Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 06-2020 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 06-2020

Thứ hai - 25/05/2020 16:56
A. NỘI DUNG TRỌNG TÂM SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 06-2020
- Lãnh đạo tuyên truyền kết quả Hội nghị Trung ương 12 (khoá XII), trong đó tập trung vào một số nội dung: Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII của Đảng; Phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; Bài phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Tuyên truyền Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV diễn ra từ ngày 20/5 đến 18/6/2020. Trong đó, Đợt 1 (từ ngày 20-29/5) họp trực tuyến; Đợt 2 (từ ngày 8-18/6) họp tập trung tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội.
Tuyên truyền đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (theo Kế hoạch số 116-KH/TU, ngày 26-11-2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các văn bản hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy). Tập trung tuyên truyền kết quả đại hội đảng bộ cấp cơ sở; đại hội điểm thực hiện chủ trương thí điểm đại hội cấp huyện bầu trực tiếp Bí thư Huyện ủy (huyện Ia H’Drai và huyện Tu Mơ Rông)....Tuyên truyền tình hình phát triển KT-XH của tỉnh trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2020, nhiệm vụ trọng tâm tháng 6/2020; kết quả triển khai thực hiện Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg, ngày 24/4/2020 của Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo của Chủ tịch của UBND tỉnh tại Công văn số 1708/UBND-KGVX, ngày 18/5/2020 về triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về phòng, chống Covid-19. Các hoạt động tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ 10, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI.
Tuyên truyền các ngày kỷ niệm diễn ra trong tháng 6/2020[1]. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền và hưởng ứng tham gia Cuộc thi trắc nghiệm trực tuyến “Tìm hiểu 90 năm Ngày truyền thống Đảng bộ tỉnh Kon Tum 25/9/1930-25/9/2020” trên Trang TTĐT của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum; Cuộc thi ảnh nghệ thuật về chủ đề “Tự hào một dải biên cương” do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam và các cơ quan liên quan tổ chức. Tuyên truyền kết quả 05 năm thực hiện Chỉ thị số 50–CT/TW, ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”; Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ “về tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới Quốc gia trong tình hình mới” giai đoạn 2015-2020 trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
- Ngoài ra, tiếp tục tuyên truyền về kết quả thực hiện NQTW 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo dức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Tuyên truyền các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; những nỗ lực của Việt Nam trong đảm nhiệm vai trò kép Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Tiếp tục tuyên truyền quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam –Lào; chủ động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, chống phá, chia rẽ quan hệ Việt Nam-Lào. Tiếp tục tuyên truyền về quan điểm, mục tiêu, một số chủ trương lớn và khâu đột phá theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII) về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018).  
B. THÔNG TIN THỜI SỰ
I. THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1: Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 12, khóa XII của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng
Trân trọng giới thiệu bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ 12 BCH Trung ương Đảng khóa XII, ngày 14-5-2020.
Sau 4 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ, đoàn kết và trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Trung ương đã xem xét, quyết định Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII; Phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Tiêu chuẩn, số lượng và việc phân bổ đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng; đồng thời cho ý kiến về một số vấn đề quan trọng khác. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí cao thông qua Nghị quyết Hội nghị. Sau đây, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị phát biểu khái quát lại những kết quả chủ yếu của Hội nghị và nhấn mạnh thêm một số vấn đề để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện.
Một là, về phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII: Nhận thức sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội lần thứ XIII của Đảng, với tinh thần coi cán bộ và công tác cán bộ là "cái gốc của mọi công việc", nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận kỹ lưỡng, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, sâu sắc và thống nhất cao với Báo cáo của Bộ Chính trị trình Hội nghị. Cụ thể là:
Về yêu cầu xây dựng Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII, Trung ương nhấn mạnh: Những năm sắp tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực sẽ tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, tạo ra cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới to lớn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta, hơn bao giờ hết, phải thật sự vững vàng, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến. Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa hai kỳ Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII phải là một tập thể thật sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, thống nhất ý chí và hành động, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiêu biểu về trí tuệ, có tầm nhìn chiến lược, có tư duy đổi mới, sáng tạo; tiêu biểu cho toàn Đảng về tính chiến đấu, tính kỷ luật; gắn bó mật thiết với nhân dân, biết lắng nghe, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, quy tụ được sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân; đủ uy tín, năng lực lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới.
Trung ương nhất trí việc xác định tiêu chuẩn Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII phải căn cứ vào tiêu chuẩn chung của cán bộ được quy định trong các nghị quyết của Đảng và đặc biệt chú trọng một số vấn đề sau:
- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và lợi ích của quốc gia - dân tộc; có ý chí chiến đấu cao, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; gương mẫu thực hiện nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nói đi đôi với làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động, làm việc có hiệu quả.
- Có phẩm chất đạo đức và lối sống trong sáng, gương mẫu, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tín nhiệm; có tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ với công việc; dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước. Bản thân không tham nhũng, quan liêu, cơ hội, vụ lợi, tham vọng quyền lực và kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng; không để vợ, chồng, con, người thân lợi dụng chức quyền để trục lợi; có ý thức giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, gương mẫu chấp hành sự phân công và nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; công minh, công bằng trong đánh giá, sử dụng cán bộ.
- Có trí tuệ, tầm nhìn, có trình độ để tham gia hoạch định đường lối, chính sách và sự lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương; có năng lực cụ thể hoá và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, nhiệm vụ của Đảng, chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới; qua thực tiễn thể hiện rõ là người có năng lực, sáng tạo, làm việc có hiệu quả, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đoàn kết, quy tụ, phát huy được đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực, địa bàn được phân công, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; có ý thức, trách nhiệm và khả năng tham gia thảo luận, đóng góp vào các quyết định chung của Ban Chấp hành Trung ương; đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ.
Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải là những đồng chí thật sự tiêu biểu, mẫu mực của Ban Chấp hành Trung ương về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo, quản lý, ý thức tổ chức kỷ luật; có tầm nhìn và tư duy chiến lược, có khả năng phân tích, dự báo, tổng hợp, đề xuất những vấn đề mới một cách đúng đắn; có trình độ hiểu biết sâu sắc về lý luận chính trị, biết phát hiện và sử dụng người có đức có tài; là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, còn trong độ tuổi theo quy định và đủ sức khoẻ để đảm đương nhiệm vụ.
Kiên quyết không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương những người có một trong các khuyết điểm sau: (1) Bản lĩnh chính trị không vững vàng; không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. (2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán, không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình. (3) Để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị. (4) Không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm. (5) Ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín thấp. (6) Kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính. (7) Vi phạm quy định về lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay.
Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII cần có số lượng và cơ cấu hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, có tính kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển. Tăng cường số lượng Ủy viên Trung ương ở các vị trí, địa bàn, lĩnh vực công tác trọng yếu; chú ý tăng thêm tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII cần có 3 độ tuổi (dưới 50; 50 - 60 và từ 61 tuổi trở lên). Trường hợp đặc biệt nào cần phải cơ cấu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ngoài độ tuổi theo quy định thì Bộ Chính trị cân nhắc, trình Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định việc đề cử với Đại hội Đảng.
Về phương pháp và quy trình giới thiệu, lựa chọn nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII, Trung ương nhất trí cao với Báo cáo của Bộ Chính trị, trong đó có khâu giới thiệu của các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương. Việc giới thiệu, lựa chọn nhân sự phải căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định, nói chung phải trên cơ sở Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và kết quả giới thiệu tín nhiệm cao của Trung ương, nhất là đối với các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước; gắn kết chặt chẽ với việc sắp xếp, bố trí nhân sự lãnh đạo các cơ quan đảng, nhà nước nhiệm kỳ 2021-2026 và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội nhiệm kỳ tới. Tiểu ban Nhân sự Đại hội và Bộ Chính trị cần chỉ đạo chặt chẽ để việc giới thiệu, lựa chọn nhân sự bảo đảm đúng quy định của Điều lệ Đảng, các quy định, quy chế của Trung ương, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, bảo đảm vừa phát huy dân chủ, vừa tập trung thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đúng những chủ trương, biện pháp mà Trung ương đã quyết định. Đặc biệt, các đồng chí Ủy viên Trung ương phải gương mẫu, có tinh thần trách nhiệm rất cao, thật sự công tâm, khách quan, trong sáng, chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức, quy chế, quy định của Đảng trong quá trình giới thiệu, lựa chọn nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII, đặt sự nghiệp chung của Đảng, của dân tộc lên trên hết, trước hết. Kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, vận động cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm...; cảnh giác với những âm mưu của các thế lực thù địch tìm cách phá hoại, chia rẽ, gây rối nội bộ ta.
Các trường hợp có đơn, thư tố cáo, khiếu nại hoặc phải xem xét về chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống,... thì Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan kiểm tra, rà soát kỹ, kết luận rõ trước khi Bộ Chính trị xem xét, quyết định. Việc tổng hợp ý kiến của các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị,... phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, khách quan, khoa học.
Hai là, về phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ tới, Ban Chấp hành Trung ương ghi nhận, biểu dương sự nỗ lực của Đảng đoàn Quốc hội và các cơ quan, đơn vị có liên quan đã khẩn trương nghiên cứu, tổng kết, xây dựng Đề án phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Đồng tình về cơ bản với những đề xuất nêu trong Tờ trình của Đảng đoàn Quốc hội, Hội nghị nhấn mạnh: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp lần này tiếp tục được tổ chức vào cùng một ngày trên phạm vi cả nước, trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện và đồng bộ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước mới được ban hành.
Để bảo đảm tổ chức thành công cuộc bầu cử, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề ra, để ngày bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân, cần phát huy cao độ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; sự hưởng ứng, tích cực tham gia, phát huy đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân của cử tri cả nước. Phấn đấu giới thiệu, lựa chọn bầu được những đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thật sự tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý, trong đó lấy tiêu chuẩn, chất lượng đại biểu là ưu tiên hàng đầu, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Phấn đấu bầu đủ 500 đại biểu Quốc hội và đạt tỉ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách.
Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành bầu cử, phải quán triệt thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng và Nhà nước về bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương; gắn kết quả nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và quy hoạch cán bộ với công tác chuẩn bị nhân sự đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Tiêu chuẩn người ứng cử, đề cử bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải căn cứ vào tiêu chuẩn được quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, và tiêu chuẩn cán bộ được quy định trong các nghị quyết, quy định của Đảng. Ngoài những tiêu chuẩn chung, người ứng cử làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách còn phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, lĩnh vực chuyên môn, vị trí công tác và độ tuổi theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức. Riêng đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, cần đáp ứng yêu cầu cao về phẩm chất chính trị, nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng; am hiểu pháp luật và có năng lực xây dựng pháp luật; có trình độ chuyên môn sâu và kiến thức thực tiễn.
Trên cơ sở tổng kết, đúc rút kinh nghiệm việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các khoá gần đây và ý kiến đóng góp của Trung ương, nhất là về những hạn chế, khuyết điểm, cần có những điều chỉnh, bổ sung cụ thể, chặt chẽ các quy định về trách nhiệm, quyền hạn và sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị phụ trách tổ chức bầu cử; quy trình đề cử, ứng cử; việc phân bổ người ứng cử đại biểu Quốc hội do Trung ương giới thiệu; việc thẩm định hồ sơ người tự ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; việc tuyên truyền, vận động bầu cử; giải quyết khiếu nại, tố cáo… Đối với các trường hợp tự ứng cử, cũng phải có quy trình thật chặt chẽ, đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Quy định rõ việc gì được làm, việc gì không được làm trong vận động bầu cử; tránh tình trạng "vận động" không lành mạnh.
Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần này, Bộ Chính trị sẽ ban hành Chỉ thị; chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội khẩn trương hoàn chỉnh Đề án trình Quốc hội xem xét, quyết định để tổ chức thực hiện, bảo đảm chuẩn bị và tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
Ba là, về việc phân bổ đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng: Với kinh nghiệm thực tiễn tổ chức đại hội đảng ở các cấp, các đồng chí Ủy viên Trung ương đã đóng góp nhiều ý kiến cụ thể, xác đáng. Trung ương nhất trí cao với những nguyên tắc và các căn cứ phân bổ đại biểu và dự kiến số lượng phân bổ đại biểu đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương và giao cho Bộ Chính trị quyết định cụ thể việc phân bổ đại biểu. Các đảng bộ trực thuộc cần thực hiện nghiêm túc các quyết định của Trung ương, lựa chọn được các đại biểu thực sự xứng đáng, tiêu biểu, đại diện cho đảng bộ của mình đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Bốn là, về kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2019: Ban Chấp hành Trung ương tán thành Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2019; đánh giá cao công tác chuẩn bị, quá trình tiến hành và kết quả kiểm điểm; cho rằng việc kiểm điểm đã được tiến hành nghiêm túc, cầu thị, đúng nguyên tắc. Trung ương khẳng định, Bộ Chính trị, Ban Bí thư là một tập thể lãnh đạo đoàn kết, thống nhất cao về chính trị, tư tưởng; kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc, bảo đảm sự lãnh đạo tập thể, đồng thời phát huy được vai trò cá nhân trong phạm vi công tác được phân công. Sinh hoạt của Bộ Chính trị, Ban Bí thư dân chủ, thẳng thắn, giữ vững nguyên tắc, chế độ làm việc, chân thành và cầu thị.
Năm 2019, trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó lường, đất nước còn nhiều khó khăn, thách thức, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã luôn bám sát các quan điểm, đường lối nêu trong Cương lĩnh, Chiến lược, Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng và tình hình thực tiễn để kịp thời có những chủ trương, quyết sách đúng đắn, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực về đối nội và đối ngoại. Đồng thời, Trung ương cũng chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong lãnh đạo, chỉ đạo; hoan nghênh việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Trung ương về những việc còn chưa làm được. Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp thu ý kiến góp ý xác đáng của Trung ương để có những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ và quyết liệt hơn trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ của năm 2020 và những năm sắp tới.
Năm là, về công tác nhân sự: Thực hiện Kế hoạch số 11-KH/TW ngày 6-11-2018 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã tiến hành ghi phiếu giới thiệu nhân sự quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII theo đúng quy định của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu bổ sung 2 Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khoá XII. Cũng tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Thưa các đồng chí,
Từ đầu năm đến nay, đại dịch COVID-19 đã tác động sâu sắc, toàn diện tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, để lại hậu quả rất nghiêm trọng đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta. Nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khống chế, cơ bản kiểm soát, ngăn chặn được sự lây lan trong cộng đồng, hạn chế tối đa những thiệt hại, tổn thất do đại dịch gây ra, đem lại niềm vui, niềm tin, niềm tự hào cho nhân dân cả nước, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Ban Chấp hành Trung ương nhiệt liệt hoan nghênh, biểu dương và cảm ơn sâu sắc toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài đã đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ban, ngành và địa phương. Việc chúng ta ngăn chặn và kiểm soát được đại dịch là một minh chứng hùng hồn khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ ta, của hệ thống chính trị ở nước ta, khẳng định truyền thống đoàn kết, lòng yêu nước, tình nhân ái và ý chí kiên cường của dân tộc ta, nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, bản chất và truyền thống đó càng được nhân lên gấp bội.
Tuy nhiên, chúng ta tuyệt nhiên không được chủ quan, tự mãn vì trước mắt nhiệm vụ còn rất khó khăn, nặng nề, tình hình còn diễn biến phức tạp, khó lường. Một mặt, chúng ta phải tiếp tục theo dõi, nắm chắc diễn biến phức tạp của đại dịch để có những giải pháp ứng phó kịp thời, phải nhanh chóng khắc phục hậu quả của đại dịch, phục hồi sản xuất kinh doanh, ổn định việc làm, đời sống của nhân dân. Mặt khác, phải tập trung tháo gỡ khó khăn, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để tập trung hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2020.
Đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương hãy nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân và đất nước, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XII, các nghị quyết của Trung ương và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần này. Đặc biệt là chủ động, tích cực tham gia chuẩn bị và tiến hành thật tốt đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII. Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hoàn thành tốt trọng trách trước Đảng, trước nhân dân và đất nước.
Chuyên đề 2: Cần hiểu đúng về tự phê bình và phê bình theo Tư tưởng Hồ Chí Minh
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; luôn nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải luôn đề cao “tự phê bình và phê bình”…
1. Trong bản Di chúc viết năm 1965, trước hết, Người nói về Đảng trong đó đề cập đến ba vấn đề trọng đại: Một là, vấn đề đoàn kết trong Đảng. Hai là, vấn đề tự phê bình và phê bình trong Đảng. Ba là, vấn đề đảng cầm quyền. Đây là ba vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Vấn đề tự phê bình và phê bình trong Đảng, được Người đặc biệt quan tâm, Người căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”(2). Nghiên cứu, quán triệt và vận dụng những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong Di chúc có ý nghĩa giá trị sâu sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong giai đoạn cách mạng hiện nay, góp phần thiết thực nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Tự phê bình và phê bình là nhu cầu nội tại của tổ chức đảng và đảng viên, song muốn tự phê bình và phê bình phát huy được tác dụng, hiệu quả, đòi hỏi phải thực hành một cách thường xuyên, nghiêm túc; nếu không thực hành thường xuyên, nghiêm túc thì dù đó là vũ khí sắc bén cũng không tiêu diệt được “kẻ thù”, dù có là “thần dược” cũng không trị được bệnh trong mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Vì vậy, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn phải “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”.
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong Đảng cùng với việc thực hành dân chủ thì “tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất” để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, góp phần xây dựng Đảng thành một khối thống nhất, vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng vẻ vang mà nhân dân tin yêu giao phó. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến, chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến, thực dân. Đội ngũ đảng viên của Đảng phần đông xuất thân từ nông dân và nhiều giai tầng khác nhau, mang theo những đặc điểm tư tưởng, tâm lý, lối sống khác nhau, dễ nảy sinh những mâu thuẫn trong Đảng. Đó không phải là mâu thuẫn đối kháng, nhưng là nguy cơ gây mất đoàn kết, không tập trung, thống nhất được tư tưởng, trí tuệ trong Đảng. Mặt khác, Đảng ta là đảng cầm quyền “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, đảng viên có chức, có quyền nếu không nghiêm túc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng rất dễ nảy sinh những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, quan liêu, xa rời quần chúng… Đảng viên cũng là con người, không phải là thánh thần, có hoạt động thì khó tránh khỏi sai lầm, ai cũng có cái tốt, cái xấu, chỉ khác nhau ở chỗ nặng hay nhẹ và trạng thái biểu hiện của nó, nhưng đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Muốn vậy cần tiến hành tự phê bình và phê bình ráo riết, thường xuyên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: một Đảng mà dấu diếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng, “một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(3).
Trong khi thực hành tự phê bình và phê bình phải có thái độ kiên quyết không khoan nhượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tự phê bình và sữa chữa có khi dễ, nhưng có khi cũng khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thói quen, hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh”. Vì thế thực hiện tự phê bình và phê bình “ta phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”(4). Tự phê bình và phê bình phải đúng mức, thật thà không nể nang, không thêm bớt, không hình thức, hời hợt, quanh co, chiếu lệ... Trên thực tế những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng, hủ hóa, vi phạm tư cách đảng viên, suy cho cùng nguyên nhân là do không thường xuyên, nghiêm chỉnh tự phê bình và tiếp thu phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của chúng ta thì cũng như giấu diếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy hiểm đến tính mệnh. Phát hiện càng sớm, điều trị bệnh càng chóng khỏi; để bệnh nặng rất khó chữa, thậm chí có khi không chữa nổi. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ một số biểu hiện chưa đúng trong tự phê bình và phê bình, đó là: “vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao, tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng. Họ không biết rằng: có hoạt động thì khó mà hoàn toàn tránh khỏi sai lầm. Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi”(5). Tất cả những hiện tượng trên là biểu hiện sự nhận thức chưa đúng bản chất của tự phê bình và phê bình với tư cách là một nguyên tắc trong sinh hoạt đảng.
2. Kiểm điểm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, thấy rằng, trong những năm đổi mới, vấn đề tự phê bình và phê bình luôn luôn được đặt ra trong các nghị quyết của Đảng. Tính từ Đại hội VI, Đại hội ghi dấu ấn đổi mới toàn diện, đến này, Trung ương Đảng đã có các nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng. Đó là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa VI ngày 20-6-1988 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khóa VII ngày 29-6-1992 “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII ngày 2-2-1999 “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI ngày 16-1-2012 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII ngày 30-10-2016 “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”. Các nghị quyết này đều đặt vấn đề tự phê bình và phê bình trong Đảng. Thông qua tự phê bình và phê bình mà sửa chữa những khuyết điểm, phát huy ưu điểm, làm cho công việc tiến nhanh và có hiệu quả.
3. Quán triệt, vận dụng tư tưởng thường xuyên, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, mỗi đảng viên và tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình của các cấp ủy đảng. Tự phê bình và phê bình chỉ có thể đem lại hiệu quả thiết thực khi cấp ủy đảng các cấp có nhận thức đúng và thường xuyên tổ chức thực hiện nghiêm túc ở cấp mình. Nhận thức không đúng về ý nghĩa, tầm quan trọng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình tất dẫn tới việc thực hành tự phê bình và phê bình không thường xuyên, nghiêm chỉnh, thậm chí buông lỏng, coi nhẹ hoặc hình thức, qua loa, chiếu lệ… Để có nhận thức đúng và bảo đảm tự phê bình và phê bình được tiến hành thường xuyên, nghiêm chỉnh, có chất lượng thì cấp ủy đảng cần quán triệt cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung nguyên tắc tự phê bình và phê bình, hiểu rõ lý do, mục đích, đối tượng, phương pháp, thái độ tự phê bình và phê bình theo Tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, thường xuyên, nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Mỗi tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên cần coi tự phê bình và phê bình là chế độ thường xuyên, cần nghiêm chỉnh thực hành như việc như rửa mặt mỗi ngày. Thường xuyên, nghiêm chỉnh thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong Đảng nhằm nâng cao tinh thần tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng; kịp thời phát hiện, cảnh tỉnh, ngăn chặn những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm. Ba là, thường xuyên phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu, cấp ủy viên và trách nhiệm của các tổ chức quần chúng trong thực hành tự phê bình và phê bình. Phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên và người đứng đầu trong thực hành tự phê bình và phê bình có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng cần tiến hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ cấp uỷ, người đứng đầu đến cán bộ, đảng viên. Cấp trên phải gương mẫu kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp uỷ viên và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo điểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau; cấp trên phải gương mẫu tự phê bình trước cấp dưới; cấp dưới phải mạnh dạn phê bình cấp trên; tổ chức đảng và đảng viên phải lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng. Định kỳ phải tổ chức cho quần chúng tham gia đóng góp ý kiến cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Những ý kiến đúng phải được tiếp thu và kiên quyết sửa chữa, những ý kiến chưa đúng phải giải thích cho quần chúng hiểu. Bí thư và thủ trưởng đơn vị cần phải tiền phong, gương mẫu, dám tự phê bình, dám nhận khuyết điểm trước tập thể, trước cấp trên, cấp dưới và đồng cấp; thật sự tạo ra không khí cởi mở, khuyến khích động viên mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng mạnh dạn tự phê bình và phê bình. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong cơ quan, đơn vị tham gia phê bình tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Mọi hoạt động của tổ chức cơ sở đảng đều được quần chúng nắm bắt, giám sát. Bốn là, gắn tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Tự phê bình và phê bình cần kết hợp chặt chẽ với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Tự phê bình và phê bình là một khâu của công tác kiểm tra, giám sát, là một trong những phương pháp cơ bản khi tiến hành kiểm tra, giám sát. Tự phê bình và phê bình tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát. Ngược lại, không làm tốt tự phê bình và phê bình thì công tác kiểm tra, giám sát sẽ mang tính hình thức, không mang lại hiệu quả thiết thực.
Hơn nửa thế kỷ đã qua đi, song Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên tính thời sự và đang tiếp tục định hướng cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đi đúng hướng. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải thường xuyên, nghiêm chỉnh nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên của Đảng, là vũ khí sắc bén để xây dựng Đảng và giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Vũ khí sắc bén này phải thường xuyên được sử dụng và mài dũa để có đủ khả năng ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng hiện nay, góp phần quan trọng đưa sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đến thành công để hiện thực hóa mong muốn cuối cùng của Bác đó là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(6).
----------------------------
(1), (2), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2011, t.15, tr.611, tr.614. (3), (4) Sđd, t.5, tr.301, tr.279. (5) Sđd, t.9, tr.290.
II. TIN TRONG TỈNH
1. Ngày 05-5, Đoàn công tác của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh do đồng chí Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng đoàn đã đến thăm một số cơ sở tôn giáo và chức sắc đạo Phật trên địa bàn tỉnh nhân dịp Đại lễ Phật đản Phật lịch 2564 - Dương lịch 2020.
Đoàn đã đến thăm Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh và Hòa thượng Thích Quảng Xả - Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPG Việt Nam đặc trách 5 tỉnh Tây Nguyên, Trưởng Ban Trị sự GHPG Việt Nam tỉnh, Trụ trì Chùa Huệ Chiếu; thăm Hòa thượng Thích Chánh Quang - Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPG Việt Nam, Chứng minh Ban Trị sự GHPG Việt Nam tỉnh, Trụ trì Chùa Bác Ái.
Tại các nơi đến thăm, thay mặt Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, đồng chí Nguyễn Văn Hòa chúc mừng quý hòa thượng, thượng tọa, đại đức, tăng, ni và toàn thể đồng bào Phật tử tỉnh nhà đón mùa Phật đản an vui, ý nghĩa. Tỉnh Kon Tum ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp tích cực của Phật giáo tỉnh Kon Tum trong sự phát triển kinh tế xã hội, an ninh trật tự của địa phương; nhất là trong việc tuyên truyền cho đồng bào phật tử thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19.
Đồng chí mong muốn trong thời gian tới, các chức sắc, tăng ni, phật tử tỉnh nhà tiếp tục thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương, thực hiện đúng đường hướng “Đạo pháp- dân tộc- chủ nghĩa xã hội”…; đặc biệt là việc tiếp tục nâng cao các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 và các dịch bệnh khác...
Trong dịp Đại lễ Phật đản năm 2020, UBND tỉnh đã giao Sở Nội vụ và UBND các huyện, thành phố tổ chức thăm hỏi, chúc mừng các cơ sở tôn giáo, chức sắc, chức việc, tín đồ có uy tín của đạo Phật trên địa bàn.
Toàn tỉnh có gần 35.000 tăng ni, phật tử tại 30 ngôi chùa, tịnh xá trên địa bàn tỉnh hoan hỉ đón ngày kỷ niệm Đức Phật đản sinh với những hoạt động thiết thực, đảm bảo an toàn, nhất là đảm bảo việc phòng dịch Covid- 19.
2. Ngày 08-5, tại Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và Tỉnh ủy Nghệ an tổ chức Hội thảo trực tuyến quốc gia “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc” nhân kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2020).
Dự Hội nghị tại đầu cầu Hà Nội có các đồng chí Trần Quốc Vượng - Ủy viên Bộ Chính Trị, Thường trực Ban Bí thư; Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Vương Đình Huệ - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Nguyễn Xuân Thắng - Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo các bộ, ban, ngành trung ương, học viện, viện, nhà xuất bản trung ương và lãnh đạo các địa phương. Dự Hội nghị tại điểm cầu tỉnh có đồng chí Trần Thị Nga - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh.
Phát biểu tại Hội thảo, đồng chí Trần Quốc Vượng - Ủy viên Bộ Chính Trị, Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa, đẹp đẽ nhất của văn hóa dân tộc ta và tinh hoa văn hóa nhân loại; giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế trong sáng, rạng ngời cốt cách của một bậc vĩ nhân. Người là biểu tượng sáng ngời của phong trào giải phóng dân tộc, hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới. Tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng cao cả của Người là cội nguồn, gắn liền với bước phát triển và thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam... Đất nước ta, Đảng ta biết ơn vô hạn đối với công lao như trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng ta vận dụng trung thành, kế thừa sâu sắc và không ngừng phát triển sự nghiệp cách mạng của Người; tuyệt đối trung thành sự nghiệp cách mạng, vững bước đi lên trên con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Tại Hội thảo, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng - Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thông qua đề dẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Thông qua những gợi ý từ Đề dẫn, các đại biểu, các nhà khoa học tập trung thảo luận và có nhiều tham luận quan trọng như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới và phát triển, xây dựng thủ đô Hà Nội ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại; học tập phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh với việc xây dựng lực lượng cách mạng và sự vận dụng của Đảng trong tình hình hiện nay; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Công an nhân dân; tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước hiện nay; vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Đảng hiện nay; Chủ tịch Hồ Chí Minh và những tư tưởng “soi đường” về văn hóa nghệ thuật; tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, tự chủ gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế; Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong xây dựng đường lối cách mạng Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong công tác đối ngoại Đảng 90 năm qua; tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân và ý nghĩa đối với công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay; tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo, nâng cao đời sống nhân dân; thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục tăng cường, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp đổi mới; tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa; tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển; vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới trong xây dựng nông thôn mới hiện nay.
Những vấn đề đặt ra trong Hội thảo làm sáng tỏ thêm tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gợi mở và đặt ra nhiều vấn đề trong sự nghiệp đổi mới, phát triển, bảo vệ đất nước và đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
3. Sáng 19-5, Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc công bố Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) và Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2019.
Đồng chí Trương Hòa Bình - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ dự và chỉ đạo Hội nghị; tham dự còn có lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương. Dự Hội nghị tại điểm cầu tỉnh, có đồng chí Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh. Các huyện, thành phố tham dự tại điểm cầu địa phương.
Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, năm 2019 dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, công tác CCHC có những chuyển biến tích cực. Các bộ, ngành, địa phương tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho công chức; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác CCHC, giúp hoạt động của cơ quan nhà nước ngày càng công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình và chất lượng phục vụ nhân dân. Qua đó, công tác CCHC ngày càng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Đánh giá của Ban chỉ đạo Quốc gia về CCHC năm 2019 đối với các bộ như sau: Nhóm A (đạt kết quả chỉ số CCHC trên 90%) có 3 đơn vị; nhóm B (đạt kết quả chỉ số CCHC từ trên 80% đến dưới 90%), có 14 đơn vị. Giá trị trung bình chỉ số CCHC của 17 bộ, cơ quan ngang bộ năm 2019 là 85,63%, tăng 2,95% so với năm 2018.
Đối với các địa phương, nhóm A có 1 tỉnh (đạt kết quả chỉ số từ 90% trở lên); nhóm B có 43 tỉnh, thành (đạt kết quả chỉ số từ 80% đến dưới 90%); nhóm C có 19 tỉnh, thành phố (đạt kết quả chỉ số từ 70% đến dưới 80%).
Riêng tỉnh Kon Tum, năm 2019 được xếp thứ 59 cả nước về Chỉ số CCHC và xếp thứ 17 về Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước, tăng 18 bậc so với năm 2018.
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Trương Hòa Bình biểu dương các bộ, ngành, địa phương trong năm qua có nhiều nỗ lực để đạt được những kết quả tích cực trong công tác CCHC cũng như xác định chỉ số CCHC và sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính thời gian qua chính xác, khách quan hơn. Lưu ý, thời gian tới, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nghiêm túc rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế; người đứng cầu ở các cấp, các ngành cần đẩy mạnh rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực điều hành gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng CNTT trong giải quyết thủ tục hành chính, qua đó đổi mới lề lối, phương thức làm việc, góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, đưa CCHC trở thành đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội; hoàn thiện thể chế thị trường định hướng XHCN, cải thiện môi trường đầu tư…Bộ Nội vụ phải phối hợp với bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các phương thức đánh giá chỉ số CCHC và chỉ số sự hài lòng của người dân phù hợp với thực tiễn, đảm bảo khách quan, chính xác.
4. Chiều 19-5, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị trực tuyến với các huyện, thành phố đánh giá tiến độ, kết quả triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh. Đồng chí Nguyễn Hữu Tháp - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị.
Thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP, ngày 9/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, ngày 16/4, UBND tỉnh có văn bản số 1287/UBND-KTTH thống nhất tạm cấp 166,3 tỷ đồng (tương đương 70% nhu cầu kinh phí) hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh. Theo đó, số kinh phí này được giao cho các đơn vị, địa phương để thực hiện chi 1 lần kinh phí hỗ trợ 3 tháng cho các đối tượng: Người có công với cách mạng; bảo trợ xã hội; hộ nghèo, hộ cận nghèo và chi cho các đối tượng còn lại theo hằng tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch (nhưng không quá 3 tháng).
Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội về kết quả chi hỗ trợ cho các nhóm đối tượng theo tinh thần Nghị quyết 42/NQ-CP, tính đến ngày 18/5, UBND tỉnh đã phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ cho 3 nhóm đối tượng là người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp hàng tháng, người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo của 4 huyện, thành phố là Đăk Tô, Ngọc Hồi, Kon Rẫy và thành phố Kon Tum. Đến thời điểm hiện tại, các địa phương cơ bản thực hiện xong công tác hỗ trợ cho các đối tượng này. Trong khi chờ UBND tỉnh phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ, các địa phương: Kon Plông, Ia H’Drai, Sa Thầy và Đăk Hà đã thực hiện tạm ứng kinh phí chi hỗ trợ cho 47.725 người dân thuộc các nhóm đối tượng người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp hàng tháng, người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh về việc rà soát số hộ nghèo, hộ cận nghèo phát sinh sau ngày 31/12/2019, đến nay, các huyện, thành phố đã tiến hành rà soát, đề xuất đưa vào diện hỗ trợ các đối tượng gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 cho 15 hộ nghèo với tổng số 169 nhân khẩu, 39 hộ cận nghèo với tổng số 101 nhân khẩu.
Ngoài ra, đến nay, toàn tỉnh mới chỉ có 5 hộ kinh doanh có doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm gửi Chi cục Thuế các huyện thẩm định đề nghị hỗ trợ kinh phí. Các nhóm đối tượng người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không lương; người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động; người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp, các địa phương đang tiến hành kiểm tra, rà soát, lập danh sách để trình UBND tỉnh phê duyệt.
Phát biểu kết luận, đồng chí Nguyễn Hữu Tháp nhấn mạnh, chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 là một chương trình lớn của Nhà nước, Chính phủ. Vì vậy, các sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tập trung triển khai thực hiện kịp thời, chi hỗ trợ đúng đối tượng, không để xảy ra sai sót nhằm bảo đảm phát huy hiệu quả chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 theo đúng tinh thần Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ.
Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương phối hợp với VNPT Kon Tum hoàn thành việc xây dựng phần mềm phục vụ công tác tổng hợp, rà soát đối tượng được hỗ trợ; chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tiếp tục theo dõi, hướng dẫn để các địa phương hoàn thành việc rà soát, tổng hợp danh sách, kinh phí và thực hiện việc hỗ trợ các đối tượng theo quy định. UBND các huyện, thành phố có giải pháp cụ thể nhằm kịp thời thực hiện chính sách hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 thuộc địa bàn quản lý; bảo đảm đúng đối tượng, chống thất thoát, trục lợi chính sách; có hình thức biểu dương, khen thưởng đối với những gương tốt, nhường phần được hỗ trợ cho người khó khăn hơn, nhưng tuyệt đối không được ép người dân ký đơn từ chối nhận hỗ trợ, nếu phát hiện phải xử lý nghiêm theo quy định. Các địa phương rà soát, chủ động cân đối nguồn lực và vận động xã hội hóa để hỗ trợ cho các đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo phát sinh sau ngày 31/12/2019 gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.
5. Sáng 21-5, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Nga làm việc với Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) về các giải pháp thực hiện kích cầu phát triển du lịch sau khi kiểm soát an toàn tình hình dịch bệnh Covid-19.
Tham dự buổi làm việc có lãnh đạo Hiệp hội Du lịch tỉnh, đại diện thành phố Kon Tum, huyện Kon Plông và các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện Chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” do Bộ VH-TT&DL và Tổng cục Du lịch Việt Nam phát động, Sở VH-TT&DL đã xây dựng kế hoạch thực hiện các biện pháp kích cầu phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Theo đó, phối hợp với các Sở Du lịch Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng nội dung hợp tác phát triển du lịch; phối hợp với Sở VH-TT&DL Gia Lai xây dựng các tour cuối tuần tham quan du lịch trên địa bàn tỉnh; tham gia các hoạt động xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch trong và ngoài tỉnh; xây dựng các tour, tuyến du lịch mới như tour trải nghiệm, khám phá Vườn Quốc gia Chư Mom Ray, tham quan đỉnh Ngọc Linh; phối hợp với Hiệp hội Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lớp bồi dưỡng du lịch cộng đồng cho cán bộ quản lý, nhân viên làm công tác du lịch trên địa bàn tỉnh; đề nghị các doanh nghiệp du lịch giảm giá dịch vụ, tăng chất lượng dịch vụ phục vụ khách du lịch nhằm thu hút khách du lịch đến thăm Kon Tum; phối hợp, liên kết với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành du lịch các tỉnh, thành phố đưa khách đến Kon Tum theo 5 tuyến: Tham quan thành phố Kon Tum, du lịch sinh thái Măng Đen, du lịch sinh thái-văn hóa-lịch sử, du lịch văn hóa-lịch sử-chiến trường xưa, du lịch con đường xanh Tây Nguyên nối dài Kon Tum-Gia Lai-Đăk Lăk-Đăk Nông-Lâm Đồng-Thành phố Hồ Chí Minh...
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Nga chia sẻ những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp, địa phương trong việc phát triển du lịch; đặc biệt là trong thời gian dịch bệnh Covid-19 xảy ra, dẫn đến hoạt động du lịch gần như ngưng trệ, ảnh hưởng đến doanh thu và đời sống của cán bộ nhân viên làm việc trong lĩnh vực du lịch.
Để kích cầu phát triển du lịch, đồng thời thực hiện có hiệu quả Chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” do Bộ VH-TT&DL và Tổng cục Du lịch Việt Nam phát động, đồng chí Trần Thị Nga đề nghị, trong thời gian tới lãnh đạo Sở VH-TT&DL, Phòng VHTT các huyện - thành phố, Hiệp hội Du lịch tỉnh, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành du lịch, khách sạn, nhà hàng trên địa bàn tỉnh xây dựng các kịch bản kích cầu phát triển du lịch. Trong đó, chú trọng đến các nội dung: Xây dựng các sản phẩm du lịch mới đa dạng, phong phú hơn; xây dựng các tour, điểm du lịch mới, gắn với du lịch tham quan, tìm hiểu các sản phẩm đặc sản mỗi địa phương; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên làm công tác du lịch; giảm giá các dịch vụ ăn, ở, vui chơi, giải trí cho du khách, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ du lịch...
Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu lãnh đạo Sở VH-TT&DL tham mưu UBND tỉnh tổ chức Lễ phát động thực hiện Chương trình  “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” theo kế hoạch của Bộ VH-TT&DL và Tổng cục Du lịch Việt Nam tại huyện Kon Plông; xây dựng kế hoạch cụ thể và đề nghị các tổ chức, đơn vị giảm giá vé tham quan các điểm du lịch, bảo tàng, di tích văn hóa - lịch sử... để thu hút khách đến với Kon Tum.
6. Trong ba ngày (từ 19 đến 21-5), Đảng bộ huyện Ia H’Drai đã tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025. Đây là đại hội điểm cấp huyện của tỉnh Kon Tum.
Về tham dự đại hội có nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; các Ủy viên T.Ư Đảng: Hà Ban, Phó Trưởng Ban Tổ chức T.Ư; Nguyễn Văn Hùng, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra T.Ư; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Kon Tum và hơn 200 đại biểu.
Ia H’Drai là huyện vùng biên, mới thành lập được 5 năm. Trong thời gian qua, Ia H’Drai đã tranh thủ tốt thời cơ và điều kiện thuận lợi, xác định khó khăn là cơ hội để có tư duy mới, đột phá trong lãnh đạo của cấp ủy và chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương; Đảng bộ, quân và dân huyện Ia H’Drai đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.
Nổi bật thành tích trong 5 năm qua là từ ba chi bộ với 65 đảng viên, đến nay, Đảng bộ huyện Ia H’Drai đã có 23 tổ chức cơ sở đảng với hơn 500 đảng viên và huyện không còn thôn, làng chưa có tổ chức cơ sở đảng. Huyện vùng biên Ia H’Drai đã luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị từ huyện đến xã; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn…Về phát triển kinh tế, huyện hình thành được vùng chuyên canh cây cao-su dọc tuyến biên giới giáp nước bạn Campuchia với hơn 24.000 ha; công nghiệp sản xuất điện năng; công nghiệp chế biến phát triển; mỗi năm huyện giảm được từ 5 đến 6% hộ nghèo. Lĩnh vực quốc phòng, an ninh được tăng cường; y tế, giáo dục, an sinh xã hội đạt nhiều kết quả tích cực.
Về phương hướng của nhiệm kỳ tới, Đảng bộ huyện Ia H’Drai xác định: Xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để xây dựng huyện Ia H’Drai phát triển nhanh, bền vững, đạt chuẩn nông thôn mới cuối nhiệm kỳ. Về mặt kinh tế, tích cực khai thác các tiềm năng, thế mạnh mà huyện đang có như vùng nguyên liệu cao-su, vùng đất mặt nước thủy điện; tiềm năng về du lịch; về năng lượng sạch. Kêu gọi các nhà đầu tư có tiềm năng, tâm huyết gắn bó với địa bàn, cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương và bà con nhân dân ở đây cùng nhau phát triển kinh tế, nâng cao vật chất, tinh thần của nhân dân.
Với tinh thần dân chủ, đoàn kết, trách nhiệm cao, Đại hội đã bầu Ban Chấp hành nhiệm kỳ mới, gồm 29 đồng chí; bầu đoàn đại biểu đi dự đại hội cấp trên, gồm 11 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Hữu Thạch được Đại hội tín nhiệm tái cử giữ chức Bí thư Huyện ủy.
Ngay sau thành công của Đại hội, Huyện ủy Ia H’Drai đã rút ra được một số kinh nghiệm trong quá trình chuẩn bị, tổ chức đại hội, cụ thể như: chuẩn bị hết sức chu đáo về nội dung, nhân sự và khâu tổ chức phục vụ. Bám sát vào 3 nội dung, yêu cầu này xây dựng chương trình, kế hoạch thật cụ thể, phân công chi tiết đến từng người, từng đầu mối giúp việc và tuân thủ chặt chẽ các quy trình, quy định. Những kinh nghiệm trong tổ chức thành công đại hội điểm Đảng bộ huyện Ia H’Drai sẽ được Tỉnh ủy Kon Tum phổ biến đến các Đảng bộ cấp huyện và tương đương đang trong quá trình chuẩn bị tổ chức đại hội.
III. TIN TRONG NƯỚC
1. Một số kết quả chủ yếu Hội nghị lần thứ 12, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
Từ ngày 11-5 đến ngày 14-5-2020, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII họp Hội nghị lần thứ 12 để thảo luận, cho ý kiến về: Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII của Đảng; Phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2019; Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng năm 2019 và một số vấn đề quan trọng khác. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị.
(1) Về phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII:
Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận kỹ lưỡng, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc và thống nhất cao với Báo cáo của Bộ Chính trị trình Hội nghị. Cụ thể là:
Về yêu cầu xây dựng Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Trung ương nhấn mạnh: Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa hai kỳ Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII phải là một tập thể thật sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, thống nhất ý chí và hành động, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiêu biểu về trí tuệ, có tầm nhìn chiến lược, có tư duy đổi mới, sáng tạo; tiêu biểu cho toàn Đảng về tính chiến đấu, tính kỷ luật; gắn bó mật thiết với nhân dân, biết lắng nghe, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, quy tụ được sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân; đủ uy tín, năng lực lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới.
Về việc xác định tiêu chuẩn Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII phải căn cứ vào tiêu chuẩn chung của cán bộ được nêu trong các quy định của Đảng. Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải là những đồng chí thật sự tiêu biểu, mẫu mực của Ban Chấp hành Trung ương về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo, quản lý, ý thức tổ chức kỷ luật; có tầm nhìn và tư duy chiến lược, có khả năng phân tích, dự báo, tổng hợp, đề xuất những vấn đề mới một cách đúng đắn; có trình độ hiểu biết sâu sắc về lý luận chính trị, biết phát hiện và sử dụng người có đức, có tài; là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, còn trong độ tuổi theo quy định và đủ sức khoẻ để đảm đương nhiệm vụ.
Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII cần có số lượng và cơ cấu hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, có tính kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển. Tăng cường số lượng Ủy viên Trung ương ở các vị trí, địa bàn, lĩnh vực công tác trọng yếu; chú ý tăng tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc ít người. Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII cần có 3 độ tuổi (dưới 50; 50 - 60 và từ 61 tuổi trở lên). Trường hợp đặc biệt nào cần phải cơ cấu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ngoài độ tuổi theo quy định thì Bộ Chính trị cân nhắc, trình Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định việc đề cử với Đại hội Đảng.
(2) Về phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp lần này tiếp tục được tổ chức vào cùng một ngày trên phạm vi cả nước, trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện và đồng bộ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước mới được ban hành.
Để bảo đảm tổ chức thành công cuộc bầu cử, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề ra, để ngày bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân, cần phát huy cao độ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; sự hưởng ứng, tích cực tham gia, phát huy đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân của cử tri cả nước. Phấn đấu giới thiệu, lựa chọn bầu được những đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thật sự tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý, trong đó lấy tiêu chuẩn, chất lượng đại biểu là ưu tiên hàng đầu, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Phấn đấu bầu đủ 500 đại biểu Quốc hội và đạt tỉ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách.
Tiêu chuẩn người ứng cử, đề cử bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải căn cứ vào tiêu chuẩn được quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, và tiêu chuẩn cán bộ được quy định trong các nghị quyết, quy định của Đảng. Ngoài những tiêu chuẩn chung, người ứng cử làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách còn phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, lĩnh vực chuyên môn, vị trí công tác và độ tuổi theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức. Riêng đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, cần đáp ứng yêu cầu cao về phẩm chất chính trị, nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng; am hiểu pháp luật và có năng lực xây dựng pháp luật; có trình độ chuyên môn sâu và kiến thức thực tiễn.
Trên cơ sở tổng kết, đúc rút kinh nghiệm việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các khóa gần đây và ý kiến đóng góp của Trung ương, nhất là về những hạn chế, khuyết điểm, cần có những điều chỉnh, bổ sung cụ thể, chặt chẽ các quy định về trách nhiệm, quyền hạn và sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị phụ trách tổ chức bầu cử; quy trình đề cử, ứng cử; việc phân bổ người ứng cử đại biểu Quốc hội do Trung ương giới thiệu; việc thẩm định hồ sơ người tự ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; việc tuyên truyền, vận động bầu cử; giải quyết khiếu nại, tố cáo… Đối với các trường hợp tự ứng cử, cũng phải có quy trình thật chặt chẽ, đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Quy định rõ việc gì được làm, việc gì không được làm trong vận động bầu cử; tránh tình trạng "vận động" không lành mạnh.
Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần này, Bộ Chính trị sẽ ban hành Chỉ thị; chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội khẩn trương hoàn chỉnh Đề án trình Quốc hội xem xét, quyết định để tổ chức thực hiện, bảo đảm chuẩn bị và tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.
(3) Về việc phân bổ đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
Với kinh nghiệm thực tiễn tổ chức đại hội đảng ở các cấp, các đồng chí Ủy viên Trung ương đã đóng góp nhiều ý kiến cụ thể, xác đáng. Trung ương nhất trí cao với những nguyên tắc và các căn cứ phân bổ đại biểu và dự kiến số lượng phân bổ đại biểu đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương và giao Bộ Chính trị quyết định cụ thể việc phân bổ đại biểu. Các đảng bộ trực thuộc cần thực hiện nghiêm túc các quyết định của Trung ương, lựa chọn các đại biểu thực sự xứng đáng, tiêu biểu, đại diện cho đảng bộ của mình dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
(4) Về kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2019
Ban Chấp hành Trung ương tán thành Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2019; đánh giá cao công tác chuẩn bị, quá trình tiến hành và kết quả kiểm điểm; cho rằng việc kiểm điểm đã được tiến hành nghiêm túc, cầu thị, đúng nguyên tắc. Trung ương khẳng định, Bộ Chính trị, Ban Bí thư là một tập thể lãnh đạo đoàn kết, thống nhất cao về chính trị, tư tưởng; kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc, bảo đảm sự lãnh đạo tập thể, đồng thời phát huy được vai trò cá nhân trong phạm vi công tác được phân công. Sinh hoạt của Bộ Chính trị, Ban Bí thư dân chủ, thẳng thắn, giữ vững nguyên tắc, chế độ làm việc, chân thành và cầu thị.
Ban Chấp hành Trung ương đánh giá cao Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã luôn bám sát các quan điểm, đường lối nêu trong Cương lĩnh, Chiến lược, Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng và tình hình thực tiễn để kịp thời có những chủ trương, quyết sách đúng đắn, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực về đối nội và đối ngoại. Đồng thời, chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong lãnh đạo, chỉ đạo; hoan nghênh việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Trung ương về những việc còn chưa làm được.
Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp thu ý kiến góp ý xác đáng của Trung ương để có những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ và quyết liệt hơn trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ của năm 2020 và những năm sắp tới.
(5) Về công tác nhân sự
Thực hiện Kế hoạch số 11-KH/TW, ngày 06/11/2018 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã tiến hành ghi phiếu giới thiệu nhân sự quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII theo đúng quy định của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu bổ sung 2 Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XII. Cũng tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Nguyễn Văn Hiến, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
2. Tiếp tục thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp sau đại dịch Covid-19
Theo dự báo mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): Những tổn thất do dịch Covid-19 gây ra cho nền kinh tế toàn cầu trong năm 2020 có thể nhiều hơn năm 2009. GDP toàn cầu dự báo tăng trưởng -3%, trong đó, tăng trưởng   khu vực ASEAN sẽ là -0,6%; Mỹ - 5,9%, Anh - 6,5% và khu vực đồng tiền chung châu Âu - 7,5%. Các nền kinh tế đang phát triển sẽ sụt giảm 2% GDP thay vì tốc độ tăng trưởng bình quân liên tục 4,6%/năm trong suốt 60 năm qua… Báo cáo đánh giá sơ bộ của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)“Covid-19 và thế giới việc làm: Tác động và giải pháp” nhận định, cuộc khủng hoảng kinh tế và lao động do dịch Covid-19 gây ra có thể làm tăng thêm 25 triệu người thất nghiệp trên toàn cầu, so với số lượng người thất nghiệp sẵn có là 188 triệu trong năm 2019.
Trong những tháng đầu năm 2020, phản ánh xu hướng khó khăn chung của các nước trên thế giới, gắn với đại dịch Covid-19, kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều tổn thất, khó khăn hơn so cùng kỳ năm 2019theo 2 hướng: (1) tăng lạm phát, thất nghiệp và số doanh nghiệp dừng hoạt động, phá sản; dư nợ tín dụng dự kiến bị ảnh hưởng bởi dịch lên đến khoảng 2 triệu tỉ đồng, chiếm khoảng 23% dư nợ toàn hệ thống, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với hoạt động ngân hàng…; (2) giảm lượng du khách quốc tế, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, số vốn FDI tăng thêm và vốn góp, mua cổ phần, giảm về vốn đăng ký và về số lao động của các doanh nghiệp đăng ký mới. Dù trong tháng 4, cả nước có 3.810 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 11,3% so với tháng 3 và tăng 40,4% so với cùng kỳ năm 2019, song tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có 37,6 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 13,2% về số doanh nghiệp, giảm 17,9% về vốn đăng ký, giảm 29,7% về số lao động và giảm 5,5% về vốn bình quân/doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2019. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện và xuất khẩu quý I/2020 đạt mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016 - 2020. Theo kết quả khảo sát nhanh gần 130.000 doanh nghiệp do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành cuối tháng 4/2020, khoảng 86% doanh nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19; doanh thu dự kiến 4 tháng đầu năm 2020 giảm mạnh, xuống còn khoảng 70% so cùng kỳ năm 2019; trên 45% số doanh nghiệp đang bị thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn tăng 33,6% so với cùng kỳ 2019…
Tuy nhiên, theo “Báo cáo Đông Á và Thái Bình Dương thời Covid-19” được Ngân hàng Thế giới công bố ngày 31/3/2020, mức tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý I/2020 là 3,82%, dù là mức thấp nhất trong 11 năm qua của Việt Nam, nhưng lại là con số cao nhất trong số các nước có được số liệu đến thời điểm này.
Sau đợt cao điểm chống đại dịch Covid-19 kéo dài, tính đến ngày 18/5/2020 cả nước không có người tử vong do Covid-19; liên tục 32 ngày không có ca mắc mới trong cộng đồng và chỉ còn 60/320 người nhiễm bệnh đang được điều trị tai các cơ sở y tế. Việt Nam đang được cộng đồng thế giới đánh giá cao cả về năng lực đối phó, kiểm soát đại dịch Covid-19 và nỗ lực duy trì động lực tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Chính phủ đã, đang và sẽ tiếp tục có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân chịu ảnh hưởng của đại dịch[2]. Đặc biệt, từ ngày 23/4/2020, các hoạt động kinh tế - xã hội trên cả nước đã và đang từng bước phục hồi về lĩnh vực, phạm vi và công suất hoạt động bình thường, trên cơ sở bảo đảm việc đeo khẩu trang và giữ khoảng cách an toàn y tế. Theo chỉ đạo của Chính phủ, các kịch bản phục hồi kinh tế hậu Covid-19 đang được xây dựng và xúc tiến triển khai ở cả cấp quốc gia, ngành và địa phương.
Tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp lần thứ 4 tổ chức ngày 09/5/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: “Giờ là lúc lò xo bị nén lại sẵn sàng để bung ra. Cần tập trung hơn nữa khởi động nền kinh tế, phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2020 trên 5%, không thấp như IMF dự báo chỉ 2,7%”; “Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam cần đóng góp vào phát triển, kinh tế sau dịch phải hình chữ V, chứ không phải chữ U, càng không phải chữ W”. Đồng thời, Thủ tướng xác định 5 mũi giáp công để tái khởi động nền kinh tế trong lúc này là: (1) Tăng cường thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước, nhất là đầu tư tư nhân; (2) Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI); (3) Tăng cường xuất khẩu; (4) Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; (5) Khuyến khích tăng cường nhu cầu nội địa. Các bộ, ngành, địa phương phải tháo gỡ cho doanh nghiệp.
Để tiếp tục kiểm soát an toàn dịch bệnh và điều tiết nền kinh tế bị nén trong thời gian qua, từng bước tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp sau: Thứ nhất, quán triệt và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, ngành, địa phương về các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới; đặc biệt thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị của Thủ tướng với doanh nghiệp lần thứ tư vừa qua. Thứ hai, thực hiện nhất quán và triệt để việc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh giải quyết các điểm nghẽn, bất cập làm cản trở doanh nghiệp phát triển. Thứ ba, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp chủ động hơn nguồn cung ứng nguyên liệu, sản xuất linh kiện, sản phẩm trung giantrong nước; nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường, thúc đẩy kết nối giữa các nhà sản xuất và phân phối, ngân hàng với doanh nghiệp, khai thác tốt các cơ hội mới từ các hiệp định thương mại tự do mới...Thứ tư, thực hiện các giải pháp kích cầu thị trường nội địa; thúc đẩy đầu tư công; đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân và nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư công; tháo gỡ nút thắt trong lĩnh vực bất động sản, phát triển thị trường nhà ở xã hội; đẩy mạnh hoạt động truyền thông, quảng bá du lịch, đầu tư; xây dựng lộ trình phù hợp cho người nước ngoài đến Việt Nam du lịch để kích thích tăng trưởng ngành dịch vụ.
3. Một số nhiệm vụ, giải pháp phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai
Những năm gần đây, tình hình thiên tai ở nước ta diễn biến phức tạp, cực đoan, bất thường. Từ đầu năm 2020 đến nay, thiên tai gây thiệt hại lớn tại nhiều khu vực trong cả nước: hạn hán xảy ra ở cả 3 miền; xâm nhập mặn vượt mức lịch sử tại Đồng bằng sông Cửu Long; mưa lớn kèm theo dông, lốc, sét, mưa đá xảy ra liên tiếp tại một số tỉnh vùng miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên; mưa lớn từ ngày 12 - 14/4/2020 ở các tỉnh duyên hải miền Trung làm trên 19.500ha lúa bị ngập úng, gãy, đổ. Đây là hiện tượng thiên tai hiếm gặp, gây tổn thất nặng nề về người và tài sản, ảnh hưởng lớn đến môi trường, đời sống, sản xuất của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.
Theo nhận định của Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn quốc gia, năm 2020, thiên tai còn diễn biến phức tạp với khoảng 11 - 13 cơn bão xuất hiện trên Biển Đông, trong đó có 5 - 6 cơn bão trực tiếp ảnh hưởng đến đất liền. Bên cạnh đó, hạn hán, mưa lớn, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất… vẫn là nguy cơ đối với nhiều vùng, nhất là nguy cơ mưa, lũ đặc biệt lớn có thể xảy ra sau các đợt khô hạn kéo dài tương tự như các năm 2006, 2010 và 2016.
Ngày 24-3-2020, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 42-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Để chủ động phòng ngừa và sẵn sàng ứng phó có hiệu quả với các tình huống thiên tai, giảm thiểu thiệt hại, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt và thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm sau: Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc phân công, phân cấp, xác định rõ trách nhiệm, đặc biệt là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai theo phương châm "bốn tại chỗ" (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ) gắn với xây dựng cộng đồng an toàn. Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan theo hướng khắc phục các chồng chéo, xung đột, bổ sung các quy định mới bảo đảm sự thống nhất, phù hợp, tạo môi trường pháp lý đầy đủ, khả thi, thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Thứ ba, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, theo dõi, giám sát thiên tai bảo đảm kịp thời, đủ độ tin cậy. Chú trọng ưu tiên đầu tư cho công tác nghiên cứu cơ bản về thiên tai, hệ thống dự báo khí tượng thủy văn, hệ thống theo dõi, giám sát thiên tai chuyên dùng chuẩn hóa và hiện đại. Tăng cường rà soát, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng, dự báo dài hạn về thiên tai, nguồn nước, nhất là đối với các sông xuyên biên giới. Thứ tư, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Đa dạng hóa việc huy động nguồn lực và sử dụng hiệu quả nguồn lực theo phân cấp, đúng thẩm quyền. Kết hợp sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và ODA để thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình tổng thể, dự án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Thứ năm, nâng cao vai trò, năng lực quản lý nhà nước trên cơ sở củng cố, kiện toàn lực lượng làm công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai từ Trung ương đến cơ sở. Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác này theo hướng tập trung, thống nhất, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo. Thứ sáu, phát triển khoa học công nghệ và thúc đẩy hợp tác quốc tế về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Thúc đẩy hợp tác, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, nhất là với các nước thượng nguồn sông Hồng, sông Mê Công và các quốc gia trong khu vực. Nâng cao hiệu quả về hỗ trợ quốc tế, thực thi có hiệu quả các cam kết quốc tế về phòng ngừa, ứng phó, giảm nhẹ rủi ro thiên tai mà Việt Nam tham gia. Thứ bảy, phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân phát huy vai trò tập hợp lực lượng, đặc biệt là lực lượng xung kích tại cơ sở; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giáo dục cập nhật kiến thức, kỹ năng, nâng cao nhận thức, năng lực, tính chủ động cho đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
4. Một s kết qu ch yếu sau 10 năm thc hin Kết lun s 53-KL/TW ca Bộ Chính tr v Đề án “An ninh lương thc quc gia đến năm 2020”
Một số kết quả nổi bật: Thứ nhất, sản xuất lương thực, thực phẩm tăng trưởng khá cao, nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đưa Việt Nam từ nước thiếu đói, phải nhập khẩu lương thực, trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Giai đoạn 2009 - 2018, sản lượng lúa tăng từ 39,17 triệu tấn lên 44 triệu tấn; bình quân lương thực đầu người tăng từ 497 kg/năm lên trên 525 kg/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 6 nước hàng đầu về chỉ số này và có đóng góp quan trọng hỗ trợ an ninh lương thực (ANLT) cho các quốc gia khác trên thế giới. Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn được đầu tư phát triển, nhất là hệ thống thủy lợi và giao thông nông thôn. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được đầu tư nâng cấp và từng bước hiện đại hóa, phục vụ ngày càng tốt hơn cho sản xuất, đời sống dân sinh, phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu[3]. Tổng năng lực tưới của hệ thống thủy lợi đạt 4,062 triệu ha đất canh tác, đảm bảo tưới 7,18 triệu ha. Tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đã làm tăng hiệu quả sản xuất, tăng năng suất cây trồng từ 10 - 30%, tiết kiệm nước so với truyền thống từ 20 - 40%, giảm lượng phân bón từ 5 - 30%. Thứ ba, các hoạt động ứng dụng, chuyển giao khoa học -  công nghệ cho nông dân được triển khai mạnh mẽ. Ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ từng bước xây dựng được thương hiệu, chỉ dẫn địa lý cho các ngành hàng, sản phẩm của các vùng, miền; hình thành nhiều vùng cây ăn quả tập trung[4]; quy trình phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng chủ lực… Đào tạo nghề cho nông dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động; tập trung đào tạo lao động ở các vùng nguyên liệu, thành viên hợp tác xã, doanh nghiệp, trang trại tham gia liên kết theo chuỗi giá trị; lao động sản xuất ứng dụng công nghệ cao, áp dụng kỹ thuật tiên tiến; ưu tiên đào tạo cho lao động ở các vùng khó khăn, biên giới, hải đảo nhằm tạo sinh kế, giảm nghèo[5]. Thứ tư, phát triển thương mại hàng hóa nông sản, hệ thống lưu thông, gia tăng xuất khẩu lương thực, thực phẩm. Phát triển thị trường trong và ngoài nước với quy mô, cơ cấu thị trường, cơ cấu sản phẩm hợp lý, ổn định, bền vững và hiệu quả. Hoạt động tiêu thụ hàng hóa của nông dân, nông thôn đến nay đã được đa dạng hóa, các hình thức tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi, tiêu thụ qua hình thức cung ứng cho các siêu thị, trung tâm thương mại, hoạt động thương mại điện tử… bên cạnh các hình thức tiêu thụ truyền thống. Tổng kim ngạch xuất khẩu 10 năm (2009 - 2018) đạt 285,1 tỷ USD đứng thứ 2 Đông Nam Á và thứ 15 thế giới, tăng bình quân 9,24%/năm, năm 2018 đạt mức cao kỷ lục 40,02 tỷ USD; cán cân thương mại liên tục xuất siêu. Thứ năm, nâng cao thu nhập, đời sống của người trồng lúa và nông dân. Thực hiện các chính sách đối với người trồng lúa và các địa phương trồng lúa, bảo đảm lãi của nông dân sản xuất lúa trên 30% giá thành sản xuất,Chính phủ đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp: hỗ trợ trồng lúa, giảm thủy lợi phí, thu mua tạm trữ lúa gạo, đẩy mạnh xuất khẩu[6].
Một số hạn chế: Một số mục tiêu của Đề án An ninh lương thực quốc gia đề ra không đạt; những tồn tại, yếu kém về tổ chức sản xuất, chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sản xuất lương thực thực phẩm chậm được khắc phục. Thách thức lớn hiện nay là đảm bảo an ninh lương thực đồng đều cho mọi người ở mọi vùng miền, nhất là đồng bào dân tộc ít người và ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc đảm bảo an ninh lương thực không chỉ tập trung vào đảm bảo nguồn cung mà phải quan tâm nhiều hơn đến an toàn thực phẩm, an ninh dinh dưỡng và sự đảm bảo an ninh lương thực ổn định gắn với nâng cao đời sống, thu nhập của người nông dân.
Một số giải pháp trong thời gian tới
Để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực đến năm 2030, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: (1) Đảm bảo đủ nguồn cung lương thực, thực phẩm có chất lượng với sản lượng cao hơn tốc độ tăng dân số (dự báo đến năm 2030, nước ta có trên 103 triệu người); đồng thời, đảm bảo khả năng tiếp cận của mọi người dân lương thực, thực phẩm an toàn, bổ dưỡng nhằm nâng cao thể trạng, trí tuệ, tầm vóc con người Việt Nam. (2) Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách nông nghiệp, trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 2013 và các quy định pháp luật về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, quản lý và sử dụng đất lúa, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, định hướng đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai được nêu tại Nghị quyết Trung ương 6, khóa XI và Kết luận 36-KL/TW, ngày 06/09/2018 của Bộ Chính trị. (3) Đảm bảo ANLT quốc gia gắn với nâng cao thu nhập, đời sống của người sản xuất lương thực, thực phẩm, đảm bảo nguồn sinh kế cho người trồng lúa, đặc biệt là hộ nghèo. Hỗ trợ, nhân rộng các điển hình tiên tiến, mô hình tốt, cách làm hay trong thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Quan tâm đến phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng và chăm lo đời sống của người nông dân vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới và đồng bào dân tộc. (4) Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đảm bảo ANLT quốc gia trong tình hình mới gắn liền với cơ cấu lại nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững ở nông thôn.
C. VĂN BẢN MỚI
I. VĂN BẢN CỦA TỈNH
1. Ngày 01/5/2020, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch 1490/KH-UBND về triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, các đối tượng được hỗ trợ, định mức, trình tự, thủ tục hỗ trợ cụ thể: (a) Người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương: Hỗ trợ theo quy định tại Khoản 1, mục II, Nghị quyết số 42/NQ-CP; Chương I, Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg. (b) Hộ kinh doanh cá thể có doanh thu khai thuế dưới 100 triệu đồng/năm tạm ngừng kinh doanh từ ngày 01 tháng 4 năm 2020: Hỗ trợ theo quy định tại Khoản 3, mục II, Nghị quyết số 42/NQ-CP; Theo quy định tại Chương II, Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg. (c) Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp: Hỗ trợ theo quy định tại Khoản 4, mục II Nghị quyết số 42/NQ-CP; Chương III Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg. (d) Người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm : Hỗ trợ theo quy định tại Khoản 4, mục II Nghị quyết số 42/NQ-CP; Chương IV Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg. (e) Người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng (bao gồm cả thân nhân người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng, thương binh đang hưởng chế độ mất sức lao động hằng tháng): Hỗ trợ theo quy định tại Khoản 5, mục II Nghị quyết số 42/NQ-CP; Điều 9, Chương V Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg. (g) Đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng chính sách trợ cấp xã hội hằng tháng, trong danh sách hưởng trợ cấp xã hội tháng 4 năm 2020: Hỗ trợ theo quy định tại Khoản 6, mục II Nghị quyết số 42/NQ-CP; Điều 11, Chương V Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg. (h) Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo trong danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo đến ngày 31 tháng 12 năm 2019: Hỗ trợ theo quy định tại Khoản 7, mục II Nghị quyết số 42/NQ-CP; Theo Điều 10, Chương V Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg. (i) Người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động: Hỗ trợ theo Khoản 2, mục II Nghị quyết số 42/NQ-CP; Chương VI Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg.
UBND tỉnh yêu cầu, trong khi chờ Trung ương bổ sung kinh phí, các đơn vị, địa phương chủ động sử dụng nguồn ngân sách tỉnh tạm cấp và nguồn kinh phí nhàn rỗi của ngân sách cấp huyện để thực hiện. Trường hợp vẫn còn thiếu nguồn, địa phương có văn bản gửi Sở Tài chính để giải quyết tăng tiến độ rút số bổ sung dự toán ngân sách cấp huyện năm 2020 để đảm bảo nguồn thực hiện.
Đến hết ngày 31 tháng 5 năm 2020, các đơn vị, địa phương rà soát, tổng hợp danh sách và nhu cầu kinh phí thực tế chi trả cho các đối tượng gặp khó khăn do chịu sự tác động bởi dịch bệnh Covid-19 (có xác nhận của Kho bạc nhà nước) gửi Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Lao động-Thương binh và Xã hội để tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, cấp bổ sung kinh phí còn thiếu theo quy định.
Nguồn vốn Ngân hàng Chính sách xã hội cho người sử dụng lao động vay để trả lương ngừng việc cho người lao động được Ngân hàng Chính sách xã hội vay tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước.
Chậm nhất trước ngày 10/5/2020 phải hoàn thành công tác rà soát lại đối tượng, thống kê, lập danh sách, thủ tục trình thẩm định, có quyết định phê duyệt và thực hiện chi hỗ trợ trước đối với các nhóm đối tượng: Người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng; Đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng chính sách trợ cấp xã hội hằng tháng, trong danh sách hưởng trợ cấp xã hội tháng 4 năm 2020; Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo trong danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo đến ngày 31 tháng 12 năm 2019.
Thời gian triển khai thực hiện việc hỗ trợ các chính sách cho các tổ chức, cá nhân cần rà soát, phát sinh theo thực tế của từng tháng sẽ thực hiện hỗ trợ sau khi hoàn chỉnh thủ tục theo quy định; bắt đầu từ 02/5/2020 và thực hiện kết thúc chậm nhất đến ngày 30/6/2020.
2. Ngày 05/5/2020, Ban chỉ đạo 389 tỉnh ban hành Kế hoạch 37/KH-SCT về triển khai công tác thông tin, tuyên truyền công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả năm 2020.
Theo đó, đối tượng tuyên truyền là các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh, cán bộ, công chức làm công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và quần chúng Nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Nội dung tuyên truyền tập trung vào kết quả công tác triển khai chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong từng giai đoạn; những vụ việc điển hình, nổi cộm mà các lực lượng chức năng phát hiện, kiểm tra, xử lý.
Phổ biến chính sách pháp luật, những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách trong thực thi nhiệm vụ của các lực lượng chức năng thuộc Ban Chỉ đạo 389 tỉnh, Ban Chỉ đạo 389 các huyện, thành phố; Phản ánh những vụ việc kiểm tra, xử lý của các lực lượng chức năng; những phương thức, thủ đoạn của các đối tượng để buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Tuyên truyền về những gương điển hình trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Tuyên truyền vận động quần chúng Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp tham gia cung cấp thông tin liên quan đến phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả qua đường dây nóng; không tiếp tay cho đối tượng vi phạm pháp luật.
Công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đối với sản phẩm trang thiết bị, vật tư y tế phòng dịch Covid-19; Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh, xử lý đối với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng kém chất lượng.
Chống buôn lậu, gian lận thương mại đối với mặt hàng xăng dầu, thuốc lá, phân bón; nhóm hàng ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng như: Dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu; Thực trạng và công tác quản lý nhà nước trong đấu tranh chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ, hàng chuyển tải, hàng quá cảnh…
Xây dựng chương trình, chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề, bài viết, phóng sự, bài nói, tin tức, bản tin chuyên ngành…về các nội dung cần thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; Xu hướng giao dịch thương mại điện tử và những vấn đề đặt ra trong chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong hoạt động thương mại điện tử; Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước trong giao dịch thương mại điện tử và những vi phạm về gian lận thương mại điện tử. 
3. Ngày 09/5/2020, tại văn bản sô 1590/UBND-KGVX, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu:
1. Thủ trưởng các Sở, ban, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố: (a) Luôn đề cao cảnh giác, không lơ là, chủ quan, quyết không để dịch bệnh trở lại. Đồng thời, xác lập tình trạng bình thường mới trong các hoạt động kinh tế - xã hội để dần đưa xã hội trở lại bình thường trên tinh thần tập trung đẩy mạnh các hoạt động phục hồi kinh tế. (b) Kiên quyết ngăn chặn nguồn bệnh xâm nhập từ nước ngoài. Tất cả người nhập cảnh đều phải được cách ly tập trung 14 ngày; trừ các trường hợp là nhà đầu tư, chuyên gia, lao động tay nghề cao thì có biện pháp cách ly phù hợp, chủ doanh nghiệp, cơ quan y tế địa phương chịu trách nhiệm giám sát việc cách ly các trường hợp này, tuyệt đối không để nguồn bệnh lây lan ra cộng đồng. (c) Sẵn sàng ứng phó với các trường hợp dương tính tại cộng đồng. Ban chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 các cấp phải duy trì các đội phản ứng nhanh, kịp thời phát hiện, khoanh vùng, cách ly, dập dịch hiệu quả. Tổ chức ứng trực mức 100%, bảo đảm xử lý kịp thời các tình huống dịch bệnh xảy ra. (d) Tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh; đặc biệt phải tập trung đẩy nhanh các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 theo Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, không để lợi dụng, trục lợi chính sách.
2. Tiếp tục thực hiện các biện pháp bắt buộc đeo khẩu trang tại nơi công cộng, ngoài phạm vi công sở, trường học, trên các phương tiện giao thông công cộng; rửa tay sát khuẩn, bảo đảm vệ sinh cá nhân.
3. Thống nhất cho mở lại và bỏ quy định giãn cách đối với các cơ sở, sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ với yêu cầu thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn như đeo khẩu trang, sát khuẩn tay; riêng đối với các cơ sở dịch vụ như nhà hàng, quán ăn thì chỉ yêu cầu sát khuẩn tay. Chưa cho mở lại vũ trường, dịch vụ karaoke.
4. Được phép tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, hoạt động có tập trung đông người với yêu cầu phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn như đeo khẩu trang, sát khuẩn tay.
5. Sở Y tế: (a) Tiếp tục kiện toàn năng lực cho các phòng xét nghiệm xác định COVID-19, chuẩn bị sẵn sàng máy và sinh phẩm, bảo đảm đầy đủ các điều kiện cần thiết phục vụ xét nghiệm. Theo dõi, cập nhật tình hình dịch bệnh và các kỹ thuật, sinh phẩm chẩn đoán trên thế giới và tại Việt Nam để điều chỉnh hoạt động xét nghiệm phù hợp với công tác phòng, chống dịch. (b) Tiếp tục nghiên cứu phác đồ điều trị, xây dựng các hướng dẫn và tập huấn cho y tế cơ sở để thực hiện theo dõi, giám sát sức khỏe cho người dân tại cộng đồng và hướng dẫn xử lý khi có các trường hợp nghi ngờ nhiễm bệnh, dương tính với COVID-19 hoặc nhiễm dịch bệnh khác (nếu có). (c) Chuẩn bị sẵn sàng các bệnh viện, cơ sở thu dung điều trị và các điều kiện cần thiết phục vụ cho điều trị bệnh nhân COVID-19 và các dịch bệnh khác có thể xảy ra. (d) Cho phép các cơ sở khám chữa bệnh trở lại hoạt động bình thường, bảo đảm phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân.
6. Sở Giao thông vận tải: Hướng dẫn dỡ bỏ giãn cách và giới hạn số chỗ trên phương tiện giao thông công cộng.
7. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: (a) Xây dựng kế hoạch truyền thông về các điểm đến an toàn với những việc làm cụ thể, thiết thực, phù hợp với diễn biến tình hình dịch bệnh trên từng địa bàn; đẩy mạnh du lịch nội địa; chủ động tổ chức thị trường và chuẩn bị phương án tái khởi động thị trường du lịch quốc tế vào thời điểm thích hợp theo hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (b) Triển khai việc tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, hoạt động có tập trung đông người theo chỉ đạo.
8. Sở Giáo dục và Đào tạo: (a) Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục không bắt buộc giãn cách trong trường, lớp học; không bắt buộc học sinh đeo khẩu trang trong lớp học. Nhà trường tăng cường thực hiện các biện pháp lau khử khuẩn bề mặt, vệ sinh phòng, lớp học, nhà vệ sinh, bảo đảm phòng, lớp học thông thoáng, học sinh giữ gìn vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay sát khuẩn. (b) Có kế hoạch và tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học, bảo đảm kết quả trung thực, khách quan.
9. Sở Tài chính: Tăng cường quản lý kinh phí và bảo đảm bổ sung kịp thời kinh phí phòng, chống dịch cho các Sở, ngành, địa phương. Việc sử dụng kinh phí phải bảo đảm đúng quy định, không để tài sản nhà nước thất thoát; các sai phạm sẽ xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.
10. Các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố: Tập trung thu hút, xúc tiến mạnh mẽ hoạt động đầu tư từ các doanh nghiệp, tập đoàn.
11. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh: Đảm bảo tối đa công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19 trong việc mở lại các cửa khẩu phụ, lối mở trên địa bàn theo nguyên tắc quy định tại Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền, Nghị định số 14/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới và bảo đảm quy trình kiểm soát, phòng chống dịch bệnh; chỉ mở các cửa khẩu phụ, lối mở để giao thương hàng hóa, không cho phép xuất nhập cảnh đối với người; không để lợi dụng việc mở các cửa khẩu phụ, lối mở này để buôn lậu, gian lận thương mại.
12. Các Sở: Ngoại vụ, Y tế, Giao thông vận tải, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh: Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ đã được phân công, trong đó có việc đưa công dân Việt Nam đang bị kẹt ở nước ngoài về nước, bảo đảm trật tự, mức độ phù hợp năng lực tiếp nhận, cách ly trong tỉnh.
4. Ngày 13/5/2020, Ban Chỉ đạo Chương trình hành động vì trẻ em tỉnh ban hành Kế hoạch số 1646/KH-BCĐ về tổ chức các hoạt động hưởng ứngTháng hành động vì trẻ em năm 2020.
Theo đó, Kế hoạch đề ra chủ đề thực hiện năm 2020 là “Chung tay bảo vệ trẻ em, phòng chống xâm hại trẻ em”, được thực hiện từ ngày 01 đến ngày 30/6/2020.
Nội dung hoạt động bao gồm:
1Tổ chức các hoạt động truyền thông, vận động xã hội: (a) Đẩy mạnh công tác truyền thông trong Tháng hành động vì trẻ em năm 2020 thông qua tổ chức các hoạt động truyền thông phù hợp, thông qua các kênh truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng; báo chí, mạng xã hội và truyền thông tư vấn tại cộng đồng về pháp luật, chính sách hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, in ấn băng rôn khẩu hiệu, đĩa CD tuyên truyền, xuất bản tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền...(b) Tổ chức các hoạt động truyền thông nhằm tuyên truyền cho trẻ em và gia đình vềphòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em; ngăn ngừa giảm thiểu tai nạn, thương tích trẻ em; thường xuyên rà soát, kiểm tra, phát hiện và có biện pháp khắc phục kịp thời những nơi nguy hiểm thường xảy ra tai nạn đuối nước, tai nạn giao thông cho trẻ em;
2Hỗ trợ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: (a) Vận động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân ủng hộ nguồn tài chính để xây dựng và phát triển Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp, thăm hỏi tặng quà động viên giúp đỡ  trẻ emnghèo, trẻ em là đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em khó khăn vùng sâu, vùng xa; đỡ đầu, trợ giúp trẻ em nghèo, trẻ em bị bạo lực, xâm hại; xây dựng các công trình phúc lợi, hỗ trợ thiết bị vui chơi giải trí, bộ đồ dùng học tập, tủ sách cho trẻ em tại cộng đồng, công trình nước sạch trong trường học; kết nối, tiếp nhận quà tặng từ Quỹ Bảo trợ Việt nam để tổ chức tặng quà, trao học bổng, sổ tiết kiệm cho, xe đạp, bảo hiểm cho trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. (b) Chăm sóc sức khỏe và phẫu thuật miễn phí cho trẻ em: Vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ hỗ trợ khám, chữa bệnh cho trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; kết nối các nhà tài trợ khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh, các bệnh hiểm nghèo, các bệnh về khuyết tật, dị tật vận động và các dạng bệnh khác; phối hợp với các đơn vị, ngành chức năng trong và ngoài tỉnh triển khai, tổ chức thực hiện. (c) Tổ chức thăm tặng quà và giúp đỡ trẻ em bị khuyết tật, mồ côi, lang thang cơ nhỡ, trẻ em tự lao động kiếm sống, trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em bị bệnh, bị thiên tai, tổ chức các hoạt động vui chơi, đặc biệt quan tâm đến trẻ em tại các xã khó khăn.
5. Ngày 14/5/2020, Tiểu ban Tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh ban hành Văn bản số 753/CV-TBTT đề nghị (các cơ quan báo chí địa phương; Trang thông tin điện tử các Sở, ban, ngành, đoàn thể; UBND các huyện, thành phố; Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh; phóng viên các cơ quan báo chí trung ương thường trú tại địa phương) tích cực tuyên truyền việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19, Tiểu ban tuyên truyền Ban chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh đề nghị các cơ quan, đơn vị  tích cực tuyên truyền, phổ biến Kế hoạch số 1490/KH-UBND ngày 01/5/2020 về triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Kon Tum và các văn bản, quy định hỗ trợ của Trung ương; Kế hoạch của tỉnh để các tổ chức, cá nhân và Nhân dân trong toàn tỉnh biết, thực hiện hiệu quả, đúng quy định.
Phản ánh việc chi hỗ trợ cho các đối tượng đảm bảo kịp thời, công khai, minh bạch, thể hiện sự quan tâm của các cấp chính quyền trong nỗ lực chia sẻ khó khăn, bảo đảm cuộc sống của Nhân dân, người lao động trên địa bàn tỉnh; Phản ánh những tấm gương tập thể, cá nhân tham gia tích cực, có nhiều đóng góp trong quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19.
Ngoài ra, tích cực tuyên truyền văn bản số 1590/UBND-KGVX ngày 09/5/2020 của UBND tỉnh về triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 177/TB-VPCP ngày 08 tháng 5 năm 2020; trong đó, thông tin về việc tiếp tục thực hiện các biện pháp bắt buộc đeo khẩu trang tại nơi công cộng, ngoài phạm vi công sở, trường học, trên các phương tiện giao thông công cộng; rửa tay sát khuẩn, bảo đảm vệ sinh cá nhân… để Nhân dân đề cao cảnh giác, không lơ là, chủ quan, quyết không để dịch bệnh trở lại.
Thông tin về các điểm đến an toàn với những việc làm cụ thể, thiết thực, phù hợp với diễn biến tình hình dịch bệnh trên từng địa bàn; đẩy mạnh du lịch nội địa; chủ động tổ chức thị trường và chuẩn bị phương án tái khởi động thị trường du lịch quốc tế vào thời điểm thích hợp theo hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
6. Ngày 19/5/2020, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Công văn số 1733/UBND-NC chỉ đạo các sở, ban, ngành thuộc tỉnh và UBND các huyện, thành phố tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao Chỉ số đánh giá phòng, chống tham nhũng (PACA INDEX).
Theo đó, để nâng cao chất lượng và hiệu quả Chỉ số PACA INDEX năm 2020 và những năm tiếp theo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố: (a) Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tập trung triển khai thực hiện tốt các giải pháp phòng, chống tham nhũng tại cơ quan, đơn vị, địa phương nhằm góp phần nâng cao chỉ số PACA INDEX chung của toàn tỉnh trong thời gian tới. (b) Tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp về công tác PCTN; khắc phục những hạn chế, yếu kém, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. (c) Nâng cao công tác quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực; thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; thực hiện nghiêm túc các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; thực hiện và chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về PCTN. Tăng cường hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị trực thuộc thực hiện nội dung công tác PCTN; thường xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhằm kịp thời phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng theo quy định… Phát huy vai trò xã hội, hội viên, đoàn viên và nhân dân trong công tác PCTN. (d) Chủ động tiến hành đánh giá, thu thập số liệu, tài liệu minh chứng và chấm điểm nội dung thuộc phạm vi ngành quản lý theo các tiêu chí thành phần của Bộ chỉ số PACA, tổng hợp báo cáo kết quả đánh giá gửi về Tổ đánh giá theo thời hạn quy định.
Chủ tịch UBND tỉnh giao Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện tốt các quy định về phòng, chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, người dân trên địa bàn tỉnh. Tăng cường thanh tra các lĩnh vực có nhiều nguy cơ và dư luận về tiêu cực, tham nhũng như: Các dự án đầu tư lớn; quản lý, sử dụng đất đai; cổ phần hóa, thoái vốn, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; việc mua bán chuyển nhượng tài sản công; các dự án mua sắm từ tài sản nhà nước… Tập trung kiểm tra, thanh tra xử lý dứt điểm những vấn đề tồn đọng kéo dài gây bức xúc mà cán bộ, đảng viên, nhân dân quan tâm. Tăng cường kiểm tra, thanh tra trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ PCTN. Công khai các kết luận thanh tra, kiểm tra cũng như việc chấp hành kết luận thanh tra, kiểm tra những vụ việc tham nhũng theo quy định...
II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg, ngày 24/4/2020 quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Quyết định gồm 21 điều. Các chế độ quy định tại Quyết định này được áp dụng từ ngày 01/4/2020. Một số nội dung chủ yếu của Quyết định:
- Người lao động được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau: (1) Thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương trong thời hạn của hợp đồng lao động, từ 1 tháng liên tục trở lên tính từ ngày 01/4/2020 đến hết ngày 30/6/2020 và thời điểm bắt đầu tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ ngày 01/4/2020 đến ngày 01/6/2020; (2) Đang tham gia BHXH bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương; (3) Làm việc tại các doanh nghiệp không có doanh thu hoặc không còn nguồn tài chính để trả lương (sau khi đã sử dụng các quỹ dự phòng tiền lương, nguồn lợi nhuận sau thuế và các nguồn tài chính hợp pháp khác của doanh nghiệp, số dư đến hết ngày 31/3/2020) do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.
- Hộ kinh doanh được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau: (1) Doanh thu do cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh năm 2020 dưới 100 triệu đồng, được xác định tại thời điểm ngày 15/01/2020 theo quy định của pháp luật quản lý thuế; (2) Tạm ngừng kinh doanh từ ngày 01/4/2020 theo Quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh triển khai thực hiện Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
- Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ kinh phí khi có đủ các điều kiện sau: Có giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trước thời điểm ngày 01/4/2020 và đang tham gia BHXH bắt buộc; chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2020 đến hết ngày 15/6/2020 nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định; không có thu nhập hoặc có thu nhập thấp hơn mức chuẩn cận nghèo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
- Người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau: (1) Mất việc làm và có thu nhập thấp hơn mức chuẩn cận nghèo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, trong thời gian từ ngày 01/4/2020 đến ngày 30/6/2020; (2) Cư trú hợp pháp tại địa phương; (3) Thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp, làm một trong những công việc sau: bán hàng rong, buôn bán nhỏ lẻ không có địa điểm cố định; thu gom rác, phế liệu; bốc vác, vận chuyển hàng hóa; lái xe mô tô 2 bánh chở khách, xe xích lô chở khách; bán lẻ xổ số lưu động; tự làm hoặc làm việc tại các hộ kinh doanh trong lĩnh vực ăn uống, lưu trú, du lịch, chăm sóc sức khỏe.
- Hỗ trợ người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ thể: Người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng (bao gồm cả thân nhân người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng, thương binh đang hưởng chế độ mất sức lao động hằng tháng) trong danh sách hưởng trợ cấp tháng 4/2020. Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo trong Danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo đến ngày 31/12/2019 của địa phương được cấp có thẩm quyền quyết định công nhận theo chuẩn nghèo quốc gia quy định tại Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015. Đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng chính sách trợ cấp xã hội hằng tháng, trong danh sách hưởng trợ cấp xã hội tháng 4/2020. Chủ tịch UBND cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, xem xét, phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ; đồng thời chỉ đạo thực hiện chi trả hỗ trợ. 
- Hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động, phải đảm bảo đủ các điều kiện sau: (1) Có từ 20% hoặc từ 30 người lao động trở lên đang tham gia BHXH bắt buộc phải ngừng việc từ 1 tháng liên tục trở lên; đã trả trước tối thiểu 50% tiền lương ngừng việc cho người lao động trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2020 đến hết ngày 30/6/2020; (2) Đang gặp khó khăn về tài chính, không cân đối đủ nguồn để trả lương ngừng việc cho người lao động, đã sử dụng hết quỹ dự phòng tiền lương để trả lương cho người lao động ngừng việc; (3) Không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm ngày 31/12/2019…
 
 
 
_________
 

Nguyễn Phi Em thực hiện
 

[1] Ngày Quốc tế Thiếu nhi (1-6); kỷ niệm 109 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2020); 72 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua Ái Quốc (11/6/1948 - 11/6/2020); Ngày Môi trường thế giới (5-6); Ngày thế giới tôn vinh người hiến máu tình nguyện (14/6); 95 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2020); Ngày Hiến chương Liên Hợp quốc (26/6); Ngày Gia đình Việt Nam (28-6).  
[2] Như các gói hỗ trợ về tiền tệ (khoảng 300.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ về tài khóa (khoảng 180.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ an sinh xã hội (trên 62.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ giá điện (khoảng 12.000 tỷ), gói hỗ trợ giá viễn thông (khoảng 15.000 tỷ đồng)…
[3] Đến năm 2018 có 99,4% xã trên cả nước có đường ô tô đến trung tâm xã, trong đó 84,1% xã có đường trục được nhựa/bê tông hóa từ 50% trở lên, mạng lưới điện quốc gia đã bao phủ đến 100% số xã, 97,8% số thôn, 99,2% hộ nông thôn; 99,7% số xã đã có trường tiểu học và trường mẫu giáo; 99,5% số xã có trạm y tế xã; 60,8% số xã có chợ; 58,6% số xã có nhà văn hoá.
[4] Nh­ư nhãn lồng Hưng Yên; vải thiều Lục Ngạn, Hải Dương; cam quýt đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Hòa Bình, Hà Giang, Tuyên Quang; xoài Hòa Lộc, Đông Nam Bộ; chôm chôm ĐBSCL; bưởi Năm roi; Thanh long Bình Thuận; vú sữa Lò Rèn; bò Mông Cao Bằng, gà Yên Thế; gà Đông Tảo…
[5] Từ 2010 - 2019, đào tạo được 1.084 nghìn/1.400 nghìn lao động nông thôn học nghề nông nghiệp, có trên 4.500 cán bộ khuyến nông được đào tạo kỹ năng dạy nghề. Sau học nghề đã có trên 90% lao động có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng nâng cao thu nhập.
[6] Năm 2018, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 6,16 triệu tấn, giá trị xuất khẩu đạt mức kỷ lục 3,06 tỷ USD (là 1 trong 6 nhóm mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD); giữ được giá lúa ổn định (trên 5.000 đồng/kg) để đảm bảo lợi nhuận cho nông dân trên 30%.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

HD.73.BTGTU

Tuyên truyền thực hiện Chỉ thị số 42 -CT/TW, ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.

Lượt xem:14 | lượt tải:6

CV.3119.BTGTU

Tăng cường tuyên truyền phòng, chống dịch COVID-19

Lượt xem:56 | lượt tải:34

CTr.71.BTGTU

Về chương trình công tác Tuyên giáo tháng 8/2020

Lượt xem:74 | lượt tải:26

CV.3108.BTGTU

V/v gửi đề cương tuyên truyền kết quả Kỳ họp thứ 9, QH khóa XIV

Lượt xem:243 | lượt tải:57

CV.3102.BTGTU

Mời dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác tuyên giáo 6 tháng đầu năm 2020

Lượt xem:122 | lượt tải:47

HD.72.BTGTU

tuyên truyền, kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống Ngành Tuyên giáo của Đảng

Lượt xem:386 | lượt tải:75

CV.3087.BTGTU

đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Duy Trinh

Lượt xem:262 | lượt tải:116
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập20
  • Hôm nay3,136
  • Tháng hiện tại59,854
  • Tổng lượt truy cập7,593,097
cuoc thi 90 nam covid
     Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
   
 - Giấy phép số 03/GP- TTĐT, ngày 21 tháng 9 năm 2015
     - Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum, số 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum, tỉnh Kon Tum
     - Người chịu trách nhiệm chính: Ông Huỳnh Quốc Huy, Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
     - Điện thoại: 0260.3862301. Fax: 0260. 3865464. Email: bantuyengiaotinhuykt@gmail.com; phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây