Giải pháp góp phần đẩy mạnh xã hội hóa công tác khám chữa bệnh ở tỉnh ta 

Giải pháp góp phần đẩy mạnh xã hội hóa công tác khám chữa bệnh ở tỉnh ta

Thứ sáu - 09/02/2018 02:56
Thực hiện xã hội hóa công tác y tế là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.
Hình có tính chất minh họa. Nguồn ảnh: syt.kontum.gov.vn
Hình có tính chất minh họa. Nguồn ảnh: syt.kontum.gov.vn
Sự phát triển nhanh và đạt những tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y học, xu thế hội nhập quốc tế, cùng với cơ cấu, mô hình bệnh tật thay đổi,…dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tăng cao. Trong điều kiện hiện nay, với các giới hạn nhất định về nguồn lực, khu vực y tế Nhà nước đang trở nên ngày càng không theo kịp, không tương xứng việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Đó chính là những yếu tố quan trọng đòi hỏi ngành y tế cần phải phát huy các nguồn lực trong xã hội, huy động xã hội chăm lo công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân theo hướng xã hội hóa.
Xã hội hóa công tác y tế là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ y tế và sự phát triển thể chất, tinh thần của người dân. Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động y tế phát triển nhanh hơn, chất lượng cao hơn. Thực hiện xã hội hóa công tác y tế là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.
Xã hội hóa y tế xuất phát từ chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặc biệt từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính với đơn vị sự nghiệp công lập.
Nghị quyết 20/NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh xã hội hoá, huy động các nguồn lực phát triển hệ thống y tế. Đa dạng hoá các hình thức hợp tác công - tư, bảo đảm minh bạch, công khai, cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt công - tư trong cung cấp dịch vụ y tế. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở y tế (kể cả trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu), tập trung vào cung cấp dịch vụ cao cấp, theo yêu cầu. Các cơ sở y tế, cơ sở chăm sóc người cao tuổi hoạt động không vì lợi nhuận được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật”.
Nhà nước không thể gánh mọi chi phí đầu tư, trong khi đòi hỏi của xã hội, nhu cầu của người dân ngày càng cao, do đó phương thức xã hội hóa là xu thế tất yếu. Các văn bản quy phạm pháp luật đã thể chế hóa hoạt động xã hội hóa y tế và hướng dẫn cụ thể các nội dung xã hội hóa với mục đích huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, tạo điều kiện để mọi người dân, nhất là đối tượng chính sách, người nghèo, người có thẻ bảo hiểm y tế được thụ hưởng các dịch vụ kỹ thuật cao ngay tại cơ sở, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân,…dần dần tiến tới đảm bảo sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, góp phần làm thay đổi diện mạo ngành y tế, giúp người bệnh được thụ hưởng các dịch vụ kỹ thuật cao,…
Các cơ sở khám chữa bệnh (gọi chung là bệnh viện) được phép xã hội hóa hoạt động y tế, chủ trương xã hội hóa sẽ giúp các bệnh viện có được nhiều trang thiết bị hiện đại, phát triển kỹ thuật mới, cán bộ y tế được nâng cao trình độ chuyên môn. Với việc xã hội hóa các trang thiết bị hiện đại làm thay đổi cơ sở vật chất của các bệnh viện, góp phần phát triển kỹ thuật, nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị, phát hiện sớm, chính xác bệnh tật, giảm tỷ lệ tử vong, đã từng bước góp phần đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng đa dạng của các tầng lớp nhân dân, nhất là những người có khả năng chi trả, góp phần hạn chế người dân phải chuyển tuyến trên điều trị. Người dân, trong đó có cả người nghèo, cận nghèo, trẻ em, đối tượng chính sách xã hội cũng được hưởng lợi, kể cả các kỹ thuật cao do bảo hiểm y tế thanh toán, đồng thời bệnh viện có thêm nguồn thu để bù đắp các chi phí, tái đầu tư mua sắm, sửa chữa trang thiết bị, xây mới cơ sở vật chất và tăng thêm nguồn thu nhập cho nhân viên,…Từ đó sẽ thu hút nguồn nhân lực có chất lượng, tạo động lực làm việc cho các cán bộ y tế hăng say nghiên cứu khoa học, áp dụng sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong việc khám, chẩn đoán, điều trị người bệnh.
Bên cạnh những mặt tích cực và thành quả đã mang đến cho công tác khám chữa bệnh từ xã hội hóa y tế, vẫn còn tồn tại và những vấn đề cần nhìn nhận đúng bản chất và xử lý hiệu quả và thống nhất, đó là việc thiếu minh bạch trong tài sản công - tư, tự chủ tài chính tại các bệnh viện công; Những vấn đề về trang thiết bị y tế được sử dụng đúng mục đích như thế nào?; Người bệnh phải được thụ hưởng như thế nào? Có sự lạm dụng, phân biệt giữa trang thiết bị trong bệnh viện? Vai trò và sự yên tâm của nhà đầu tư về  đồng vốn đã bỏ ra?... đã và đang làm ảnh hưởng đến ý nghĩa cũng như tính hiệu quả của chủ trương xã hội hóa y tế.
Các hình thức thực hiện liên doanh, liên kết được quy định tại Thông tư 15/2007/TT-BYT ngày 12/12/2007 của  Bộ Y tế gồm: Thứ nhất, Đối tác và cơ sở y tế sử dụng tài sản là trang thiết bị, nhà cửa, cơ sở hạ tầng để liên doanh, liên kết tổ chức các hoạt động dịch vụ, hạch toán riêng các chi phí và phân chia thu nhập theo tỷ lệ góp vốn, mức độ tham gia của các bên. Thứ hai, cơ sở y tế công lập và đối tác liên doanh cùng góp vốn bằng tiền hoặc huy động vốn của cán bộ, viên chức, vay vốn ngân hàng phát triển, quỹ kích cầu để mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ. Thứ ba và phổ biến nhất là đối tác đầu tư lắp đặt trang thiết bị, cơ sở y tế công lập tổ chức hoạt động cung cấp dịch vụ, trả phía đối tác theo số lượng dịch vụ đã thực hiện (thuê thiết bị và trả chi phí thuê theo dịch vụ).
Ngân sách cho các bệnh viện công là vấn đề nan giải, hiện nay nhiều nước trên thế giới đều đang phải đối mặt với áp lực tài chính công ngày càng tăng đối với các dịch vụ công cộng, đặc biệt là y tế khi chi tiêu cho lĩnh vực này trên toàn cầu ngày càng tăng (ước tính 9% GDP toàn cầu). Ngân sách công thường không đủ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân, thậm chí tại các nước thu nhập thấp, người dân thường phải trả tới 60% chi phí cho chăm sóc sức khỏe; Và hình thức đối tác công – tư (Public - Private Partner: PPP) có thể huy động nguồn tài chính tư nhân, tăng khả năng tiếp cận và hiệu quả trong việc cung cấp các dịch vụ y tế cho người dân. Đây được xem là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm huy động các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư vào lĩnh vực y tế, qua đó nâng cao hiệu quả, năng lực chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Thu hút được nguồn vốn đầu tư mới vào các dự án y tế theo hình thức PPP, vừa phát huy được hết công suất của các cơ sở y tế được đầu tư hiện đại, trong đó có các bệnh viện tư nhân, để có điều kiện phục vụ nhân dân tốt hơn. Các dự án án PPP trong y tế và các cách tiếp cận cần phải được chuẩn hóa để đảm bảo kết quả đầu ra tối ưu; đối với nước ta là không nên xem mô hình PPP như công cụ để cung cấp dịch vụ y tế cho những người có thể chi trả, mà nên xem và được thực hiện để nhằm thanh toán cho những bệnh nhân nghèo, những người không có bảo hiểm y tế, giúp họ có thể sử dụng các dịch vụ chất lượng thông qua hợp tác công - tư.
Đầu tư theo mô hình đối tác công - tư là một hình thức xã hội hóa y tế được Chính phủ khuyến khích thực hiện. Đánh giá trong lĩnh vực y tế, PPP là hình thức xã hội hóa cao, huy động vốn ngoài ngân sách và được quản trị bởi các nhà đầu tư - vừa đảm bảo tính dân chủ, vừa mang lại hiệu quả cao. Đội ngũ y bác sĩ của bệnh viện vẫn phụ trách về chuyên môn và được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp hơn với trang thiết bị hiện đại, qua đó nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh.
Tỉnh Kon Tum, tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp, đặc biệt người dân vùng sâu, vùng xã, vùng biên giới,… còn rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ công tốt nhất trong đó có các dịch vụ y tế; bên cạnh đó, trong bối cảnh hạn chế về nguồn lực cho đầu tư công, việc đầu tư cho y tế về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kể cả nguồn nhân lực còn gặp nhiều khó khăn và thách thức.
Việc xã hội hóa các dịch vụ y tế ở Kon Tum mới chỉ thực hiện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Hồi và Trung tâm y tế Dự phòng với mức độ và hiệu quả ở mức khiêm tốn và thấp. Trước nhu cầu của người dân về công tác khám chữa bệnh ngày càng cao, đòi hỏi tính tiến tiến, hiện đại và chính xác, với sự cố gắng và chủ động, việc xã hội hóa các dịch vụ y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum đã đạt được một số kết quả bước đầu, bệnh viện đã thực hiện xã hội hóa một số thiết bị đắt tiền, đảm bảo có các trang thiết bị y tế hiện đại, chất lượng để phục vụ người bệnh trong khi nguồn lực của bệnh viện, ngân sách Nhà nước chưa đáp ứng được; thông qua xã hội hóa, bệnh viện không phải chịu chi phí duy tu, bảo dưỡng máy móc trang thiết bị, đào tạo để vận hành thao tác thiết bị máy móc. Bên cạnh đó, đội ngũ thầy thuốc nỗ lực học tập nâng cao năng lực chuyên môn, sử dụng hiệu quả các kết quả cận lâm sàng hiện đại trong chẩn đoán và điều trị,…nhằm giúp bệnh viện kịp thời nâng cấp khả năng chuyên môn, chẩn đoán và điều trị,… tạo sự tin tưởng cao cho người bệnh, tạo tiền đề xây dựng thương hiệu bệnh viện “Chất lượng và hiệu quả”. Với các hệ thống máy móc và các trang thiết bị y tế hiện đại như Máy Cộng hưởng từ (MRI) 1.5Tesla, Hệ thống X-Quang số hóa (DR), Máy xét nghiệm huyết học tự động 23 thông số, Máy phân tích đông máu tự động; Máy đo đường huyết nhanh Medisafe fit, Máy sinh hóa tự động AU480, Hệ thống Máy thận nhân tạo chu kỳ,… đã cho thấy tính hiệu quả mà việc xã hội hóa các trang thiết bị theo Thông tư 15/2007/TT-BYT ngày 12/12/2007 của Bộ Y tế mang lại cho việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, giúp cho người dân được thụ hưởng các dịch vụ y tế tốt hơn ngay tại tỉnh nhà.
Với những khó khăn trong đầu tư công cho nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công khám, chữa bệnh, cũng như việc đảm bảo đủ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngành y tế tỉnh đã và đang đề xuất và triển khai một số chương trình, đề án nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa công tác y tế nhất là đối với dịch vụ của các bệnh viện. Với sự tác động nguồn thu (đảm bảo các hoạt động của bệnh viện, kể cả lương) của các bệnh viện chuyển dần đến thu được qua việc thực hiện các dịch vụ mà bệnh viện cung cấp, ngân sách nhà nước giảm dần tương ứng, đòi hỏi mỗi bệnh viện phải chủ động nâng cao chất lượng bệnh viện, xây dựng được thương hiệu thông qua việc xây dựng một kế hoạch cụ thể, khả thi, phù hợp với tình hình sử dụng các dịch vụ y tế của người dân và nhu cầu cũng như xu hướng phát triển các kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong y học; ngoài các hình thức trên, các bệnh viện có thể chủ động vay ngân hàng, khi đó thay vì chia lợi nhuận với doanh nghiệp thì bệnh viện trả lãi suất cho ngân hàng, để kịp thời bảo đảm nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân,… do vậy việc xã hội hóa các hoạt động bệnh viện, các hoạt động dịch vụ trong khám, chữa bệnh là một đòi hỏi tất yếu mà các bệnh viện phái thực hiện.
Sở Y tế cũng xác định cần phải xúc tiến triển khai thực hiện mô hình đầu tư “hợp tác công - tư” y tế trong điều kiện cho phép và sau khi được sự đồng ý của các cấp có thẩm quyền. Hiện nay Sở Y tế đang cùng nhà đầu tư nghiên cứu triển khai thí điểm hình thức đầu tư xã hội hóa này tại: Trung tâm Y tế huyện Đăk Glei; Trung tâm Y tế huyện Đăk Hà; Phòng khám đa khoa khu vực Đăk Rờ Ve huyện Kon Rẫy và Trạm Y tế xã Đăk Trăm của huyện Đăk Tô.
Ðể thu hút hơn nữa sự đầu tư của xã hội vào lĩnh vực y tế, ngoài việc xây dựng kế hoạch tổng thể, rất cần sự đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; cần có sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự hỗ trợ, giúp sức của các ban ngành liên quan để cho việc xã hội hóa y tế được thuận lợi, mang lại lợi ích cao nhất cho người dân về chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe.
TTƯT, BSCKII Trần Ái

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Văn Bản Mới

Công văn số 1458-CV/BTGTU

V/v cử học viên dự HN tập huấn lý luận, phê bình VHNT 2018

Lượt xem:143 | lượt tải:0

Công văn số 1453

V/v không nhận hoa chúc mừng kỷ niệm 88 năm Ngày truyền thống Ngành Tuyên giáo của Đảng

Lượt xem:168 | lượt tải:0

Công văn số 1452-CV/BTGTU

Đề cương t/tr kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Lượt xem:152 | lượt tải:0

GIẤY MỜI

Mời dự HN sơ kết công tác thông tin đối ngoại 6 tháng đầu năm 2018.

Lượt xem:137 | lượt tải:0

Công văn 1444

V/v hoãn Hội nghị sơ kết TTĐN 6 tháng đầu 2018

Lượt xem:154 | lượt tải:0

Công văn 1291

Tuyên truyền Đại hội Mặt trận các cấp

Lượt xem:195 | lượt tải:0

TÀI LIỆU

Tài liệu tuyên truyền về Luật An ninh mạng

Lượt xem:208 | lượt tải:0
truongsa
1114711 DAN HOI THU TRUONG CO QUAN CHUC NANG TRA LOI
baocaovien
tailieu
sachtuyengiao

Hình ảnh hoạt động
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Đăng nhập
Hãy đăng nhập tài khoản để sử dụng tài liệu Báo cáo viên
Thống kê
  • Đang truy cập98
  • Hôm nay2,129
  • Tháng hiện tại61,638
  • Tổng lượt truy cập1,522,333
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
      Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
      Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
      Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum. Điện thoại: 0260.3862301. Email: phiemkt@gmail.com
      Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây