vật gây hại thực vật có nguy cơ lây lan nhanh trên diện rộng, gây hại nghiêm trọng đối với thực vật theo quy định của pháp luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Dịch bệnh phải được công bố hoặc xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Địa bàn được hỗ trợ: (1) Địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp thuộc các vùng sản xuất chính theo định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp, quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp. Thủ tướng Chính phủ quyết định danh mục địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định này; (2) Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể triển khai toàn bộ địa bàn hoặc trên một số địa bàn cấp huyện, xã. Căn cứ quyết định của Thủ tướng Chính phủ về đối tượng được hỗ trợ, loại cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản, loại rủi ro được bảo hiểm được hỗ trợ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc địa bàn được hỗ trợ tổ chức lựa chọn, công bố địa bàn được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương và thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Ngoài ra, Nghị định còn có một số quy định về bảo hiểm nông nghiệp và chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp khác.
 
_________
 
Nguyễn Phi Em thực hiện
 

[1] Kỷ niệm 106 năm Ngày sinh Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (09/7/1912 – 09/7/2018); Ngày Việt Nam gia nhập ASEAN (28/7/1995-28/7/2018); kỷ niệm 88 năm Ngày truyền thống công tác Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930-01/8/2018).
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

Công văn 1291

Tuyên truyền Đại hội Mặt trận các cấp

Lượt xem:15 | lượt tải:0

TÀI LIỆU

Tài liệu tuyên truyền về Luật An ninh mạng

Lượt xem:12 | lượt tải:0

TÀI LIỆU

Tài liệu giao ban báo chí quí II-2018

Lượt xem:80 | lượt tải:0

Công văn 1427 - CV/BTGTU

tuyên truyền kết quả Kỳ họp thứ 5, QH khóa XIV

Lượt xem:85 | lượt tải:0

TÀI LIỆU

Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2018 công tác Tuyên giáo

Lượt xem:149 | lượt tải:0

CHƯƠNG TRÌNH

HN quán triệt NQTW7 khóa XII (tổ chức ngày 29/6)

Lượt xem:238 | lượt tải:0

TÀI LIỆU

Dự thảo các CTrình của TU thực hiện NQ 26, 27, 28 của TW về cán bộ, lương và BHXH

Lượt xem:337 | lượt tải:0
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập19
  • Hôm nay4,038
  • Tháng hiện tại79,698
  • Tổng lượt truy cập1,414,115
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
      Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
      Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
      Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum. Điện thoại: 0260.3862301. Email: phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây