Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 05-2018 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 05-2018

Thứ tư - 25/04/2018 21:35
A. NỘI DUNG TRỌNG TÂM SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 05-2018
- Lãnh đạo đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về công tác dân tộc, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không để kẻ xấu lợi dụng, gây rối, làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh (theo tinh thần Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 02-4-2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy).
Tuyên truyền những kết quả đạt được trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh; các chương trình của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV về thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, 6 khóa XII của Đảng; trong đó tăng cường tuyên truyền việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của BCHTW Đảng khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" theo Chương trình số 51-Ctr/TU, ngày 09-02-2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV.
Tuyên truyền công tác chuẩn bị Đại hội Công đoàn tỉnh lần thứ X tiến tới Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XII, nhiệm kỳ 2018-2023; việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 23-01- 2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2018). Tuyên truyền các ngày Kỷ niệm: 43 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975- 30/4/2018); 64 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954- 7/5/2018); 128 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890- 19/5/2018); việc tổng kết năm học 2017-2018 và chuẩn bị kỳ thi tốt nghiệp PTTH năm 2018.
- Ngoài ra, tiếp tục tuyên truyền đưa Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào cuộc sống gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị.
Tuyên truyền việc thực hiện các nghị quyết của Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh; tiếp tục xây dựng các xã đặc biệt khó khăn trong tình hình mới; giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020; phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh; tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số, giai đoạn 2016-2020.
Tuyên truyền về phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, sản phẩm chủ lực của tỉnh; triển khai nông nghiệp công nghệ cao; bảo tồn và phát triển thương hiệu sản phẩm sâm Ngọc Linh; xây dựng nông thôn mới; công tác phòng chống hạn, phòng chống cháy rừng và phòng chống cháy nổ; về phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông; quản lý, bảo vệ rừng, tài nguyên khoáng sản; biểu dương, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, xuất sắc trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta. 
B. THÔNG TIN THỜI SỰ
I. THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh.
Ngày 02-4-2018, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 14-CT/TU về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Chỉ thị nêu rõ: Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong tỉnh đã thực hiện nghiêm các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế -xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh trên địa bàn. Bộ mặt nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã thay đổi rõ rệt; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS từng bước được cải thiện; công tác giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục và các hoạt động văn hóa, thể thao đối với đồng bào DTTS được chú trọng; bản sắc văn hóa các dân tộc được giữ gìn và phát huy; những tập tục lạc hậu dần được xóa bỏ; đội ngũ cán bộ người DTTS không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Vai trò của già làng, người có uy tín trong vùng đồng bào DTTS được phát huy, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh chính trị vùng dân tộc và miền núi.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc có lúc, có nơi hiệu quả chưa cao, chưa kịp thời; công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân vùng DTTS có mặt còn hạn chế; đời sống đồng bào DTTS vùng sâu, vùng xa còn khó khăn…
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện công tác dân tộc và các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân về công tác dân tộc, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không để kẻ xấu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây rối, làm mất ổn định an ninh chính trị - trật tự xã hội trên địa bàn.
2. Tập trung triển khai đồng bộ và huy động tối đa các nguồn lực đầu tư để lồng ghép thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc trong vùng đồng bào DTTS, trong đó, ưu tiên các lĩnh vực phát triển hạ tầng cơ sở, thông tin truyền thông, y tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo; có giải pháp giải quyết cơ bản vấn đề đất ở, đất sản xuất; đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho cộng đồng, hộ dân cư quản lý. Chủ động chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất; lựa chọn các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, có giá trị kinh tế để hỗ trợ, vận động Nhân dân đưa vào trồng, chăn nuôi gắn với tăng cường giải quyết đầu ra cho sản phẩm; động viên, khuyến khích đồng bào DTTS tích cực lao động, sản xuất vươn lên thoát nghèo bền vững…
3. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và tăng cường củng cố hệ thống chính trị cơ sở vùng DTTS.
4. Tiếp tục thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS.
5. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộc trên địa bàn.
Chuyên đề 2: Hướng dẫn quy định của Bộ Chính trị về kỷ luật đảng viên
Ngày 22-3-2018, Ủy ban Kiểm tra Trung ương ban hành Hướng dẫn số 04-HD/UBKTTW, về thực hiện một số Điều trong Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Cụ thể:
Các trường hợp con phạm tội, đảng viên phải chịu trách nhiệm liên đới 
Theo Khoản 2, Điều 1, Quy định 102: "Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện vi phạm vẫn phải xem xét, kết luận; nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải thi hành kỷ luật theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và những nội dung nêu trong Quy định này."
Hướng dẫn nêu rõ Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu và đã chuyển sinh hoạt đảng mới phát hiện có vi phạm ở nơi sinh hoạt đảng trước đây mà chưa được xem xét, xử lý thì tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của các tổ chức đảng đó xem xét, xử lý theo quy định. Khi đang xem xét, xử lý đảng viên vi phạm mà tổ chức đảng nơi đảng viên vi phạm đang sinh hoạt bị giải thể, sáp nhập, chia tách hoặc kết thúc hoạt động thì tổ chức đảng có thẩm quyền vẫn tiếp tục xem xét, xử lý hoặc báo cáo tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đó xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên theo quy định. 
Về vi phạm trong công tác phòng, chống tội phạm tại điểm d, khoản 1, Điều 13, Quy định 102: “Thiếu trách nhiệm trong quản lý, giáo dục dẫn đến có vợ (chồng), con hoặc cấp dưới trực tiếp phạm tội,” Hướng dẫn nêu rõ: Con của đảng viên phạm tội mà đảng viên phải chịu trách nhiệm liên đới gồm: con đẻ, con nuôi hợp pháp, con dâu, con rể cùng sống, sinh hoạt trong gia đình và trực tiếp phụ thuộc vào việc nuôi dưỡng, quản lý của đảng viên đó. 
Không còn đủ uy tín, cho miễn nhiệm hoặc cho thôi giữ chức vụ 
Theo Khoản 3, Điều 2, Quy định 102: "Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, thái độ tiếp thu phê bình và sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra, mục tiêu, yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng".
Theo Hướng dẫn, khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, động cơ, nguyên nhân của vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và căn cứ vào thái độ tự giác, tinh thần quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, vi phạm và khắc phục hậu quả đã gây ra, chứng cứ đến đâu kết luận đến đấy, không suy diễn. Đồng thời, phải xét hoàn cảnh lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. 
Đảng viên vi phạm bị kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ) ở khoản 2 của các điều từ Điều 7 đến Điều 34 thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ vào quy định nêu trên để xem xét, quyết định cụ thể: Cảnh cáo hoặc cách chức một, một số hoặc tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đảng viên đó. 
Đảng viên vi phạm bị kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo, nếu xét thấy không còn đủ uy tín thì tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định cho miễn nhiệm hoặc đề nghị cho thôi giữ chức vụ đó. 
Không "xử lý nội bộ" khi vi phạm đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự 
Đối với khoản 5, Điều 2, Quy định 102: "Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự, không "xử lý nội bộ"; bị tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì phải khai trừ…,” theo Hướng dẫn, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và Ủy ban kiểm tra từ cấp huyện trở lên khi phát hiện đảng viên vi phạm đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chuyển hồ sơ sang cơ quan tư pháp có thẩm quyền để xem xét, xử lý, không được giữ lại để xử lý nội bộ. 
Đảng viên vi phạm pháp luật đang bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền thụ lý theo quy định của pháp luật thì tổ chức đảng không được can thiệp để đảng viên chỉ bị xử lý kỷ luật về Đảng, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý về chính quyền, đoàn thể. 
Đang mắc bệnh hiểm nghèo chưa xem xét, xử lý kỷ luật 
Đối với khoản 1, Điều 5, Quy định 102: "Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức, bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (từ cấp huyện trở lên) xác nhận thì chưa xem xét, xử lỷ kỷ luật," Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn: Bệnh hiểm nghèo là bệnh nguy hiểm đến tính mạng của người bị mắc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Thời gian chưa xem xét, xử lý kỷ luật nêu trên không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng. 
Ủy ban Kiểm tra Trung ương nêu ví dụ Đảng viên A vi phạm cách đây 4 năm, khi tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kỷ luật, người đó bị ốm phải điều trị nội trú ở bệnh viện thì thời gian điều trị này không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật.
Theo Hướng dẫn, đảng viên qua đời, sau đó mới phát hiện có vi phạm thì không tiến hành kiểm tra. Khi đang kiểm tra hoặc xem xét, xử lý kỷ luật mà đảng viên vi phạm qua đời thì chỉ kết luận, không thi hành kỷ luật. Trường hợp đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng qua đời thì vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật.
II. TIN TRONG TỈNH
1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV), ngày 19-4, tiến hành Hội nghị lần thứ 11 dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh.
Tại hội nghị, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tập trung thảo luận dân chủ, thẳng thắn, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết và trách nhiệm đối với Tờ trình của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tình hình và kết quả thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2025.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV thống nhất đánh giá: Qua hơn 7 năm triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã phát triển theo đúng mục tiêu, định hướng chung của quy hoạch và đạt được những kết quả quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục tăng qua các năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp của tỉnh được cơ cấu lại và ngày càng phát triển. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư, phát triển theo hướng đồng bộ. Giáo dục, y tế có bước chuyển biến. An sinh xã hội được quan tâm và đạt được nhiều kết quả. Các hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi, đáp ứng được yêu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Cải cách thủ tục hành chính được cải thiện. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được chú trọng. Quốc phòng - an ninh được giữ vững.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt mục tiêu đề ra. Hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ. Đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp còn khó khăn. Tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng có lúc diễn biến phức tạp. Giá trị kim ngạch xuất khẩu không đạt mục tiêu quy hoạch. Chất lượng giáo dục chưa đồng đều. Chất lượng nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững...
Phát biểu bế mạc Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng đề nghị các cấp, các ngành, trước hết là các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành cần tiếp tục quán triệt và thực hiện có kết quả Kết luận 1150-KL/TU ngày 24/11/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII về “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2025”, Kết luận 218-KL/TU ngày 28/4/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng tỉnh Kon Tum giai đoạn 2016-2020”; các mục tiêu, định hướng phát triển của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thống nhất chủ trương giao Ban cán sự Đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh chỉ đạo sớm xây dựng Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh cho thời kỳ tiếp theo (giai đoạn 2021-2030) theo quy định.
Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện quy trình lấy phiếu giới thiệu nhân sự bổ sung quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI (nhiệm kỳ 2020-2025) và một số nội dung liên quan đến công tác cán bộ.
2. Sáng 12-4, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị trực tuyến với các huyện, thành phố triển khai chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2018.
Dự Hội nghị tại điểm cầu tỉnh, có các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh; nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy các khóa hiện đang sinh sống trên địa bàn thành phố Kon Tum; lãnh đạo các sở, ngành của tỉnh; trưởng, phó phòng các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe PGS.TS Ngô Văn Thạo, nguyên Vụ trưởng Vụ Lý luận chính trị - Ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên ủy viên chuyên trách Hội đồng lý luận Trung ương truyền đạt chuyên đề "Xây dựng phong cách, tác phong công tác của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".
Chuyên đề gồm 3 phần: Sự cần thiết đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh; bài học kinh nghiệm trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng, của dân tộc; yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh và điều kiện mới); Nội dung học tập, xây dựng phong cách theo phong cách Hồ Chí Minh (khái niệm phong cách và phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng phong cách công tác của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng phong cách, tác phong công tác của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu theotư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh); Một số giải pháp xây dựng phong cách lãnh đạo, phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu (nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống; trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong xây dựng phong cách công tác theo tư tưởng Hồ Chí Minh; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát huy mặt tích cực, đấu tranh với mặt tiêu cực và tăng cường kiểm tra, đôn đốc).
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh xây dựng phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ, đảng viên, công chức, người đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp - chủ đề thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW năm 2018 - là nhiệm vụ quan trọng cần được quan tâm lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt ở tất cả các ngành, các cấp thuộc hệ thống chính trị, tuyên truyền rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.
3. Chiều 03-4, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị trực tuyến giao ban công tác quý I-2018 với thường trực các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy. Phó Bí thư Tỉnh ủy A Pớt chủ trì Hội nghị.
Trong quý I-2018, các địa phương, đơn vị tập trung chăm lo tốt đời sống của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; tổ chức “vui xuân, đón tết” đảm bảo lành mạnh, an toàn, tiết kiệm; thực hiện tốt công tác an sinh xã hội; tổ chức thăm, chúc tết các tổ chức, cá nhân, đối tượng chính sách; tăng cường công tác quản lý thị trường, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động buôn lậu, sử dụng các mặt hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng; triển khai các phương án, kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông…  
Các địa phương, đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức phổ biến, quán triệt và xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII); chuyên đề năm 2018 về “Xây dựng phong cách, tác phong công tác của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; tuyên truyền các ngày lễ, kỷ niệm trong quý; nắm bắt, kiểm tra, xử lý kịp thời các thông tin được dư luận, báo chí phản ánh...
Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, hỗ trợ nhân dân trong sản xuất vụ Đông - Xuân (2017 - 2018), xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an ninh nông thôn; tổ chức Ngày hội bánh chưng xanh Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 đảm bảo vui tươi, tiết kiệm; hướng dẫn chuẩn bị tốt nội dung, nhân sự Đại hội Công đoàn, Hội Nông dân các cấp (nhiệm kỳ 2018 - 2023).  
Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí A Pớt chỉ đạo, trong quý II-2018, cùng với việc lãnh đạo triển khai thực hiện một cách quyết liệt nhiệm vụ chính trị được giao, các địa phương, đơn vị cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành. Trong đó chú trọng lãnh đạo triển khai thực hiện Chương trình số 51 ngày 9/2/2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV) “về thực hiện Nghị quyết số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Chương trình số 53 ngày 21/2/2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV) “về thực hiện Nghị quyết số 19, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”. Bên cạnh đó, tăng cường việc phân công cán bộ, công chức bám sát cơ sở, cùng với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương cơ sở triển khai các biện pháp đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã kết nghĩa theo Nghị quyết số 04, ngày 19/8/2016 của Tỉnh ủy...   
4. Chiều 05-4, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa chủ trì Chương trình gặp gỡ, đối thoại trực tuyến giữa lãnh đạo tỉnh với thanh niên, với sự tham dự của hơn 1.700 đoàn viên thanh niên trên địa bàn tỉnh.
Tại buổi đối thoại, đoàn viên thanh niên đã nêu 22 lượt ý kiến liên quan đến 4 nhóm vấn đề: (i) chính sách, cơ chế hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp; (ii) công tác giải quyết việc làm cho đoàn viên, thanh niên, nhất là đối tượng đoàn viên thanh niên dân tộc thiểu số, bộ đội xuất ngũ, sinh viên mới tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng; (iii) nhu cầu vay vốn khởi nghiệp; (iiii) các chương trình hỗ trợ giống, kỹ thuật, các chương trình hỗ trợ đoàn viên thanh niên xây dựng, phát triển thương hiệu sản phẩm.
Phát biểu tại chương trình, đồng chí Nguyễn Văn Hòa khẳng định buổi đối thoại, gặp gỡ đoàn viên, thanh niên năm 2018 là dịp để lãnh đạo tỉnh nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho đoàn viên thanh niên, hỗ trợ thanh niên sáng tạo, khởi nghiệp thành công.
Với những ý kiến chưa được giải đáp trong khuôn khổ buổi đối thoại, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Nội vụ tổng hợp, gửi báo cáo trình UBND tỉnh trước ngày 12/04/2018. Tỉnh sẽ có văn bản trả lời gửi đến đoàn viên, thanh niên trong thời gian sớm nhất.
Đề nghị Sở Lao động, Thương binh và Xã hội nghiên cứu, sớm đổi mới cách thức, đảm bảo nhu cầu tuyển dụng lao động, đào tạo nghề nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho thanh niên trên địa bàn; trong đó, đặc biệt quan tâm tới thanh niên là người dân tộc thiểu số.
Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần phối hợp với Tỉnh đoàn và các địa phương đẩy mạnh thông tin, phổ biến rộng rãi cho thanh niên các chương trình cho vay vốn, tạo điều kiện cho thanh niên tiếp cận nguồn vốn để triển khai dự án sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, lập nghiệp của thanh niên toàn tỉnh.
Đề nghị Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh tiếp tục đồng hành, sát cánh cùng thanh niên trong phong trào khởi nghiệp, lập nghiệp. UBND các huyện, thành phố kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo môi trường thuận lợi để thanh niên tiếp tục phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, khởi nghiệp.
5. Chiều 11-4, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị trực tuyến giao ban công tác báo chí quý I/2018 với các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Đồng chí Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.
Trong quý I/2018, công tác phối hợp chỉ đạo, quản lý hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh bảo đảm chặt chẽ, đúng định hướng của Đảng và các quy định pháp luật; UBND tỉnh kịp thời chỉ đạo các cơ quan, đơn vị kiểm tra, xử lý các thông tin báo chí phản ánh; việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các địa phương và các sở ngành dần đi vào nền nếp...
Các cơ quan báo chí, truyền thông của tỉnh đã bám sát chỉ đạo định hướng để triển khai tốt công tác thông tin tuyên truyền về các sự kiện chính trị nổi bật của đất nước, của tỉnh; phản ánh kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp trong thực hiện nhiệm vụ chính trị; tích cực tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh; giới thiệu, biểu dương nhiều mô hình, gương điển hình trong các phong trào thi đua phát triển kinh tế - xã hội. Các cơ quan báo chí của Trung ương có nhiều thông tin tích cực phản ánh tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh góp phần cùng với tỉnh thực hiện tốt công tác tuyên truyền…
Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Lê Thị Kim Đơn đề nghị, bên cạnh các nhiệm vụ tuyên truyền thường xuyên, trong quý II/2018, các cơ quan báo chí cần tập trung tuyên truyền các nội dung trọng tâm như: Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về công tác dân tộc theo tinh thần nội dung Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 02-4-2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; những kết quả đạt được trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh; các chương trình của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV về thực hiện nghị quyết các hội nghị Trung ương 5, 6 (khóa XII) của Đảng; kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội quý I/2018, nhiệm vụ trọng tâm trong quý II/2018; tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới của tỉnh thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội; tuyên truyền Tuần lễ văn hóa, du lịch và xúc tiến đầu tư tỉnh Kon Tum năm 2018, Hội chợ  Công thương Kon Tum năm 2018 (từ 19 đến 25/4/2018); tuyên truyền việc thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 23-01-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và tuyên truyền các ngày lễ, ngày kỷ niệm trong quí II- 2018...
6. Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Kon Tum lần thứ VI diễn ra từ ngày 09-4 đến 15-4-2018 đã thành công tốt đẹp. 
Đại hội có sự tham gia của hơn 1.500 vận động viên  đến từ 17 đoàn thuộc các huyện, thành phố và các sở, ngành, đơn vị lực lượng vũ trang trong toàn tỉnh, tham gia tranh tài ở 114 nội dung của 15 môn.
Tại Lễ bế mạc, Ban tổ chức đã trao cờ, huy chương và phần thưởng cho các tập thể, các nhân đạt thành tích cao tại đại hội. Cụ thể, Sở GD&ĐT giành giải Nhất toàn đoàn với 86 huy chương các loại (47 HCV, 18 HCB, 21 HCĐ); thành phố Kon Tum xếp thứ 2 với 64 huy chương (29 HCV, 18 HCB, 17 HCĐ), huyện Ngọc Hồi xếp thứ 3 với 25 huy chương (5 HCV, 10 HCB, 10 HCĐ).
Đại hội TDTT tỉnh Kon Tum lần thứ VI năm 2018 là hoạt động nhằm tích cực hưởng ứng Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “Khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, khơi dậy tiềm năng TDTT của đông đảo quần chúng nhân dân trong tỉnh, vận động toàn dân thường xuyên tập luyện TDTT để tăng cường sức khỏe, phục vụ lao động, học tập, công tác, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời tuyển chọn lực lượng vận động viên của tỉnh tham dự Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VIII năm 2018.
III. TIN TRONG NƯỚC
1. Một số nét chính về tình hình phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong quý I/2018
Một số kết quả nổi bật:
Thứ nhất, tăng trưởng GDP Quý I/2018 là 7,38% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của quý I trong 10 năm gần đây, cao hơn rất nhiều so với mức tăng 5,15% của cùng kỳ năm 2017 và mức tăng 5,48% của cùng kỳ năm 2016. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,70%; khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,05%; khu vực dịch vụ tăng 6,70%.
Thứ hai, tăng trưởng đạt mức cao, song lạm phát trong tầm kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2018 giảm 0,27% so với tháng trước, tăng 0,97% so với tháng 12/2017 và tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý I/2018 chỉ tăng 2,82% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.
Thứ ba, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,9% (cùng kỳ tăng 6,4%), cho thấy tổng cầu, sức mua của người dân tiếp tục được cải thiện đáng kể.
Thứ tư, xuất khẩu tiếp tục tăng mạnh ước đạt 54,31 tỷ USD, tăng 22% (cùng kỳ tăng 12,8%), trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 18,9%, cao hơn mức tăng 12,1% cùng kỳ; tiếp tục xuất siêu 1,3 tỷ USD.
Thứ năm, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,4% so với cùng kỳ, trong đó vốn đầu tư tư nhân chiếm tỷ trọng 41,9% và tăng tới 16,9%.
Thứ sáu, khách quốc tế đến Việt Nam tiếp tục tăng mạnh, đạt 4.205,4 nghìn lượt, tăng 30,9% (cùng kỳ đạt trên 3,2 triệu lượt, tăng 21,1%).
Thứ bảy, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2017 do VCCI công bố (ngày 22/3/2018), cho thấy những thông tin khởi sắc, điểm số PCI bình quân cao nhất kể từ khi bắt đầu thực hiện đến nay, gần như tất cả các tỉnh đều tăng điểm số, phản ánh môi trường kinh doanh cấp địa phương của Việt Nam đã có những cải thiện rất ấn tượng theo thời gian, đặc biệt là trong năm vừa qua.
Thứ tám, thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh mẽ cả về quy mô và giá trị vốn hóa. Chỉ số VNIndex đã vượt đỉnh (1.170 điểm) 11 năm qua, cho thấy niềm tin thị trường rất tốt.
Tuy nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Số doanh nghiệp thành lập mới và số vốn đăng ký tuy tăng nhưng tăng thấp hơn so với cùng kỳ. Giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương đạt thấp. Tình hình tai nạn giao thông và an toàn cháy nổ diễn biến khá phức tạp, số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra nhiều, đặc biệt là xảy ra nhiều vụ cháy gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Tình hình thiên tai, thời tiết diễn biến phức tạp tác động tiêu cực đến đời sống và sản xuất nông nghiệp của người dân. Dự báo kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với những yếu tố rủi ro, khó lường của tình hình kinh tế thế giới 2018.
Một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới:
Chính phủ đề nghị các bộ, cơ quan, địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, đặc biệt là nhiệm vụ tại Nghị quyết các phiên họp Chính phủ thường kỳ hàng tháng. Trong đó, tập trung thực hiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, từng bộ, ngành, địa phương bám sát kịch bản tăng trưởng năm 2018 và tình hình thực tế, cập nhật kịch bản tăng trưởng của từng ngành, từng lĩnh vực, từng sản phẩm, từng địa phương; thường xuyên rà soát, xác định khả năng thực hiện kịch bản để có các giải pháp phù hợp.
Thứ hai, tiếp tục tập trung công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh; tiếp tục rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tục kiểm tra chuyên ngành theo mục tiêu đã đề ra. Rà soát các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bất cập gây cản trở cho phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các biện pháp cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Thứ ba, thực hiện quyết liệt các giải pháp cần thiết bảo đảm tiến độ giải ngân vốn đầu tư công theo nội dung Nghị quyết số 70/NQ-CP, ngày 03/8/2017, trong đó tập trung đẩy nhanh công tác giao chi tiết kế hoạch vốn và giải ngân vốn đầu tư công, thủ tục liên quan đến xây dựng, đấu thầu, thanh quyết toán. Tập trung triển khai công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước, bảo đảm hoàn thành kế hoạch năm 2018 đã được phê duyệt.
Thứ tư, tiếp tục chủ động thực hiện đồng bộ ba đột phá chiến lược, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tăng cường công tác phối hợp liên ngành trong tháo gỡ những khó khăn, giải quyết vướng mắc của các công trình, dự án trong từng ngành, lĩnh vực, nhất là các công trình kết cấu hạ tầng, năng lượng, sản xuất công nghiệp trọng điểm.
Thứ năm, chủ động theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, kịp thời đề xuất các giải pháp ứng phó, xử lý kịp thời trước những thay đổi chính sách thương mại của các nước có tác động đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Đẩy mạnh hệ thống phân phối bán lẻ cho các doanh nghiệp Việt Nam và các hình thức thương mại mới.
Thứ sáu, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, vận động người nông dân tham gia hợp tác xã kiểu mới. Tăng cường dự báo, khuyến cáo sản xuất nông sản, bảo đảm cân đối cung cầu, rà soát lại các quy hoạch của từng ngành hợp lý. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nông sản chính ngạch, tiến tới giảm dần thương mại tiểu ngạch.
Thứ bảy, thực hiện kịp thời các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là các chính sách đối với người có công, chính sách giảm nghèo và lao động nông thôn. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và phòng, ngừa, kiểm soát các dự án, công trình có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Bảo đảm an toàn thực phẩm, chất lượng khám, chữa bệnh. Chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh thời điểm giao mùa và các bệnh truyền nhiễm mùa hè.
Thứ tám, tăng cường công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, bảo đảm an toàn cho ngư dân hoạt động trên biển. Tăng cường kiểm tra rà soát toàn bộ công tác bảo đảm phòng cháy, chữa cháy, nhất là tại các chung cư, nhà cao tầng; tổ chức huấn luyện, diễn tập phòng cháy, chữa cháy cho người dân.
Thứ chín, chuẩn bị tốt các nội dung phục vụ Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV; chủ động rà soát các nội dung liên quan thuộc lĩnh vực, ngành phụ trách để giải trình trước Quốc hội những vấn đề Đại biểu Quốc hội và cử tri quan tâm. Tăng cường thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tạo niềm tin và sự đồng thuận trong toàn xã hội; có giải pháp ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp đưa tin sai sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
2. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2018)
Ngày 23/01/2018, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 22-CT/TW về đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2018). Chỉ thị nêu rõ: Kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc diễn ra trong bối cảnh toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân đang quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XII và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương. Bên cạnh những thuận lợi, đất nước còn gặp nhiều khó khăn, thách thức do những tác động của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng diễn ra trong khu vực và thế giới, cũng như các tác động không thuận do biến đổi khí hậu toàn cầu. Ðể động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước tiếp tục phát huy truyền thống thi đua yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2018 và kế hoạch 5 năm 2016 - 2020, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
(1) Tổ chức học tập, quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc; tuyên truyền chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò và tác dụng to lớn của phong trào thi đua yêu nước trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
(2) Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả với mục tiêu phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ trọng tâm của ban, bộ, ngành, địa phương. Các phong trào thi đua phải bám sát nội dung định hướng, chỉ đạo của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng và chủ đề thi đua giai đoạn 2016 - 2020 là “Ðoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tổ chức phát động đợt thi đua đặc biệt nhằm động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia các phong trào do Thủ tướng Chính phủ phát động; tích cực hưởng ứng các cuộc vận động lớn của Ðảng và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đi đôi với tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải cách hành chính; ứng dụng khoa học, kỹ thuật; gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Các phong trào thi đua của ban, bộ, ngành, địa phương cần bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, bảo đảm tính hiệu quả, thiết thực, chống hình thức, hướng vào việc hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội theo Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XII đã đề ra.
(3) Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức phong trào thi đua và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả, nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia, hưởng ứng tích cực, tạo khí thế thi đua sôi nổi, rộng khắp trong cả nước, đưa phong trào thi đua yêu nước trở thành động lực to lớn góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh. Ðổi mới công tác khen thưởng theo hướng công khai, minh bạch, chính xác, kịp thời và quan tâm người lao động trực tiếp; khen thưởng phản ánh đúng kết quả phong trào thi đua và có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương. Thường xuyên phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh kịp thời các biểu hiện tiêu cực trong thi đua, khen thưởng.
(4) Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thiết thực, hiệu quả. Trong đó, coi trọng công tác nghiên cứu lý luận tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước; đánh giá kết quả tổ chức phong trào thi đua và công tác khen thưởng, rút ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm về vận dụng tư tưởng thi đua yêu nước của Người trong từng giai đoạn cách mạng; biểu dương, tôn vinh, gặp mặt, giao lưu các điển hình, anh hùng, chiến sĩ thi đua qua các thời kỳ. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội thảo khoa học về tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
(5) Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương xây dựng đề cương tuyên truyền về 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Chỉ đạo hệ thống tuyên giáo, đội ngũ báo cáo viên, các cơ quan thông tin đại chúng xây dựng kế hoạch tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm, các phong trào thi đua yêu nước và các điển hình, mô hình mới, sáng tạo, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, cái tốt đẩy lùi cái xấu, lấy gương “người tốt, việc tốt” để giáo dục, nêu gương, tạo không khí phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân và trong xã hội.
(6) Ban cán sự đảng Chính phủ, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương có kế hoạch, chương trình tổ chức triển khai thực hiện. Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ giúp Ban Bí thư đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị này.
3. Tăng cường công tác phòng chống thiên tai trong mùa mưa bão năm 2018
Một số nét tổng quan về tình hình thiên tai ở nước ta năm 2017:
Về tình hình bão và áp thấp nhiệt đới: trong năm 2017, đã có 16 cơn bão và 06 cơn Áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) hình thành trên biển Đông, trong đó có 05 cơn bão và 03 cơn ATNĐ đổ bộ trực tiếp vào nước ta, đặc biệt nghiêm trọng là hai cơn bão số 10 và số 12 với cường độ rất mạnh, cấp 11-12, giật cấp 13-14 vào khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ.
Về tình hình mưa, lũ: các đợt mưa lớn kéo dài liên tục với tổng lượng vượt từ 10-30% so với trung bình nhiều năm. Mưa lớn đã gây ra các đợt lũ ở mức lịch sử tại một số sông thuộc các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi; lũ quét, sạt lở đất trên diện rộng tại các tỉnh miền núi, trong đó, đặc biệt nghiêm trọng tại Mường La (tỉnh Sơn La), Mù Căng Chải (tỉnh Yên Bái) và các huyện Tân Lạc, Đà Bắc, TP Hoà Bình (tỉnh Hòa Bình),...
Về tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển: chủ yếu xất hiện tại vùng đồng bằng sông Cửu Long với 562 điểm sạt lở, tổng chiều dài trên 786 km và mất đi khoảng 300 ha đất/năm, đặc biệt nghiêm trọng là sạt lở bờ sông Vàm Nao (tỉnh An Giang), sạt lở kè Gành Hòa (tỉnh Bạc Liêu),...
Thiên tai năm 2017 đã làm 386 người chết và mất tích, 654 người bị thương; 8.126 nhà bị đổ, sập, trôi; 352.943 ha diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại; 65.350 con gia súc và 02 triệu con gia cầm bị chết; 59.603 ha và 41.920 lồng nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại,... Tổng thiệt hại về kinh tế khoảng 60.000 tỷ đồng.
Một số giải pháp trọng tâm của công tác phòng, chống thiên tai (PCTT) trong năm 2018:
Để công tác phòng, chống thiên tai năm 2018 đạt hiệu quả cao nhất, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai đề nghị các bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất, nâng cao năng lực, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho lực lượng tham mưu chỉ đạo, hỗ trợ ra quyết định cho Ban Chỉ đạo, Ban chỉ huy các bộ, ngành, địa phương các cấp đảm bảo tính chuyên nghiệp, luôn luôn sẵn sàng tham mưu chính xác, kịp thời với các tình huống thiên tai có thể xảy ra để ứng phó với thiên tai một cách hiệu quả nhất.
Thứ hai, rà soát và đẩy mạnh triển khai thực hiện chiến lược, kế hoạch quốc gia phòng chống thiên tai, kế hoạch phòng, chống thiên tai của các bộ, ngành, địa phương; phương án ứng phó tương ứng với cấp độ rủi ro thiên tai; lồng ghép phòng, chống thiên tai trong kế hoạch phát triển ngành và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; thu quỹ phòng, chống thiên tai.
Thứ ba, bổ sung cơ chế chính sách để huy động nguồn lực trong xã hội, dịch vụ công tham gia vào công tác phòng chống thiên tai; tiêu chuẩn, quy chuẩn, chế tài để giám sát các hoạt động của xã hội đảm bảo an toàn hơn trước thiên tai.
Thứ tư, củng cố, nâng cấp các công trình phòng, chống thiên tai, đặc biệt là các trọng điểm đê điều, hồ đập xung yếu.
Thứ năm, đẩy mạnh việc đào tạo nâng cao năng lực cho lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai; hướng dẫn, nâng cao kỹ năng ứng phó với thiên tai của cộng đồng nhất là hướng dẫn tập bơi và phòng chống đuối nước.
Thứ sáu, rà soát hệ thống truyền tin, thông tin liên lạc nhằm đảm bảo thông tin kịp thời tới chính quyền cơ sở, người dân trong vùng thiên tai về diễn biến thiên tai, giải pháp ứng phó, nhất là người dân nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng thường xuyên xảy ra thiên tai.
Thứ bảy, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống quan trắc, giám sát chuyên dùng, công cụ hỗ trợ trong ứng phó, chỉ đạo điều hành phòng chống thiên tai.
Thứ tám, điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi phù hợp để hạn chế thiệt hại do thiên tai. Bảo vệ, phát triển rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với sinh kế của người dân trong khu vực.
Thứ chín, phối kết hợp với các quốc gia trên thế giới trong công tác dự báo, hợp tác trong ứng phó với bão, cứu hộ cứu nạn và kêu gọi các nguồn lực hỗ trợ cho công tác phòng, chống thiên tai…
C. VĂN BẢN MỚI
I. VĂN BẢN CỦA TỈNH
1. Ngày 03/4/2018, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 787/KH-UBND chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Kế hoạch tập trung chỉ đạo thực hiện 04 dự án như: Phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội; Phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em; Thực hiện các mục tiêu quốc gia về Bình đẳng giới; Phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ người cai nghiện ma túy, người bán dâm và nạn nhân bị mua bán.
Tổng dự toán kinh phí thực hiện Kế hoạch là 107,980 tỷ đồng, trong đó: đề nghị ngân sách Trung ương hỗ trợ (vốn sự nghiệp): 55,751 tỷ đồng; Ngân sách địa phương (vốn sự nghiệp) 41 tỷ 817 triệu đồng (được lồng ghép trong các hoạt động của kế hoạch với các Chương trình, Đề án, Kế hoạch khác của ngành, địa phương quản lý để thực hiện) và vận động xã hội hoá 10,412 tỷ đồng.
Để đạt mục tiêu kế hoạch đề ra, UBND đã chỉ đạo triển khai các giải pháp trọng tâm như: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các đoàn thể, tổ chức xã hội và cộng đồng trong việc thực hiện các chính sách, pháp luật về lĩnh vực bảo trợ xã hội, bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng chống tệ nạn xã hội; đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân; tăng cường huy động mọi nguồn lực để phát triển hệ thống trợ giúp xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá...
Đồng thời, giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủtrì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức triển khai thực hiện và hướng dẫn các Sở, ban, ngành, đoàn thể và các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện.
Chương trình mục tiêu phát triển hệ thống trợ giúp xã hội được triển khai sẽ góp phần tăng cường công tác phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp xã hội cho đối tượng yếu thế; tạo môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh cho trẻ em; giảm khoảng cách giới trong những lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao; nâng cao chất lượng, hiệu quả cai nghiện ma túy, tuyên truyền phòng, chống mại dâm, hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trở về. Đồng thời giúp cho các đối tượng yếu thế được tiếp cận với các dịch vụ tư vấn hoặc được hỗ trợ thông qua các chế độ, chính sách của Nhà nước.
2. Ngày 09/4/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 835/UBND-NC chỉ đạo về thực hiện Đề án "Tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh, thiếu niên" trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương quán triệt và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên tỉnh Kon Tum giai đoạn 2016 - 2020 và các Kế hoạch thực hiện Đề án giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của ngành, địa phương; tiếp tục nâng cao nhận thức và tăng cường trách nhiệm trong công tác PBGDPL cho thanh, thiếu niên phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Căn cứ Kế hoạch và điều kiện thực tiễn của ngành, địa phương, ban hành Kế hoạch hoặc lồng ghép thực hiện các nhiệm vụ của Đề án trong các Chương trình, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Chương trình, Kế hoạch công tác; Chương trình, Kế hoạch, Đề án về PBGDPL giai đoạn 2017 - 2021; Chương trình phát triển thanh niên.
Tiếp tục đổi mới hình thức PBGDPL cho thanh, thiếu niên, lựa chọn nội dung pháp luật phù hợp với thanh, thiếu niên để phổ biến nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho thanh, thiếu niên, khắc phục tối đa tình trạng vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết pháp luật; chú trọng tổ chức bằng các hình thức phù hợp để thanh, thiếu niên tham gia hoàn thiện thể chế, chính sách và tổ chức thi hành pháp luật; tăng cường PBGDPL thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp thông tin pháp luật cho thanh, thiếu niên.
Đối với các địa phương, cần lựa chọn địa bàn trọng điểm về vi phạm pháp luật, địa bàn có nhiều tệ nạn xã hội, tội phạm gia tăng, tỷ lệ thanh, thiếu niên vi phạm pháp luật cao hoặc có nhiều vướng mắc, bất cập nổi cộm để tổ chức các đợt cao điểm phổ biến pháp luật gắn với vận động thanh, thiếu niên chấp hành pháp luật và chọn điểm triển khai các mô hình PBGDPL hiệu quả cho thanh, thiếu niên làm cơ sở để sơ kết, đánh giá, xem xét, nhân rộng trên địa bàn.
Chủ động lồng ghép triển khai Đề án với các nhiệm vụ thường xuyên, các Đề án về PBGDPL và các nhiệm vụ khác trong công tác PBGDPL.
Bố trí kinh phí, cơ sở vật chất triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao trong Đề án, đặc biệt chú trọng PBGDPL cho thanh, thiếu niên thuộc đối tượng đặc thù...
3. Ngày 16/4/2018, UBND tỉnh ban hành Công văn số 906/UBND-KGVX về việc tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn trường học.
Theo đó, UBND tỉnh yêu Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum tổ chức quán triệt và kiểm tra việc thực hiện thường xuyên Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em và các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đảm bảo an ninh, an toàn trường học; Công văn số 2904/UBND-KGVX ngày 27/10/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum về việc triển khai thực hiện Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ.
UBND tỉnh cũng yêu cầu các đơn vị, địa phương tăng cường nền nếp, kỷ cương, dân chủ trong trường học; hoàn thiện và thực hiện hiệu quả bộ quy tắc ứng xử văn hóa trong tất cả các cơ sở giáo dục trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương trong quản lý, giáo dục học sinh và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường; tăng cường các giải pháp bảo đảm an ninh trật tự, an toàn trường học; ngăn chặn, phòng ngừa và khắc phục các yếu tố có nguy cơ gây mất an toàn; đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần cho nhà giáo và học sinh trong các cơ sở giáo dục.
Tổ chức thanh tra, kiểm tra các cơ sở giáo dục trong việc thực hiện các quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường; phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân gây mất an ninh, an toàn trường học và công khai kết quả xử lý.
Cơ quan quản lý giáo dục các cấp và các trường học tăng cường công tác tổ chức gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo nhà trường và phụ huynh, học sinh, giáo viên để kịp thời nắm bắt thông tin, tâm tư, nguyện vọng và các vướng mắc phát sinh, kịp thời giải quyết thấu đáo với mục tiêu tốt nhất cho học sinh, giáo viên; thực hiện nghiêm chế độ báo cáo theo định kỳ, đột xuất về tình hình an ninh, an toàn trường học đến cơ quan quản lý các cấp và báo cáo về Bộ Giáo dục và Đào tạo.
4. Ngày 18/4/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định 10/2018/QĐ-UBND bãi bỏ Quyết định 41/2013/QĐ-UBND ngày 08/10/2013 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, hoạt động phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 09/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ về việc quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/4/2018.
5. Ngày 19/4/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định 11/2018/QĐ-UBND về Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Quy chế này quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước trên địa bàn tỉnh Kon Tum; trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc bảo vệ bí mật Nhà nước. Quy chế áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các cá nhân có liên quan trong quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ bí mật Nhà nước trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Về bí mật Nhà nước trên địa bàn tỉnh, theo quy chế bao gồm: Tin, tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước được quy định tại Danh mục bí mật Nhà nước của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và cơ quan, tổ chức liên quan thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tin, tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước thuộc danh mục bí mật Nhà nước của các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị mà các cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ; các khu vực cấm, địa điểm cấm trên địa bàn tỉnh Kon Tum được xác định theo quy định của pháp luật.
Quy chế quy định cụ thể các hành vi nghiêm cấm đối với công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh, như: Làm mất, lộ, lọt, chiếm đoạt, mua bán hoặc thu thập, lưu giữ, tiêu hủy trái phép bí mật Nhà nước; xâm nhập trái phép các khu vực cấm, địa điểm cấm. Soạn thảo, lưu giữ thông tin, tài liệu mang nội dung bí mật Nhà nước trên máy vi tính có kết nối mạng Internet và những mạng khác có khả năng làm lộ, mất thông tin, tài liệu; sử dụng micro vô tuyến, điện thoại di động, các thiết bị khác có tính năng ghi âm, ghi hình, thu phát tín hiệu trong các cuộc họp có nội dung bí mật Nhà nước…
Người làm công tác liên quan trực tiếp đến bí mật Nhà nước (người làm công tác bảo vệ BMNN; cán bộ cơ yếu, văn thư, người được giao nhiệm vụ bảo quản, lưu trữ BMNN; người trực tiếp nghiên cứu, chỉ đạo, xử lý, giải quyết thông tin, tài liệu, vật mang BMNN) tại các cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh phải làm cam kết bảo vệ BMNN bằng văn bản và được lưu giữ tại cơ quan, tổ chức. Cán bộ, công chức trong diện nêu trên khi nghỉ chế độ, biệt phái chuyển sang làm công tác khác, khi xuất cảnh ra nước ngoài phải cam kết không tiết lộ bí mật Nhà nước.
Thủ trưởng, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt công tác bảo vệ bí mật Nhà nước theo quy định của pháp luật trong cơ quan, đơn vị mình quản lý; xây dựng quy chế, nội quy bảo vệ bí mật Nhà nước ở cơ quan, tổ chức mình căn cứ vào yêu cầu bảo mật ở cơ quan, tổ chức và phù hợp với quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước; lựa chọn, bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm có đủ phẩm chất, năng lực làm công tác bảo vệ BMNN, giúp lãnh đạo theo dõi, kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ bí mật Nhà nước; giáo dục đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ý thức cảnh giác, giữ gìn bí mật Nhà nước; có biện pháp cụ thể quản lý cán bộ, nhất là cán bộ nắm giữ bí mật Nhà nước, cán bộ thường xuyên đi công tác nước ngoài hoặc tiếp xúc, làm việc với người nước ngoài; trang bị đầy đủ các phương tiện phục vụ bảo vệ bí mật Nhà nước; chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp có thẩm quyền về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước thuộc trách nhiệm cơ quan, tổ chức mình. Ngoài ra, Quy chế còn quy định về xác định, quản lý và bảo vệ các khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật Nhà nước trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/4/2018 và thay thế Quyết định số 574/2009/QĐ-UBND ngày 05/6/2009 của UBND tỉnh Kon Tum về việc ban hành Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
Người thực hiện các hành vi gian lận về Bảo hiểm y tế (BHYT) và trốn đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cho người lao động sẽ bị xử lý hình sự, được quy định trong Bộ Luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 27/11/2015, có hiệu lực từ 01/01/2018.Bộ Luật gồm 426 điều, trong đó có quy định:
* Tội gian lận BHYT (Điều 215): (1) Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm: a) Lập hồ sơ bệnh án, kê đơn thuốc khống hoặc kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật, chi phí giường bệnh và các chi phí khác mà thực tế người bệnh không sử dụng; b) Giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế được cấp khống, thẻ bảo hiểm y tế giả, thẻ đã bị thu hồi, thẻ bị sửa chữa, thẻ bảo hiểm y tế của người khác trong khám chữa bệnh hưởng chế độ bảo hiểm y tế trái quy định; (2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; d) Gây thiệt hại từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; e) Tái phạm nguy hiểm; (3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế 500 triệu đồng trở lên; b) Gây thiệt hại 500 triệu đồng trở lên; (4) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
* Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động (Điều 216): (1) Người nào có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động; (2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm: a) Phạm tội 02 lần trở lên;b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng; c)Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người;d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này; (3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ  đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Trốn đóng bảo hiểm 1 tỷ đồng trở lên; b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên; c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này; (4) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm; (5) Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng; b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng; c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng.
_________
 
Nguyễn Phi Em thực hiện

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

Công văn số 1458-CV/BTGTU

V/v cử học viên dự HN tập huấn lý luận, phê bình VHNT 2018

Lượt xem:149 | lượt tải:0

Công văn số 1453

V/v không nhận hoa chúc mừng kỷ niệm 88 năm Ngày truyền thống Ngành Tuyên giáo của Đảng

Lượt xem:177 | lượt tải:0

Công văn số 1452-CV/BTGTU

Đề cương t/tr kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Lượt xem:161 | lượt tải:0

GIẤY MỜI

Mời dự HN sơ kết công tác thông tin đối ngoại 6 tháng đầu năm 2018.

Lượt xem:144 | lượt tải:0

Công văn 1444

V/v hoãn Hội nghị sơ kết TTĐN 6 tháng đầu 2018

Lượt xem:158 | lượt tải:0

Công văn 1291

Tuyên truyền Đại hội Mặt trận các cấp

Lượt xem:200 | lượt tải:0

TÀI LIỆU

Tài liệu tuyên truyền về Luật An ninh mạng

Lượt xem:216 | lượt tải:0
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập66
  • Hôm nay4,268
  • Tháng hiện tại65,388
  • Tổng lượt truy cập1,526,083
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
      Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
      Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
      Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum. Điện thoại: 0260.3862301. Email: phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây