Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 02-2020 

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 02-2020

Thứ ba - 21/01/2020 13:51
Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 02-2020
A. NỘI DUNG TRỌNG TÂM SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 02-2020
- Lãnh đạo tuyên truyền kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020); các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Canh Tý 2020 gắn với tuyên truyền những kết quả đạt được trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước, của địa phương trong năm 2019; cổ vũ ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020; tuyên truyền, vận động Nhân dân nâng cao cảnh giác, phòng, chống các thủ đoạn, hoạt động trộm cắp, lừa đảo; phê phán các hành vi tiêu cực, không lành mạnh trong dịp Tết và mùa lễ hội.
Tập trung thông tin tuyên truyền kết quả đại hội điểm ở một số cơ sở; việc triển khai đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng. 
- Ngoài ra, tiếp tục tuyên truyền những nội dung cơ bản, những nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu, giải pháp đột phá trong Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh. Kết quả đạt được, những hạn chế tồn tại trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015 – 2020.
Tuyên truyền, biểu dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu, điển hình trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XII) “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”; việc triển khai các công trình trọng điểm chào mừng ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh và đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng.
Tuyên truyền kết quả nổi bật trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, sự quan tâm, hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền các cấp cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa; các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh; về xây dựng nông thôn mới...
Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. 
Thường xuyên tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh, hạn hán, quản lý bảo vệ tài nguyên, khoáng sản; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; an ninh trật tự, an toàn giao thông ...
B. THÔNG TIN THỜI SỰ
I. THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề 1: Chủ tịch UBND tỉnh Chỉ thị tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng
Để chủ động triển khai các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và ngăn chặn tình trạng vi phạm phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trong thời gian tới, đặc biệt thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán 2020, ngày 20-1, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 02/CT-UBND chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương chấn chỉnh công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành, chủ tịch UBND các huyện, thành phố theo chức năng nhiệm vụ khẩn trương chỉ đạo nghiêm túc và có hiệu quả các kết luận, kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; trọng tâm là Kế hoạch số 34-KH/TU ngày 05-5-2017 của Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW, ngày 12-1-2017 của Ban Bí thư Trung ương "về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng" trên địa bàn tỉnh và Thông báo số 3105/TB-VPUB ngày 4/12/2019 của Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020.
Xác định công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng là trách nhiệm, nhiệm vụ chính trị thường xuyên, liên tục của từng đơn vị, địa phương và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương chịu trách nhiệm chính đối với các vụ phá rừng, cháy rừng, mất rừng thuộc phạm vi lĩnh vực, địa bàn mình quản lý hoặc để xảy ra việc các tổ chức, cá nhân cấp dưới vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về Lâm nghiệp, phòng cháy, chữa cháy rừng đến mọi tầng lớp nhân dân; vận động toàn dân tham gia bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng; khuyến khích động viên nhân dân tham gia đấu tranh, ngăn chặn và tố giác các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp. Chú trọng việc phát hiện, nêu gương điển hình trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ rừng. Biểu dương kịp thời các tổ chức, cá nhân tiêu biểu, có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng nhằm tạo sự lan tỏa trong toàn xã hội.
Chuyên đề 2: Kế hoạch tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp
Ngày 26-11-2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 116-KH/TU “về tuyên truyền đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, theo đó:
1. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy: (1) Chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo và định hướng công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin truyền thông; quản lý các hoạt động hỗ trợ báo chí và tổ chức họp báo trước, trong và sau Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh; chỉ đạo tuyên truyền kết quả Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng. (2) Tổ chức hội nghị Báo cáo viên Tỉnh ủy để thông tin những nội dung cơ bản trong văn kiện Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh; công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. (3) Chủ động điều tra, nắm bắt dư luận xã hội; tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền trên không gian mạng; xây dựng kế hoạch và tổ chức đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, chống phá đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng của các thế lực thù địch. (4) Biên tập sách ảnh “ĐẢNG BỘ TỈNH KON TUM, MỘT CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN, 2015 - 2020” chào mừng Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh. (5) Chủ trì, phối hợp duyệt nội dung tuyên truyền, cổ động trực quan; các phim, băng hình, sách báo và nội dung các buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh. (6) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thành lập Ban Tổ chức cuộc thi và tiến hành tổ chức cuộc thi tìm hiểu 90 năm Ngày truyền thống Đảng bộ tỉnh Kon Tum (25/9/1930- 25/9/2020).
2. Ban Dân vận Tỉnh ủy: (1) Theo dõi, tổng hợp tình hình tư tưởng, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân đối với đại hội đảng bộ các cấp; trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp để lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời. (2) Chủ trì, phối hợp với Mặt trận và các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh tổng hợp ý kiến của Nhân dân tham gia góp ý vào các dự thảo văn kiện Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng. (3) Chỉ đạo, hướng dẫn các đoàn thể chính trị-xã hội, các hội quần chúng làm tốt công tác tuyên truyền về đại hội đảng bộ các cấp trong các tầng lớp nhân dân.
3. Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh:
- Phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy: (1) Tổ chức Hội nghị định hướng công tác thông tin tuyên truyền đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh tiến tới Đại hội XIII của Đảng cho đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, Cổng thông tin điện tử tỉnh, các bản tin, trang thông tin điện tử địa phương và phóng viên các cơ quan báo chí Trung ương đóng chân trên địa bàn tỉnh; (2) Chỉ đạo theo dõi, đánh giá thông tin phản ánh về đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh của các cơ quan báo chí và trên các trang mạng xã hội; kịp thời tham mưu xử lý những vấn đề cần thiết; (3) Xây dựng ma két, khẩu hiệu trang trí trong và ngoài hội trường tổ chức Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh; thiết kế mẫu Huy hiệu đại biểu Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh; chỉ đạo các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền về đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng.
- Chỉ đạo tổ chức công tác thông tin, cổ động; tổ chức chiếu phim lưu động; phim tài liệu về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh; các kỳ đại hội của Đảng; các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh; các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; triển lãm tuyên truyền trước, trong và sau đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng.
- Chỉ đạo bố trí kinh phí cho các hoạt động tuyên truyền, trang trí khánh tiết, chương trình văn nghệ chào mừng, tuyên truyền lưu động đã được phê duyệt.
4. Đảng đoàn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn: (1) Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện tốt công tác tuyên truyền trong các tổ chức thành viên, các cấp hội, đoàn thể trực thuộc và các tầng lớp nhân dân về đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng. (2) Phối hợp tổ chức tốt việc lấy ý kiến đóng góp của Nhân dân vào các dự thảo văn kiện trình đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng. (3) Kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm trạng của các tầng lớp nhân dân để tham mưu phối hợp giải quyết những vấn đề nổi cộm, phát sinh ngay từ cơ sở. (4) Tổ chức phát động và vận động cán bộ, hội viên và đoàn viên tích cực tham gia hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước lập thành tích chào mừng đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Đại hội XIII của Đảng.
5. Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy: (1) Tổ chức tuyên truyền, quán triệt Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị "về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng"; các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy về triển khai thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị. (2) Căn cứ nội dung tuyên truyền đã được xác định tại Kế hoạch này và hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, xây dựng kế hoạch tuyên truyền cụ thể, đảm bảo sát với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị. (3) Tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị để lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân vào các dự thảo văn kiện trình đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng. (4) Nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm trạng của các tầng lớp nhân dân trước, trong, sau đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh và Đại hội XIII của Đảng để chủ động giải quyết, hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
6. Các cơ quan báo chí của tỉnh: (1) Xây dựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền đại hội đảng các cấp, Đại hội XVI  Đảng bộ tỉnh, Đại hội XIII của Đảng theo đúng hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. (2) Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh chuẩn bị các điều kiện để truyền hình, phát thanh, tường thuật trực tiếp lễ khai mạc, bế mạc Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh, Đại hội XIII của Đảng và thông tin phản ánh các hoạt động diễn ra trong thời gian trước, trong và sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Đại hội XIII của Đảng; tổ chức truyền hình, phát thanh chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI; tổ chức phát các phim tài liệu về Đảng, về Chủ tịch Hồ Chí Minh và các kỳ đại hội Đảng, đại hội Đảng bộ tỉnh. 
Chuyên đề 3: Quy định mới về cán bộ, công chức cấp xã
Từ ngày 25-12-2019, quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố được thực hiện theo Thông tư 13/2019/TT-BNV của Bộ Nội vụ mới ban hành.
Theo Thông tư, công chức cấp xã phải có đủ các tiêu chuẩn chung quy định tại Điều 3 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn, cụ thể: Đủ 18 tuổi trở lên; tốt nghiệp trung học phổ thông; về trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt nghiệp đại học trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh công chức cấp xã; UBND cấp tỉnh quy định cụ thể tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ từ trung cấp trở lên đối với công chức làm việc tại các xã: miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo, xã đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Đối với điều kiện, tiêu chuẩn tuyển dụng công chức cấp xã trong trường hợp đặc biệt, Thông tư nêu rõ: Cán bộ cấp xã giữ chức vụ quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP khi thôi đảm nhiệm chức vụ cán bộ cấp xã thì được xem xét, tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển nếu đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn: Có đủ các tiêu chuẩn theo quy định tại Thông tư này; còn số lượng và vị trí chức danh công chức cấp xã cần tuyển dụng; đáp ứng được ngay yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức cấp xã cần tuyển dụng; trường hợp trước khi bầu giữ chức vụ cán bộ cấp xã chưa phải là công chức cấp xã thì thời gian giữ chức vụ cán bộ cấp xã ít nhất là 5 năm (đủ 60 tháng) trở lên; tại thời điểm tiếp nhận không trong thời gian bị xem xét kỷ luật; bị điều tra, truy tố, xét xử và không trong thời hạn bị thi hành kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Khi tiếp nhận công chức cấp xã không qua thi tuyển, chủ tịch UBND cấp huyện phải thành lập hội đồng kiểm tra, sát hạch, trừ trường hợp trước khi được bầu giữ chức vụ cán bộ cấp xã đã là công chức cấp xã.
Cũng theo Thông tư, người được tuyển dụng vào chức danh công chức cấp xã: Văn phòng - thống kê; địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); tài chính - kế toán; tư pháp - hộ tịch; văn hóa - xã hội, được miễn thực hiện chế độ tập sự khi có đủ các điều kiện sau: đã có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng hoặc lớn hơn thời gian tập sự quy định tại Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP tương ứng với chức danh công chức cấp xã được tuyển dụng; trong thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định, người được tuyển dụng công chức cấp xã đã làm những công việc phù hợp với nhiệm vụ của chức danh công chức cấp xã được tuyển dụng.
Công chức làm việc tại các xã: miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo, xã đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian tập sự được hưởng 100% bậc lương khởi điểm theo trình độ đào tạo. Thời gian tập sự không được tính vào thời gian để xét nâng lương theo niên hạn.
Ngoài ra, Thông tư cũng quy định chi tiết việc xếp lương đối với cán bộ, công chức cấp xã; kiêm nhiệm chức danh và mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố…
II. TIN TRONG TỈNH
1. Hoạt động của lãnh đạo tỉnh dịp Tết Canh Tý 2020
* Sáng 21-1 (tức ngày 27 tháng Chạp), Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Đoàn ĐBQH tỉnh tổ chức Lễ dâng hoa, dâng hương tri ân, tưởng nhớ các Anh hùng Liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh và Nhà bia ghi danh các Anh hùng Liệt sĩ của Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) nhân dịp đón Tết Canh Tý 2020 và kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020).
Dự Lễ có các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh; Nguyễn Trung Hải - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Đoàn ĐBQH tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh; các đơn vị lực lượng vũ trang, đơn vị trung ương đứng chân trên địa bàn và các tầng lớp Nhân dân.
Với tất cả lòng thành kính, các đồng chí lãnh đạo tỉnh, đại diện các ban, ngành, đoàn thể đã đặt vòng hoa, dâng hương tại Đài tưởng niệm và thắp hương lên từng phần mộ tưởng nhớ các liệt sĩ.
* Sáng 20-1, các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh đến thăm, chúc Tết các đồng chí nguyên Thường trực Tỉnh ủy qua các thời kỳ.
Đoàn đến thăm, chúc Tết và tặng quà các đồng chí: Sô Lây Tăng - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh; Nguyễn Thanh Cao - nguyên Bí thư Tỉnh ủy;  Y Vêng - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh; Ka Ba Tơ - nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch HĐND tỉnh.
Đoàn cũng đến thăm, chúc Tết và tặng quà thân nhân gia đình các đồng chí: Y Một - nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai - Kon Tum; Nguyễn Văn Tiềm - nguyên Bí thư Tỉnh ủy; Nguyễn Hồng Quang - nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch HĐND tỉnh; Trần Anh Linh - nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch HĐND tỉnh.   
Tại các gia đình đến thăm, thay mặt Thường trực Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Văn Hùng ân cần thăm hỏi, chúc các đồng chí cùng gia đình năm mới đón xuân vui tươi, mạnh khỏe và hạnh phúc. Đồng thời, đồng chí Nguyễn Văn Hùng mong các đồng chí tiếp tục quan tâm, đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm để xây dựng tỉnh Kon Tum ngày ổn định và phát triển.
* Trước đó, lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các địa phương trong tỉnh đã tới thăm hỏi và chúc Tết các gia đình chính sách, thân nhân gia đình chính sách; nhân dân và cán bộ chiến sĩ, các đơn vị lực lượng vũ trang…trên địa bàn.
- Đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, ngày 17-1, đã đến thăm, tặng quà, chúc Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 tại 2 huyện Ia H’Drai và Sa Thầy.
Đặc biệt, đồng chí đã đến thăm, chúc Tết 22 hộ gia đình điểm dân cư 64 thôn Ia Dơr, xã Ia Tơi. Đây là những hộ dân đồng bào DTTS ở các huyện: Sa Thầy, Tu Mơ Rông mới đến lập nghiệp cách đây 10 tháng để làm công nhân cao su. Tại đây, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đã tặng các hộ 500 ngàn đồng và 1 con heo.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cũng đã thăm, tặng quà và chúc Tết bà con nhân dân làng chài Sê San thuộc thôn 7, xã Ia Tơi.
- Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, sáng 17-1, tổ chức gặp mặt đại diện các tầng lớp nhân dân, nhân sỹ trí thức, chức sắc các tôn giáo, kiều bào, thân nhân kiều bào nhân dịp Xuân Canh Tý 2020.
Dự buổi gặp mặt có các đồng chí: A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; Nguyễn Trung Hải - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; Nguyễn Thế Hải - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Trần Thị Nga - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện các sở, ban, ngành, những người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc, nhân sỹ trí thức, chức sắc các tôn giáo, kiều bào và thân nhân kiều bào đang sinh sống trên địa bàn tỉnh.
Tại buổi gặp mặt, thay mặt lãnh đạo tỉnh, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Nga thông báo tình hình kinh tế - xã hội năm 2019, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 của tỉnh.
Đồng chí cũng thông tin việc chăm lo Tết cho nhân dân, các đối tượng chính sách trong dịp Tết Nguyên đán. Đến nay, tỉnh đã hỗ trợ tặng quà cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn; chỉ đạo hỗ trợ 9.826,8 triệu đồng cho 16.378 hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập (600.000 đồng/hộ); 744 triệu đồng cho 2480 hộ nghèo theo tiêu chí thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (300.000 đồng/hộ) và 2.642,7 triệu đồng cho 8.809 hộ cận nghèo (300.000 đồng/hộ); chỉ đạo các sở, ban ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố hỗ trợ 188.385kg gạo cho 3.856 hộ/12.559 khẩu; cho chủ trương tổ chức gặp mặt kiều bào nhân dịp Tết Nguyên đán Canh Tý 2020; tổ chức các đoàn đi thăm, chúc Tết các cá nhân, đơn vị làm nhiệm vụ trực chiến, vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố Kon Tum phục vụ Tết Nguyên đán…
2. Sáng 09-1, được sự ủy quyền của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị trực tuyến học tập, quán triệt các nội dung Hội nghị Trung ương 11 khoá XII và một số chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng. Đồng chí Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.
Hội nghị được kết nối điểm cầu tỉnh (Hội trường Ngọc Linh) với 10 điểm cầu huyện, thành phố và 26 điểm cầu xã, thị trấn, với tổng số trên 2.000 đại biểu tham dự.
Đại biểu tham dự hội nghị được quán triệt các nội dung Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Kết luận số 44-KL/TW, ngày 22-01-2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 01-12-2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới” và Kế hoạch số 111-KH/TU, ngày 23-9-2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 44-KL/TW, ngày 22-01-2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 03-9-2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới” và Kế hoạch số 119-KH/TU, ngày 18-12-2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị 37-CT/TW; Kế hoạch số 112-KH/TU, ngày 02-10-2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “về tiếp tục đấu tranh xóa bỏ triệt để tà đạo Hà Mòn trên địa bàn tỉnh”.
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Lê Thị Kim Đơn đề nghị: các huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ, sau hội nghị này, khẩn trương chỉ đạo tổ chức phổ biến, quán triệt các nội dung Hội nghị Trung ương 11 khoá XII và các chỉ thị, kết luận của Đảng trong các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn và báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy trước ngày 29-02-2020; chủ động tổ chức phổ biến, quán triệt bằng các hình thức phù hợp, đảm bảo nội dung đối với các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương đã ban hành sau khi có chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; chỉ đạo, đôn đốc cấp uỷ xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tình hình thực tế của địa phương, đơn vị; tăng cường công tác kiểm tra việc triển khai, thực hiện.
Đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cũng đề nghị các cơ quan báo chí của tỉnh, thường trú các báo Trung ương tổ chức tuyên truyền sâu rộng kết quả Hội nghị Trung ương 11 khóa XII, các chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng bằng nhiều hình thức phù hợp, bảo đảm các tầng lớp nhân dân tiếp cận, nắm được nội dung cơ bản, tạo sự đồng thuận và thống nhất cao trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện.
3. Sáng 10-1, Ủy ban MTTQVN tỉnh khóa X, nhiệm kỳ 2019 – 2024 tổ chức Hội nghị lần thứ 2.
Năm qua, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ các cấp đã chủ động tham mưu cho cấp ủy phối hợp với chính quyền triển khai thực hiện chương trình phối hợp thống nhất hành động đạt được nhiều kết quả.
Ủy ban MTTQVN các cấp đã tập trung triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp Nhân dân; chủ động nắm tình hình tư tưởng Nhân dân, tập hợp phản ánh kịp thời những kiến nghị của Nhân dân với cấp ủy, chính quyền.
Tập trung triển khai thực hiện tốt công tác an sinh xã hội và công tác chăm lo cho người nghèo. Năm 2019, Quỹ Vì người nghèo các cấp vận động được trên 26,5 tỷ đồng (hỗ trợ xây dựng 315 căn nhà gần 11,3 tỷ đồng; sửa chữa 14 căn nhà 57 triệu đồng; hỗ trợ 88 hộ nghèo phát triển sản xuất 654 triệu đồng; hỗ trợ 1.471 lượt người khám chữa bệnh trên 402 triệu đồng...); Quỹ cứu trợ tỉnh vận động được 319 triệu đồng; vận động các nhà hảo tâm trong và ngoài tỉnh hỗ trợ tổ chức ngày hội Bánh chưng xanh tại 639 thôn, làng với kinh phí 5,6 tỷ đồng.
Việc tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động đã có sự đổi mới, thiết thực, cụ thể, hướng về cơ sở, đi vào đời sống và huy động được sức mạnh nội lực của người dân; Công tác đối ngoại Nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế đã đạt những kết quả nhất định.
Công tác kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất luợng hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị xã hội được quan tâm thực hiện. Đặc biệt, đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam các cấp nhiệm kỳ 2019-2024.
Căn cứ Nghị quyết Đại hội MTTQVN tỉnh lần X, nhiệm kỳ 2019 – 2024, nhiệm vụ trọng tâm năm 2020 được xác định đó là, (1) Triển khai các nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam tham gia công tác tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XVI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. (2) Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam các cấp nhiệm kỳ 2019 – 2024; Tuyên truyền phổ biến, giáo dục và vận động Nhân dân chấp hành pháp luật; Tuyên truyền và tổ chức các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn. (3) Phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; giảm sát và phản biện xã hội; Tham gia phòng chống tham nhũng, lãng phí; Tham gia xây dựng Đảng và chính quyền trong sạch, vững mạnh. (4) Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân, người Việt Nam ở nước ngoài; củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thi đua lao động sáng tạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh của tỉnh. (5) Phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của Nhân dân, triển khai hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước do MTTQ Việt Nam phát động: “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; Vận động xậy dựng Quỹ Vì người nghèo…
Tại Hội nghị, thay mặt lãnh đạo tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Nga thông báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng năm 2019; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng năm 2020; công tác chăm lo Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 cho hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn tỉnh. Lãnh đạo UBMTTQVN tỉnh thông báo kết quả, Nghị quyết Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2019 – 2024.
4. Chiều 15-1, Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác thông tin đối ngoại năm 2019 và triển khai nhiệm vụ năm 2020.
Năm 2019, công tác thông tin đối ngoại của tỉnh tiếp tục được triển khai thực hiện một cách đồng bộ với nhiều nội dung, phương thức hoạt động đổi mới, đạt được nhiều kết quả tích cực. Thông qua các hoạt động đã góp phần tích cực vào việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, những thành tựu đổi mới của đất nước, của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, nâng cao vị thế của tỉnh ra bên ngoài.
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, công tác chỉ đạo, phối hợp triển khai nhiệm vụ công tác thông tin đối ngoại ở một số địa phương chưa được chặt chẽ, đồng bộ.
Trong năm 2020, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đề nghị thành viên Ban Chỉ đạo, lãnh đạo cấp ủy các địa phương tiếp tục tăng cường quán triệt đầy đủ hơn nữa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đối ngoại, thông tin đối ngoại, bảo vệ biên giới quốc gia, biển, đảo Tổ quốc. Thực hiện có hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy về quan hệ đối ngoại Đảng trong tình hình mới, nâng tầm đối ngoại đa phương; Quyết định số 1517/ 2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại trên địa bàn tỉnh; Nghị định 09/2017 của Chính phủ về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính Nhà nước; cập nhật thông tin lên trang thông tin điện tử, phục vụ cho công tác thông tin đối ngoại của địa phương, của tỉnh…với một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
Về công tác thông tin đối ngoại: Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị-xã hội và các tầng lớp nhân dân về vị trí, tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại, quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước nhằm tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị. Tăng cường công tác phối hợp, cung cấp thông tin, thống nhất định hướng tuyên truyền giữa cơ quan thường trực với các thành viên trong Ban Chỉ đạo công tác TTĐN; thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc việc triển khai thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch hoạt động hằng năm. Chú trọng giới thiệu, quảng bá hình ảnh, con người, tiềm năng thế mạnh của tỉnh Kon Tum thông qua các hoạt động ngoại giao, hội nghị xúc tiến đầu tư, thương mại, báo chí, mạng Internet để giúp nhân dân thế giới, người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng về các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước ta trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội...
Về công tác tuyên truyền biển, đảo: Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của biển và Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam; triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án của Thủ tướng Chính phủ về tuyên truyền bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam giai đoạn 2018-2020; nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền biển, đảo thông qua tuyên truyền miệng, các loại hình báo chí, truyền thông của tỉnh.
Về công tác phân giới, cắm mốc và quản lý biên giới: Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng "về Chiến lược bảo vệ Biên giới quốc gia”; Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 10-10-2017 của Bộ Chính trị "về phát triển kinh tế - xã hội các xã biên giới đất liền kết hợp với tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại". Tăng cường quan hệ đối ngoại Đảng, Nhà nước, đối ngoại nhân dân với các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia; động viên, khuyến khích nhân dân khu vực biên giới tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ đường biên, cột mốc, an ninh trật tự khu vực biên giới. Chỉ đạo các cơ quan báo chí truyền thông chủ động phối hợp với địa phương, đơn vị xây dựng các tin, bài, phóng sự biểu dương các đơn vị, cá nhân có thành tích trong công tác bảo vệ biên giới, lãnh thổ và phát triển kinh tế vùng biên; thực hiện có hiệu phong trào "Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, lãnh thổ".
5. Chiều 15-1, Công an tỉnh tổ chức Hội nghị đánh giá 01 năm thực hiện chủ trương bố trí công an chính quy đảm nhận chức danh công an xã.
Dự Hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Đại tá Nguyễn Công Văn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh; lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, các ban xây dựng Đảng, lãnh đạo các sở, ngành liên quan và các huyện, thành phố.
Đến nay, Công an tỉnh đã bố trí 366 cán bộ, chiến sĩ đảm nhận chức vụ công an xã tại 85/85 xã trong toàn tỉnh. Trong đó, 84 trưởng công an xã, 73 phó trưởng công an xã và 209 công an viên. Sau 1 năm triển khai thực hiện, toàn tỉnh đã có 17/85 xã bố trí nơi làm việc độc lập, 69 xã làm việc trong trụ sở Đảng ủy, UBND xã; 100% địa phương đều bố trí đất để xây dựng trụ sở công an xã.
Bên cạnh đó, lực lượng công an chính quy sau khi xuống địa bàn đã bám cơ sở, sát dân, tăng cường các hoạt động tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự, nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động quần chúng xây dựng phong trào phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Lực lượng công an xã đã phát hiện, giải quyết trên 400 vụ việc vi phạm pháp luật, góp phần giảm số vụ vi phạm so với trước. Cùng với tham mưu tốt cho cấp ủy, chính quyền địa phương, lực lượng công an xã còn thực hiện tốt công tác phòng ngừa, răn đe tội phạm, góp phần nâng cao uy tín của ngành Công an trong quần chúng nhân dân.
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng đánh giá cao tinh thần vượt khó hoàn thành nhiệm vụ của lực lượng công an chính quy về xã, qua đó góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
Đồng chí đề nghị, trong thời gian tới, Công an tỉnh tiếp tục kiện toàn về đội ngũ và cơ sở vật chất để giúp lực lượng công an xã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Lực lượng công an xã phải am hiểu địa bàn, phong tục tập quán của người dân địa phương để làm tốt công tác dân vận, phòng chống tội phạm... Trước mắt, lực lượng công an từ tỉnh đến xã làm tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự giúp người dân an tâm vui xuân, đón Tết. Đồng thời có kế hoạch để bảo vệ đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2020-2025).
Nhân dịp Xuân Canh Tý 2020, thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng và Đại tá Nguyễn Công Văn tặng quà, chúc cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh sức khỏe, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
6. Sáng 08-1, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến với các huyện, thành phố về công tác báo chí quý IV năm 2019. Đồng chí Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì Hội nghị.
Dự tại điểm cầu tỉnh có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Nga; lãnh đạo các Sở, ban, ngành liên quan; đại diện phóng viên các cơ quan báo chí trung ương thường trú tại tỉnh; các cơ quan báo chí của tỉnh và Cổng TTĐT tỉnh, Trang TTĐT các ngành, địa phương.
Trong quý IV-2019, công tác phối hợp chỉ đạo, quản lý hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tiến hành chặt chẽ, đúng quy định. Một số địa phương, đơn vị khi được phản ánh đã kịp thời xử lý, khắc phục những vấn đề báo chí phản ánh và có báo cáo rõ tình hình hình để thông tin định hướng dư luận xã hội .
Các cơ quan báo chí, truyền thông của tỉnh tích cực tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động viết tin, bài tuyên truyền các vấn đề dư luận xã hội quan tâm theo định hướng, chỉ đạo của tỉnh; bám sát định hướng và tình hình thực tế tại địa phương để thông tin tuyên truyền đúng trọng tâm trọng điểm.
Báo chí trong tỉnh thường xuyên thông tin kịp thời các hoạt động, phong trào thi đua; những tấm gương người tốt, việc tốt; những nỗ lực của các cấp, ngành trong công tác phòng chống dịch bệnh, phòng chống buôn lậu; giới thiệu quảng bá văn hóa, du lịch, tiềm năng thế mạnh của tỉnh…; đồng thời, có nhiều tin, bài phản bác lại các thông tin, tin đồn sai sự thật, góp phần ổn định tư tưởng, định hướng dư luận xã hội.
Tuy nhiên, việc chỉ đạo, xử lý, báo cáo, cung cấp phản hồi thông tin cho báo chí ở một số đơn vị, địa phương liên quan còn chậm, dẫn đến một việc báo chí phản ánh lại nhiều lần; tình trạng cung cấp thông tin cho báo chí, hoặc tung tin không chính xác trên mạng xã hội gây tâm lý hoang mang, lo lắng…
Tại Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Nga đã báo cáo tóm tắt tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2019, phương hướng nhiệm vụ năm 2020; Sở Thông tin và Truyền thông báo cáo công tác quản lý nhà nước về hoạt động báo chí - xuất bản và tình hình hoạt động của Cổng, Trang Thông tin điện tử của các sở, ngành, địa phương quý IV- 2019; Sở Công Thương thông tin công tác bình ổn giá cả thị trường một số mặt hàng thiết yếu và Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh báo cáo tình hình hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo đón Tết Nguyên đán Canh Tý 2020.
Kết luận hội nghị, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lê Thị Kim Đơn đề nghị các cơ quan báo chí tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền kết quả kinh tế- xã hội của tỉnh trong năm 2019 và nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2020.
Trong đó chú ý gắn tuyên truyền Nghị quyết 01 của Chính phủ với kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, chương trình của UBND tỉnh về kế hoạch phát triển KTXH năm 2020. Đặc biệt, tập trung tuyên truyền các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân Canh Tý và Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2020) theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh  và hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Ngoài ra, tuyên truyền học tập chuyên đề năm 2020 về “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta.
Đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy lưu ý, Tết Nguyên đán đang tới gần, các cơ quan báo chí tập trung phản ánh công tác chăm lo Tết cho người nghèo, cận nghèo; công tác phòng, chống gian lận thương mại và tác hại của rượu, bia trong dịp Tết, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu chấp hành thực hiện Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia.
III. TIN TRONG NƯỚC
1. Tình hình kinh tế-xã hội năm 2019; nhiệm vụ, giải pháp năm 2020
1.1. Những kết quả nổi bật trong năm 2019
1.1.1. Nền kinh tế duy trì đà tăng trưởng cao, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra; chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2019 ước đạt 7,02% so với cùng kỳ năm 2018; vượt mục tiêu kế hoạch đề ra (6,6 - 6,8%), tuy thấp hơn mức tăng 7,08% của năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng của các năm 2011 - 2017, là năm thứ hai liên tiếp kể từ năm 2011 GDP tăng trên 7%. 
1.1.2. Kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tạo môi trường, động lực thúc đẩy kinh tế phát triển: Chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát tốt, CPI bình quân năm 2019 tăng 2,79%, thấp hơn mục tiêu đề ra (là mức tăng bình quân năm thấp nhất trong 3 năm qua). Thị trường tài chính, tiền tệ và tỷ giá được điều hành chủ động, linh hoạt và duy trì ổn định phù hợp; dự trữ ngoại hối đạt khoảng 79 tỷ USD. Tổng thu ngân sách nhà nước ước tính đạt trên 1.400 nghìn tỷ đồng; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 3,44% GDP; nợ công giảm còn 56,1% GDP (năm 2016 là 64,6% GDP).
1.1.3. Cơ cấu lại nền kinh tế dần đi vào thực chất, chuyển dịch tích cực, theo hướng giảm tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
1.1.4. Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện: Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam được Diễn đàn Kinh tế thế giới đánh giá tăng 10 bậc và 3,5 điểm so với năm 2018 - mức tăng mạnh nhất thế giới. Số doanh nghiệp thành lập mới năm 2019 đạt mức kỷ lục trên 138 nghìn doanh nghiệp, vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 12,5 tỷ đồng. Tổng số vốn đăng ký mới đạt khoảng 1,7 triệu tỷ đồng.
1.1.5. Văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; giảm nghèo đạt kết quả tích cực; đời sống nhân dân được nâng lên: Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng, cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế; chất lượng cuộc sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện rõ rệt. Các chính sách người có công, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững được các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo và thực hiện hiệu quả. Chất lượng dịch vụ y tế tiếp tục được nâng lên. Chất lượng giáo dục - đào tạo và dạy nghề được nâng lên. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức sôi nổi và rộng khắp. Thể dục, thể thao được chú trọng; thể thao thành tích cao đạt nhiều kết quả tích cực, ấn tượng.
1.2. Những tồn tại, hạn chế
Tuy đạt được nhiều kết quả quan trọng và ấn tượng, song nền kinh tế nước ta trong năm 2019 vẫn bộc lộ một số hạn chế: Kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa thực sự vững chắc, nhất là trong bối cảnh chịu ảnh hưởng lớn của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Tiến độ cơ cấu lại nền kinh tế vẫn còn chậm. Phát triển kết cấu hạ tầng, trong đó có hạ tầng đô thị chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Giá nhiều mặt hàng nông sản chủ lực giảm. Đời sống của một bộ phận người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai còn nhiều khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn diễn biến phức tạp; tác động, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng lớn. Tổ chức bộ máy ở một số lĩnh vực, cơ quan, đơn vị chưa thực sự tinh gọn, hiệu quả. An ninh, trật tự trên một số địa bàn vẫn còn diễn biến phức tạp…
1.3. Nhiệm vụ, giải pháp năm 2020
Trong năm 2020, với quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2020, góp phần hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và Chiến lược 10 năm 2011 - 2020, các cấp, các ngành cần thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 01/NQ-CP, ngày 01/01/2020 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2020, với phương châm“Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”; trong đó tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, tập trung ổn định kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án quan trọng quốc gia, công trình trọng điểm; phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị lớn.
Thứ ba, phát triển, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển hài hòa văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Thứ tư, tăng cường quản lý đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, ứng phó với biến đổi khí hậu. Tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy; tinh giản biên chế; cải cách hành chính, cải cách tư pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành và thực thi pháp luật. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, phòng chống tham nhũng, lãng phí.
Thứ năm, làm tốt công tác thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội, lan tỏa khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường. Củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo quốc gia và môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển; tiếp tục nâng cao uy tín và vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
2. Một số công tác trọng tâm đón mừng Tết Nguyên đán Canh Tý 2020
Nhằm chuẩn bị thật tốt các điều kiện để nhân dân đón mừng Tết Nguyên đán Canh Tý vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm, tạo khí thế, phấn khởi trong năm mới, ngày 10/12/2019, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW về việc tổ chức Tết năm 2020, trong đó đã nêu 06 nhiệm vụ.
Để thực hiện tốt Chỉ thị số 40 của Ban Bí thư, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội cần quan tâm thực hiện tốt một số nội dung sau:
Thứ nhất, các cấp ủy, chính quyền quán triệt sâu sắc tinh thần của Chỉ thị, khẩn trương xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của các gia đình chính sách, hộ nghèo, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo, nơi bão lụt và những gia đình công nhân trong các khu công nghiệp, chế xuất… đảm bảo mọi người, mọi nhà ai cũng được đón Tết, vui xuân.
Thứ hai, gắn việc tổ chức Tết với việc thực hiện Quy định 08 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và Quy định số 205 ngày 23/9/2019 về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền ngay trong quá trình tiến hành Đại hội Đảng cấp cơ sở tiến tới Đại hội lầng thứ 13 của Đảng. Tuyệt đối không tổ chức đi thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp. Thực hiện nghiêm chủ trương cấm biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức.
Thứ ba, tổ chức lực lượng phù hợp bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội; tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, tổ chức ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp nhập lậu, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật, sản phẩm từ động vật vào Việt Nam; bố trí trang thiết bị y tế, đội ngũ y bác sĩ thường trực các cơ sở khám, chữa bệnh đảm bảo sức khỏe cho nhân dân, chủ động phòng, chống dịch bệnh trước, trong, sau dịp Tết.
Thứ tư, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 41-CT/TW, ngày 05/02/2015 của Ban Bí thư (khóa XI) về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội và Công điện số 1685/CĐ-TTg, ngày 09/12/2019 về bảo đảm an toàn giao thông Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán và Lễ hội xuân 2020. Tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao, lễ hội cần thiết thực, hiệu quả, an toàn, tiết kiệm, phù hợp với nếp sống văn minh, truyền thống văn hoá dân tộc và thuần phong mỹ tục, tập quán tốt đẹp của từng địa phương, phù hợp với điều kiện, khả năng của từng địa phương, bảo đảm tuyệt đối an toàn và không được sử dụng ngân sách nhà nước.
Nắm chắc tình hình, có phương án xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; giữ vững toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, các sự kiện chính trị, đối ngoại, văn hóa - xã hội của đất nước.
Thực hiện nghiêm việc không dùng ngân sách tổ chức đi thăm, chúc Tết, tặng quà đối với các lãnh đạo cơ quan, đơn vị các cấp; không sử dụng phương tiện, tài sản công vào các hoạt động mang tính cá nhân trong dịp Tết, lễ hội... Ngay sau kỳ nghỉ Tết, các cơ quan, tổ chức, đơn vị khẩn trương tập trung vào công việc,
Thứ năm, tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về những thành tựu của đất nước, về các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân, hoạt động văn hoá, thể thao, lễ hội trong dịp Tết, bảo đảm đón Tết vui tươi, an toàn, lành mạnh, tiết kiệm, hiệu quả, chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, làm thất bại các âm mưu phá hoại của các loại đối tượng.
Thứ sáu, sau khi tổ chức thực hiện Chỉ thị 40, các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể cần tổ chức sơ kết đánh giá kết quả đạt được, kịp thời, thẳng thắn rút ra những kinh nghiệm thực tế cho những năm tới để thực hiện tốt hơn.
3. Tích cực xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh
Ngày 03-02-1930, dưới sự chủ trì của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã tiến hành hội nghị hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự tất yếu của lịch sử, là kết quả phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin, là kết quả quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt to lớn trong lịch sử cách mạng nước ta, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc.
Những thắng lợi vĩ đại trong 90 năm qua kể từ ngày có Đảng lãnh đạo là minh chứng sinh động nhất về năng lực lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sức mạnh to lớn của Nhân dân ta. Đảng đã không ngừng tự đổi mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trước bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Đảng ta đã dành không ít thời gian và công sức cho công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, được đặt ra trong nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng.
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, với quyết tâm chính trị cao, Ban Chấp hành Trung ương đã bám sát 6 nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội, ban hành 4 nghị quyết và 01 quy định để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành 124 văn bản (nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, kế hoạch, hướng dẫn...) về công tác xây dựng Đảng, trong đó kịp thời ban hành các nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện những nhiệm vụ mới, quan trọng; việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã; về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới... Việc Trung ương ban hành kịp thời, đồng bộ hệ thống văn bản trên hầu hết các lĩnh vực đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.
Sau thời gian triển khai thực hiện, công tác xây dựng Đảng đã đạt được những chuyển biến tích cực và kinh nghiệm quan trọng. Bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng lên; Đảng luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức trong bối cảnh trong nước, khu vực, thế giới có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường và có những quyết sách phù hợp để chỉ đạo xử lý kịp thời, hiệu quả. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và người đứng đầu các cấp từng bước được nâng lên. Tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ; việc ngăn chặn, xử lý tiêu cực, sai phạm, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí có chuyển biến rõ nét. Niềm tin của cán bộ và các tầng lớp nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố và nâng cao.
Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng vẫn còn nhiều việc phải làm, nhất là việc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa dân... Các thế lực thù địch vẫn đang tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; chúng ra sức xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta, đánh thẳng vào hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.
Trong tình hình ấy, chúng ta càng cần phải tập trung làm tốt hơn nữa công tác xây dựng Đảng. Phương hướng chung của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là phải tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm cho Đảng đủ sức lãnh đạo sự nghiệp của đất nước không ngừng phát triển.
Trong điều kiện Đảng ta là Đảng cầm quyền, hoạt động trong môi trường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế; cán bộ, đảng viên giữ nhiều trọng trách, đối mặt với bao cám dỗ, với mặt trái của cơ chế thị trường, chúng ta càng phải chăm lo giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng.
Nghị quyết Trung ương 4, khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã khẳng định: Phải nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đề cao pháp luật của Nhà nước. Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. 
Tự hào với những thắng lợi đã đạt được, hướng tới tương lai tươi sáng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vững tay lái, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
4. Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng năm 2019; phương hướng, nhiệm vụ năm 2020
4.1. Một số kết quả chủ yếu:
1.1. Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng
Để triển khai các quy định mới của Luật phòng, chống tham nhũng (PCTN) và tăng cường thực hiện Luật tiếp cận thông tin, Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường công khai, minh bạch, cung cấp thông tin, thực hiện trách nhiệm giải trình trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, dư luận xã hội quan tâm. Các bộ, ngành, địa phương duy trì việc tổ chức họp báo định kỳ để cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tin, báo chí. Công tác kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công khai, minh bạch cũng được các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện. Qua thanh tra, kiểm tra, những cơ quan, đơn vị có tồn tại, hạn chế, sai phạm được các bộ, ngành, địa phương đề nghị kiểm điểm, xác định trách nhiệm và có hình thức xử lý theo quy định của pháp luật; kịp thời thực hiện các biện pháp để khắc phục.
1.2. Công tác thanh tra, kiểm toán, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trong năm 2019, việc xây dựng định hướng, kế hoạch thanh tra đã được quan tâm thực hiện sớm, có trọng tâm, trọng điểm. Tập trung thúc đẩy tiến độ, hoàn thiện dự thảo, ban hành, công khai kết luận thanh tra, trong đó có những cuộc thanh tra phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm. Qua thanh tra đã phát hiện, xử lý nhiều vi phạm pháp luật. Thu hồi tài sản qua công tác đôn đốc, xử lý sau thanh tra đạt tỷ lệ cao; kiến nghị chấn chỉnh, khắc phục nhiều bất cập, sơ hở trong việc ban hành chính sách, pháp luật.
Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã kiến nghị xử lý tài chính 122.029 tỷ đồng (tăng thu 28.084 tỷ đồng, giảm chi 28.373 tỷ đồng, xử lý khác 64.572 tỷ đồng). Kết quả thực hiện kiến nghị xử lý tài chính qua kiểm toán cũng đã có chuyển biến tích cực.
Cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã giải quyết 28.428 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 86,2% (khiếu nại 21.202 vụ việc, đạt 85,5%; tố cáo 7.226 vụ việc, đạt 88,3%). Qua giải quyết đã kiến nghị thu hồi cho Nhà nước, trả lại cho tập thể, cá nhân 205,5 tỷ đồng và 24,1 ha đất; khôi phục, bảo đảm quyền lợi cho 1.889 tập thể, cá nhân; kiến nghị xử lý vi phạm 597 người.
1.3. Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng
Các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử đã nỗ lực, cố gắng, tập trung lực lượng, tăng cường phối hợp trong giải quyết các vụ án, vụ việc về tham nhũng. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm đã được tập trung đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử theo hướng công khai, dân chủ, minh bạch, đúng quy định của pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, thấu tình, đạt lý, nghiêm minh, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.
Cùng với việc phát hiện, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế, các cơ quan chức năng đã chú trọng xác minh, áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của các đối tượng phạm tội ngay từ giai đoạn điều tra, không để tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng; khuyến khích kẻ phạm tội tự nguyện giao nộp tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra để được hưởng khoan hồng.
4.2. Phương hướng, nhiệm vụ công tác phòng, chống tham nhũng năm 2020
Thứ nhất, tập trung chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 27-CT/TW ngày, 10/01/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; Quy định số 11-QĐi/TW, ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân; triển khai thi hành Luật PCTN năm 2018 theo Quyết định số 101/QĐ-TTg, ngày 21/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật PCTN bảo đảm kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu lực, hiệu quả.
Thứ hai, rà soát, xác định rõ những cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội còn thiếu chặt chẽ, sơ hở, chồng chéo, dễ bị lợi dụng, dễ làm nảy sinh tham nhũng để từ đó khẩn trương có giải pháp khắc phục bảo đảm hiệu lực, hiệu quả.
Thứ ba, đẩy mạnh cải cách hành chính; hoàn thiện các quy định xây dựng nền công vụ minh bạch, liêm chính, phục vụ; tăng cường chỉ đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa trong công tác PCTN ở địa phương, cơ sở; tập trung xử lý nghiêm khắc, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết công việc.
Thứ tư, tập trung khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ; tăng cường kiểm tra công tác quy hoạch, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ trong phạm vi cả nước; kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm.
Thứ năm, tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, tập trung vào các dự án đầu tư lớn của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước; quản lý sử dụng đất đai; đầu tư theo hình thức BT, BOT; cổ phần hóa, thoái vốn, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước;…
Thứ sáu, tăng cường theo dõi, đánh giá công tác PCTN trên phạm vi cả nước và từng bộ, ngành, địa phương theo các tiêu chí đã được Luật PCTN năm 2018 quy định; tích cực thực thi Công ước Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, mở rộng hợp tác quốc tế, tương trợ tư pháp, trao đổi thông tin.
5. Kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta năm 2019; nhiệm vụ, giải pháp năm 2020
5.1. Kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm 2019
1.1. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về trật tự xã hội: Các lực lượng chức năng đã tăng cường đấu tranh trấn áp, giải quyết những vấn đề phức tạp nổi lên về tội phạm, nhất là những vấn đề dư luận xã hội bức xúc. Do chủ động triển khai quyết liệt các biện pháp phòng, chống tội phạm, nên đã kéo giảm 7,39% số vụ phạm pháp hình sự so với năm 2018, nhiều loại tội phạm giảm.
1.2. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu: Lực lượng Công an và các cấp, các ngành đã đẩy nhanh tiến độ điều tra, mở rộng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo bảo đảm đúng tiến độ, thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng triệt để hơn.
1.3. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao: Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao diễn biến ngày càng phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn phạm tội mới, hoạt động có tính chất xuyên quốc gia và xảy ra trên nhiều lĩnh vực, gây thiệt hại lớn. Hành vi ngày càng đa dạng, gia tăng về quy mô và tính chất nguy hiểm, gây thiệt hại lớn về kinh tế, xâm phạm quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân; tình trạng tội phạm sử dụng mạng viễn thông, Internet, mạng xã hội để lừa đảo; đánh bạc, tổ chức đánh bạc với quy mô lớn xảy ra tại nhiều địa phương với số tiền lớn, gây hậu quả nghiêm trọng, xu hướng gia tăng (các lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 118 vụ, 126 đối tượng phạm tội, vi phạm pháp luật về công nghệ cao).  
1.4. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy: Các cơ quan chức năng đã tổ chức triển khai nhiều giải pháp đấu tranh với sự chuyển hướng hoạt động của tội phạm ma túy. Công tác tấn công trấn áp tội phạm ma túy đạt nhiều kết quả, nhất là đã triệt phá được nhiều đường dây sản xuất, mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia do đối tượng người nước ngoài cầm đầu, thu giữ số lượng ma túy đặc biệt lớn.
1.5. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường: Tập trung thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ đạo của Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường, an toàn thực phẩm. Mở nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông, cửa biển, vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm và buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm. Tuy nhiên, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm vẫn diễn ra phổ biến trên các lĩnh vực như: gây ô nhiễm môi trường, khai thác khoáng sản trái pháp luật, hủy hoại rừng, khai thác lâm sản trái phép, mua bán, vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm, về an toàn thực phẩm.
5.2. Nhiệm vụ, giải pháp năm 2020
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong công tác phòng chống tội phạm. Xác định rõ trách nhiệm cụ thể của từng cấp, từng ngành, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; lồng ghép công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trong từng chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, triển khai các giải pháp thực chất để phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả hoạt động của các loại tội phạm; kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ. Chú trọng nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến, có hình thức động viên, khuyến khích để nâng cao chất lượng các hình thức tự quản, tự phòng, tự bảo vệ, tự hòa giải ngay tại cơ sở.
Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm và công tác điều tra, đẩy nhanh tiến độ điều tra các loại án, nhất là các vụ án tham nhũng kinh tế trọng điểm do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo.
Thứ tư, tiếp tục tấn công trấn áp mạnh các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức liên quan đến “tín dụng đen”; tội phạm mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia, không để Việt Nam là địa bàn trung chuyển ma túy đi nước thứ ba; tăng cường đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao... 
Thứ năm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, góp phần từng bước xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh.
Thứ sáu, tiếp tục mở rộng đối ngoại và hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm, tập trung hợp tác với các nước láng giềng đấu tranh có hiệu quả với tội phạm xuyên quốc gia liên quan đến Việt Nam, nhất là tội phạm ma túy, tội phạm sử dụng công nghệ cao
C. VĂN BẢN MỚI
I. VĂN BẢN CỦA TỈNH
1. Ngày 09/01/2020, UBND tỉnh ban hành Công văn số 98/UBND-TH cho chủ trương về tuyển dụng đặc cách giáo viên hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2015 trở về trước.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh giao Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch UBND các huyện: Đăk Hà, Kon Plông và thành phố Kon Tum tổ chức xét tuyển vào viên chức không qua thi tuyển (xét tuyển đặc cách) đối với 184 trường hợp giáo viên đang làm hợp đồng lao động có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc liên tục theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội làm công việc giảng dạy tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, đơn vị trước ngày 31/12/2015; hoàn thành chậm nhất trong quý I năm 2020.
Quy trình xét tuyển vào viên chức không qua thi tuyển được thực hiện theo mục 2 khoản 7 Điều 2 Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm về việc đảm bảo các quy định về tiêu chuẩn chức danh (văn bằng, chứng chỉ), khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục công lập trong quá trình xét tuyển đặc cách 184 trường hợp trên theo đúng quy định.
Đối với 20 trường hợp giáo viên hợp đồng lao động trước năm 2015 nhưng thời gian hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội đứt quãng, các cơ quan, đơn vị tiếp tục dành chỉ tiêu riêng tương ứng để chờ ý kiến hướng dẫn của Bộ Nội vụ.
Về xét tuyển thông thường đối với các đối tượng theo chỉ tiêu còn lại (sau khi đã dành riêng chỉ tiêu để xét tuyển đặc cách giáo viên và chỉ tiêu riêng để xử lý đối với các trường hợp chờ ý kiến hướng dẫn của Bộ Nội vụ), Chủ tịch UBND tỉnh giao Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố tiếp tục xây dựng kế hoạch tuyển dụng, trình UBND tỉnh xem xét cho chủ trương hoặc tiếp tục triển khai thực hiện việc xét tuyển thông thường theo chủ trương về hình thức, chỉ tiêu đã được UBND tỉnh phê duyệt.
Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nội vụ thường xuyên theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện việc tuyển dụng giáo viên theo đúng quy định và phân cấp công tác quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 của UBND tỉnh.
2. Ngày 10/01/2020, UBND tỉnh ban hành Công văn số 102/UBND-KGVX về việc tiếp tục thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn thông tin trên địa bàn tỉnh. Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu:
1. Các sở, ban, ngành; UBND các huyện, thành phố: (a) Tiếp tục thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 2479/UBND-KGVX ngày 23/9/2019 về việc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng trên địa bàn tỉnh. (b) Thường xuyên rà soát, đánh giá việc thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho các hệ thống thông tin thuộc trách nhiệm quản lý. (c) Nghiêm túc thực hiện chế độ báo cáo, thông tin liên quan đến các sự cố về an toàn thông tin xảy ra tại đơn vị. (d) Đối với các đơn vị khi xây dựng, triển khai các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin phải có cấu phần phù hợp cho giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, giải pháp phòng, chống mã độc. Ưu tiên sử dụng sản phẩm, giải pháp, dịch vụ của doanh nghiệp trong nước đáp ứng yêu cầu về an toàn, an ninh mạng theo quy định của pháp luật đối với các hệ thống thông tin cấp độ 3 trở lên, các hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử. Đồng thời, phối hợp với các cơ quan chuyên môn rà soát, kiểm tra, đánh giá về an toàn thông tin đối với các thiết bị có kết nối Internet (như camera giám sát, router, modem DSL...) trước khi đưa vào sử dụng; thiết lập cấu hình an toàn thông tin phù hợp với quy định, tuyệt đối không sử dụng cấu hình mặc định của các thiết bị. Bảo đảm tỷ lệ kinh phí chi cho các sản phẩm, dịch vụ, an toàn thông tin mạng theo quy định.
2. Sở Thông tin và Truyền thông: (a) Khẩn trương tham mưu UBND tỉnh phương án lựa chọn giải pháp phòng chống mã độc và hệ thống giám sát an toàn thông tin tập trung. (b) Là đầu mối thông tin thực hiện giám sát, ứng cứu sự cố an toàn thông tin mạng của tỉnh; có trách nhiệm liên kết, phối hợp với các đơn vị trong mạng lưới ứng cứu sự cố mạng, máy tính quốc gia như Trung tâm ứng cứu sự cố mạng máy tính Việt Nam; Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) nhằm thực hiện tốt công tác đảm an toàn, an ninh thông tin mạng, máy tính của tỉnh. (c) Tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn thông tin cho hệ thống thông tin thuộc trách nhiệm quản lý. (d) Chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh triển khai các biện pháp kỹ thuật đảm bảo an toàn cho các hệ thống thông tin do đơn vị quản lý; tham gia hỗ trợ các cơ quan, tổ chức nhà nước giám sát, bảo vệ, kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin mạng.
3. Sở Tài chính: Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí kinh phí cho việc đảm bảo an toàn thông tin cho các hệ thống thông tin trên địa bàn tỉnh.
4. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông trên địa bàn tỉnh: Thiết lập đầu mối chuyên trách an toàn thông tin mạng trực thuộc để bảo vệ hệ thống, khách hàng của mình; tham gia hỗ trợ các cơ quan, đơn vị nhà nước của tỉnh giám sát, bảo vệ, kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin mạng dưới sự điều phối của Sở Thông tin và Truyền thông.Triển khai các biện pháp kỹ thuật trên môi trường mạng theo hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông.
3. Ngày 14/01/2020, UBND tỉnh ban hành văn bản số 132/UBND-KGVX về việc chỉ đạo tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong dịp Tết Canh Tý 2020.
Theo đó, nhằm bảo đảm an toàn, an ninh mạng trên địa bàn tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020, UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện một số nội dung: (1) Chủ động rà soát các điểm yếu, lổ hổng trên hệ thống; tăng cường triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng cho các hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức mình; thực hiện nghiêm túc các nội dung chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 2479/UBND-KGVX ngày 23/9/2019 về việc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 07-6-2019...(2) Thủ trưởng cơ quan, doanh nghiệp chỉ đạo đơn vị trực thuộc tiến hành rà soát, kiểm tra, thực hiện đầy đủ, kịp thời các quy định về bảo đảm an toàn, an ninh mạng, đặc biệt là trong công tác phòng, chống, gỡ bỏ phần mềm độc hại, phần mềm gián điệp, tấn công có chủ đích (APT). (3) Tăng cường theo dõi, giám sát, chủ động phát hiện sớm các nguy cơ, dấu hiệu tấn công mạng, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh. Cử cán bộ kỹ thuật trực theo dõi, giám sát liên tục các hệ thống thông tin trong các dịp nghỉ lễ. (4) Khi phát hiện dấu hiệu của các chiến dịch tấn công mạng, thông báo về Sở Thông tin và Truyền thông để có biện pháp xử lý kịp thời, giảm thiểu thiệt hại. (5) Thường xuyên cập nhật thông tin cảnh báo, khuyến nghị về an toàn, an ninh mạng được Sở Thông tin và Truyền thông, Cục An toàn thông tin thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông chia sẻ. (6) Sở Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp kết quả, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền.
4. Ngày 15/01/2020, UBND tỉnh ban hành văn bản 148/UBND-KGVX yêu cầu Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, đơn vị thuộc tỉnh; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh mùa đông - xuân.
Theo đó, Sở Y tế (a) đẩy mạnh các hoạt động giám sát dịch bệnh, phát hiện sớm các tác nhân gây bệnh, xử lý triệt để các ổ dịch, chú trọng các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ bùng phát trong mùa đông - xuân như cúm, bạch hầu, tay chân miệng, quai bị, thủy đậu và bệnh sốt xuất huyết. (b) Tổ chức tốt công tác khám chữa bệnh, chỉ đạo các bệnh viện, cơ sở y tế ứng trực 24/24 giờ; thực hiện tốt việc phân tuyến điều trị, phân luồng khám bệnh, thu dung, cấp cứu, điều trị bệnh nhân; phòng chống lây nhiễm chéo, nhiễm khuẩn tại các cơ sở điều trị, khống chế đến mức thấp nhất tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm. (c) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn thực phẩm. (d) Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch bệnh mùa đông - xuân tại các trường học. Phối hợp đẩy mạnh công tác truyền thông phòng chống dịch bệnh mùa đông – xuân; Tùy tình hình dịch bệnh, đảm bảo kinh phí, thuốc, phương tiện, vật tư, hóa chất cho công tác cấp cứu, điều trị bệnh nhân và đáp ứng các tình huống dịch bệnh.
Các sở, ngành, đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ, tích cực phối hợp và tham gia cùng ngành Y tế trong công tác phòng chống dịch bệnh; vận động cán bộ, công chức, viên chức tích cực tham gia và duy trì, triển khai thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh môi trường, diệt lăng quăng/bọ gậy và các hoạt động phòng chống dịch bệnh khác tại gia đình và cộng đồng.
Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố (a) kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng chống dịch bệnh; chủ động xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. (b) Huy động các cơ quan, đơn vị, ban, ngành, đoàn thể, các Hội phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng chống, ngăn chặn hiệu quả sự lan rộng và bùng phát các loại dịch bệnh tại địa phương nói chung và các hoạt động phòng chống dịch bệnh mùa đông - xuân, trong đó tập trung triển khai nghiêm túc Chiến dịch vệ sinh môi trường diệt lăng quăng, bọ gậy phòng chống dịch bệnh ngay từ đầu năm. (c) Chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, giám sát các xã, phường, thị trấn thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, đồng thời tăng cường phối hợp với các đơn vị y tế tuyến tỉnh để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, truyền thông phòng chống dịch tại các công trường xây dựng, nhà trọ…(d) Chỉ đạo giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, phát hiện sớm, xử lý triệt để ổ dịch ngay khi phát hiện, tổ chức cấp cứu điều trị người bệnh kịp thời.
5. Ngày 20/01/2020, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 04/2020/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung nội dung chỉ tiêu 6.2 của Tiêu chí số 6 (Cơ sở vật chất văn hóa) và Tiêu chí số 10 (Thu nhập) tại Quy định mức đạt chuẩn bộ tiêu chí về xã nông thôn mới đối với từng khu vực trên địa bàn tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 22/2017/QĐ-UBND ngày 15/5/2017 của UBND tỉnh.
Theo đó, đối với chỉ tiêu số 6.2 (thuộc Tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa) về xã có điểm vui chơi, giải trí và thể thao cho trẻ em và người cao tuổi: Các xã chưa có điểm vui chơi, giải trí và thể thao cho trẻ em và người cao tuổi theo quy định, thì có thể sử dụng cơ sở vật chất của Trung tâm Văn hóa - thể thao xã, Nhà văn hóa thôn, Khu thể thao thôn để bố trí điểm vui chơi, giải trí và thể thao cho trẻ em và người cao tuổi và được xem như đạt chuẩn tiêu chí.
Đối với tiêu chí số 10 về thu nhập: Quy định mức Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn (triệu đồng/người/năm): Đối với xã loại I: Năm 2019: ≥ 38 triệu đồng/người/năm và năm 2020 là ≥ 41 triệu đồng/người/năm; Đối với xã loại II: Năm 2019: ≥ 35 triệu đồng/người/năm và năm 2020 là ≥ 38 triệu đồng/người/năm; Đối với xã loại III: Năm 2019: ≥ 31 triệu đồng/người/năm và năm 2020 là ≥ 35 triệu đồng/người/năm.
Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30 tháng 01 năm 2020.
Toàn tỉnh hiện có 20 xã đạt chuẩn 19/19 tiêu chí nông thôn mới, gồm: Xã Đoàn Kết, Hòa Bình, Ia Chim, Đăk Năng - thành phố Kon Tum; xã Hà Mòn, Đăk Mar, Đăk La, Đăk Ngok - huyện Đăk Hà; xã Diên Bình, Tân Cảnh, Kon Đào - huyện Đăk Tô; xã Sa Sơn, Sa Nhơn, Sa Nghĩa - huyện Sa Thầy; xã Đăk Nông, Đăk Kan, Pờ Y - huyện Ngọc Hồi; xã Đăk Ruồng, Tân Lập - huyện Kon Rẫy và xã Đăk Pek - huyện Đăk Glei.
6. Ngày 20/01/2020, UBND tỉnh ban hành Văn bản số 186/UBND-KGVX chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cúm Corona.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục triển khai nghiêm túc chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại Văn bản số 148/UBND-KGVX ngày 15 tháng 01 năm 2020 về tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh mùa đông - xuân. Đồng thời, phối hợp với ngành Y tế triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cúm Corona mới.
Sở Y tế chủ trì, phối hợp với các đơn vị, địa phương có liên quan triển khai quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh nói chung và bệnh cúm Corona mới nói riêng; giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh; tăng cường công tác kiểm dịch y tế tại cửa khẩu không để dịch bệnh nguy hiểm xâm nhập vào nước ta; cập nhật và thực hiện Quyết định số 125/QĐ-BYT ngày 16 tháng 01 năm 2020 về việc ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Viêm phổi cấp do chủng vi rút Corona mới.
Theo thống kê của Cục Y tế Dự phòng, tính đến ngày 13/1/2020, tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) đã ghi nhận 59 trường hợp mắc, 07 trường hợp nặng, 01 trường hợp tử vong, 02 trường hợp đã hồi  phục hoàn toàn, các bệnh nhân khác trong tình trạng ổn định và chưa ghi nhận trường hợp nhân viên y tế bị nhiễm bệnh. Ngày 9/1/2020, Trung Quốc đã xác định được chủng vi rút mới thuộc họ Coronavirus, đã có 41 trường hợp xét nghiệm dương tính với nCoV (bao gồm cả trường hợp đã tử vong).
Việt Nam hiện chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh viêm phổi cấp do chủng virus corona mới. Tuy vậy, nguy cơ dịch bệnh lây truyền vào Việt Nam là hoàn toàn có thể do nước ta có giao lưu thương mại, du lịch rất lớn với Trung Quốc. Cần chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh xâm nhập và sẵn sàng điều trị, quản lý tốt các trường hợp bệnh ngay khi phát hiện.
II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
Nghị định số 90/2019/NĐ, ngày 15/11/2019 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng. Nghị định gồm 06 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020. Một số quy định chủ yếu của Nghị định:
Mức lương tối thiểu vùng: (1) Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau: a) Mức 4.420.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I; b) Mức 3.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II; c) Mức 3.430.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III; d) Mức 3.070.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV; (2) Địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định theo đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu thuộc vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Áp dụng mức lương tối thiểu vùng:
(1) Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 3 Nghị định này là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm: a) Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất; b) Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề theo quy định tại khoản 2 Điều này;
(2) Người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề bao gồm: a) Người đã được cấp chứng chỉ nghề, bằng nghề, bằng trung học chuyên nghiệp, bằng trung học nghề, bằng cao đẳng, chứng chỉ đại học đại cương, bằng đại học, bằng cử nhân, bằng cao học hoặc bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ theo quy định tại Nghị định số 90-CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống văn bằng, chứng chỉ về giáo dục và đào tạo; b) Người đã được cấp bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp đào tạo nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ; văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp; văn bằng giáo dục đại học và văn bằng, chứng chỉ giáo dục thường xuyên theo quy định tại Luật Giáo dục năm 1998 và Luật Giáo dục năm 2005; c) Người đã được cấp chứng chỉ theo chương trình dạy nghề thường xuyên, chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc đã hoàn thành chương trình học nghề theo hợp đồng học nghề quy định tại Luật Dạy nghề; d) Người đã được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia theo quy định của Luật Việc làm; đ) Người đã được cấp văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; đào tạo thường xuyên và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác theo quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp; e) Người đã được cấp bằng tốt nghiệp trình độ đào tạo của giáo dục đại học theo quy định tại Luật Giáo dục đại học; g) Người đã được cấp văn bằng, chứng chỉ của cơ sở đào tạo nước ngoài; h) Người đã được doanh nghiệp đào tạo nghề hoặc tự học nghề và được doanh nghiệp kiểm tra, bố trí làm công việc đòi hỏi phải qua đào tạo nghề…
 
_________
 
Nguyễn Phi Em thực hiện

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn Bản Mới

CT.01.TU

về học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020-2025

Lượt xem:20 | lượt tải:15

KH.02.BTGTU

tổ chức nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị; thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW và tăng cường tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng và lịch sử đảng bộ địa phương năm 2021

Lượt xem:60 | lượt tải:60

CV.25.BTGTU

tăng cường tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết

Lượt xem:154 | lượt tải:43

TÀI LIỆU

giao ban báo chí quý III năm 2020

Lượt xem:117 | lượt tải:61

HD.01.BTGTU

công bố, thảo luận, lấy ý kiến của Nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Lượt xem:246 | lượt tải:73

CV.3196.BTGTU

Hướng dẫn và Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tố Hữu

Lượt xem:344 | lượt tải:106

THÔNG BÁO

giới thiệu chức danh và chữ ký của đồng chí Nghe Minh Hồng, Phó trưởng Ban TGTU

Lượt xem:302 | lượt tải:67
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập21
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm19
  • Hôm nay7,121
  • Tháng hiện tại240,142
  • Tổng lượt truy cập8,218,565
cuoc thi 90 nam covid
     Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
   
 - Giấy phép số 03/GP- TTĐT, ngày 21 tháng 9 năm 2015
     - Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum, số 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum, tỉnh Kon Tum
     - Người chịu trách nhiệm chính: Ông Huỳnh Quốc Huy, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
     - Điện thoại: 0260.3862301. Fax: 0260. 3865464. Email: bantuyengiaotinhuykt@gmail.com; phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây