Những sự kiện lịch sử tháng 6 ở Kon Tum 

Những sự kiện lịch sử tháng 6 ở Kon Tum

Thứ sáu - 01/07/2016 23:07

Ngày 08-6-1900: Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thiết lập Hội đồng bảo hộ Trung kỳ (Để thực hiện chính sách cai trị vùng này, trước đây có Hội đồng Bảo hộ Trung-Bắc kỳ. Đến ngày 08-8-1898, Tổng thống Pháp đã ra Sắc lệnh thành lập hội đồng bảo hộ Bắc kỳ). Theo Nghị định này:

- Thành phần Hội đồng gồm: 11 người:

+  Khâm sứ Trung kỳ là Chủ tịch hội đồng.

+ Chánh văn phòng Phủ Khâm sứ làm thư ký Hội đồng.

+ Các ủy viên, gồm 9 người. Trong đó, người Việt 2, Pháp 7.

- Chức năng của Hội đồng: Thông qua những ý kiến đóng góp của Viện Dân biểu và của các Hội đồng hàng tỉnh về các vấn đề như: Chính sách thuế khóa, lập ngân sách, quy định các khu vực hành chính[1]….

Ngày 12-6-1907: Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bãi bỏ tỉnh Plâyku Đe

Theo Nghị định, toàn bộ đất đai của tỉnh này chia làm hai phần: một phần gọi là Đại lý Kon Tum (Kon Tum), cho sáp nhập trở lại tỉnh Bình Định; đồng thời lập ra một trung tâm hành chính tại Kon Tum đặt dưới sự cai trị của Công sứ Bình Định; một phần gọi là Đại lý Cheo Reo, cho sáp nhập vào tỉnh Phú Yên và đặt dưới sự cai trị của Công sứ Phú yên.

Giữa tháng 6-1931: Địch đưa tù nhân làm đường 14 về giam giữ  ở nhà lao Kon Tum (lao ngoài)

Sau 6 tháng bị đày ải làm đường Đăk Pao-Đăk Pét, do thời tiết bước vào mùa mưa, nên đến giữa tháng 6-1931, thực dân Pháp đưa số tù nhân còn lại trên công trường về tạm giam ở nhà lao Kon Tum (lao ngoài) để chờ hết mùa mưa tiếp tục đưa tù nhân trở lại công trường.

Với âm mưu giết dần, giết mòn tù chính trị bằng chính sách tàn ác, dã man, nên sau một thời gian đi làm đường, khi trở lại thị xã Kon Tum tù chính trị chỉ còn sống sót 92  trên tổng số 295 người.

Tháng 6-1931: Thực dân Pháp tiếp tục đưa các đoàn tù từ đồng bằng lên giam tại nhà lao Kon Tum

Tháng 6-1931, thực dân Pháp tiếp tục đưa các đoàn tù chính trị từ các tỉnh đồng bằng lên giam giữ ở Kon Tum nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu giết hại tù chính trị nơi xa xôi, hẻo lánh, tránh sự nhòm ngó của dư luận. Các đoàn tù được đưa lên từ các nhà lao gồm: Nghệ An, Hà Tĩnh 60 người; Huế 03 người; Quảng Ngãi, Quy Nhơn  40 người.

Tính đến cuối tháng 6-1931 nhà lao Kon Tum giam cầm khoảng 200 tù chính trị (số từ công trường làm đường 14 còn sống trở về và số từ các tỉnh đồng bằng được tiếp tục đưa lên). Trong đó lao trong giam khoảng 50 người có án nhẹ từ 5 năm tù trở xuống; lao ngoài giam khoảng 150 người có án nặng trên 5 năm tù.

Tháng 6-1931: Binh lính ở Kon Tum đấu tranh chống lệnh đi làm ngày chủ nhật (lần thứ hai)

Sau khi đưa tù nhân từ công trường làm đường Đăk Pét trở về giam cầm ở thị xã Kon Tum, thực dân Pháp tiếp tục chính sách đàn áp khổ sai đối với tù nhân: chúng bắt ép tù nhân sửa chữa đường sá, xây dựng cầu cống, gánh đất, khiêng đá quần quật suốt ngày, kể cả chủ nhật. Theo đó, binh lính cũng phải trông coi tù nhân vào ngày chủ nhật.

Do đó, một lần nữa vào tháng 6-1931, binh lính địch đã tiếp tục tổ chức đấu tranh chống lại chính sách của nhà cầm quyền bằng cách phản đối chống lệnh không đưa tù đi làm ngày chủ nhật.

Đây là lần thứ hai binh lính địch ở Kon Tum chống lại lệnh đi làm ngày chủ nhật. Điều này cho thấy mâu thuẫn ngay trong hàng ngũ địch ngày càng lộ rõ.

Ngày 25-5-1932: Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách đại lý Pleiku khỏi tỉnh Kon Tum để thành lập tỉnh Pleiku.

Tháng 6- 1932: Tổ chức cuộc thi thơ "Tao đàn ngục thất" ở Kon Tum

Tháng 6-1932, thực dân Pháp đưa một số tù chính trị đi làm đường lần thứ 2 ở Đăk Pét trở về giam ở nhà lao Kon Tum (lao ngoài). Trong lao, các chiến sỹ cộng sản đã tổ chức ra "Tao đàn ngục thất" nhằm mục đích cổ vũ tinh thần, rèn luyện khí tiết cách mạng.

"Tao đàn ngục thất" được tổ chức hàng tuần, mỗi tuần một chủ đề riêng và được duy trì thường xuyên trong thời gian dài. Đề tài do các anh em tù đưa ra và tự tổ chức chấm, bình chọn. Phần thưởng là một vài bánh nếp, bánh tráng. Bài nào được bình chọn xuất sắc (tuyệt bút) thì được thêm quả chuối.

Trong lần tổ chức thi đầu tiên với chủ đề "Viếng mộ liệt sỹ" đã chọn ra được 3 bài khá nhất: giải nhất là bài thơ của Trịnh Quang Xuân (quê Quảng Nam); giải nhì là bài thơ của Hồ Tùng Mậu (Hồ Bá Cự, quê Nghệ An); giải ba là bài thơ của Võ Trọng Bành (quê Nghệ An).

Tháng 6-1932: Hoàn thành việc xây dựng cầu Đăk Bla

Đây là cây cầu lớn nhất Kon Tum lúc bấy giờ; trụ cầu được làm bằng bê tông, mặt cầu bằng gỗ; cầu có chiều dài 139m.

Tuy nhiên, sau khi khánh thành đưa vào sử dụng từ tháng 6-1932, thì đến tháng 9-1932 bị mưa lũ cuốn trôi mặt cầu, sau đó thực dân Pháp mới bắc cầu tạm đi được mùa nắng, đến mùa mưa nước lớn phải đi bằng đò.

Tháng 6-1932: Thực dân Pháp bãi bỏ công trường làm đường Đăk Pét

Sau khi kết thúc 2 cuộc đấu tranh Lưu huyết và tuyệt thực, thực dân Pháp vẫn tiếp tục đày số tù án nhẹ còn lại (khoảng 110 người) lên công trường làm đường Đăk Pét. Với nhượng bộ theo yêu cầu của tù chính trị trong hai cuộc đấu tranh, thực dân Pháp đã nhẹ tay hơn trong việc bóc lột tù nhân.. Đến tháng 6-1932 vào mùa mưa, bọn cai trị lại đưa số anh em này về thị xã Kon Tum, đồng thời cũng từ đây chúng bỏ hẳn công trường làm đường Đăk Pét.

Tháng 6-1933: Giám mục JANIN ( Phước) tổng kết công việc nhà chung tại tỉnh Kon Tum

Ngày 23 tháng 6 năm 1933, JANNIN (Phước), giám mục tông toà đầu tiên, tấn phong tại Nhà thờ Kon Tum. Ngay sau khi nhậm chức đã tiến hành tổng kết công việc Nhà chung. Rà soát lại số lượng các bổn đạo từ 1885 đến 1933 ở Kon Tum.

1. Về số lượng: Theo thống kê của Chủng viện năm 1933, cả Kon Tum và Pleiku có:

20.480 bổn đạo (An Nam 3.000 ở cả Kon Tum và Pleiku);

180 làng có đạo (có 11 làng An Nam: 8 làng ở Kon Tum, 3 làng ở Pleiku );

13 cha người Pháp; 12 cha người An Nam; 3 cha người Mọi (Ba Na);

100 chú (catéchiste) đi giảng đạo (cả  An Nam và Mọi).

2. Về phân bố: Cả địa phận (Diocése) chia làm 22 sở (Districts).

Tháng 6-1945: Nhân dân Kon Tum đấu tranh phản đối cuộc kinh lý của Bộ trưởng Nguyễn Hữu Thi

Trước khí thế của phong trào đấu tranh kháng Nhật ở Kon Tum, bọn Nhật tìm cách theo dõi, cản trở phong trào, phá hoại những hoạt động của thanh niên và những viên chức tiến bộ. Tháng 6-1945 chúng ra lệnh cho chính quyền tay sai Trần Trọng Kim cử Bộ trưởng tiếp tế Nguyễn Hữu Thi lên Kon Tum khảo sát tình hình, âm mưu giải tán tổ chức thanh niên tiên tiến và lôi kéo lực lượng thanh niên này sáp nhập vào tổ chức thanh niên Phan Anh do chúng lập ra để thực hiện theo ý đồ cai trị của Nhật.

Đối phó với âm mưu của địch, các thanh niên tiên tiến và viên chức tiến bộ ở Kon Tum đã tổ chức cuộc đấu tranh phản đối chuyến kinh lý của Nguyễn Hữu Thi. Bằng lý lẽ sắc bén họ đã phá tan được âm mưu của chính quyền bù nhìn, giữ vững tổ chức và tiếp tục hoạt động.

Ngày 26-6-1946: Thực dân Pháp đánh chiếm thị xã Kon Tum

Ngày 26/6/1946, thực dân Pháp tiến đánh thị xã Kon Tum. Lực lượng Vệ quốc đoàn tổ chức chặn đánh, ngăn cản địch phía cầu Đăk Bla, tiêu diệt hàng trăm tên. Trước và trong thời gian địch tấn công xâm lược, chính quyền đã tổ chức cho nhân dân sơ tán về huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) tránh địch đàn áp. Sau thời gian chống trả địch, đến khoảng 5 giờ chiều ngày 26/6/1946, do tương quan lực lượng không cân sức, lực lượng quân đội buộc phải rút lui về đồng bằng. Kon Tum bị rơi vào tay địch.

Ngày 28-6-1946: Thành lập Phân ban quốc dân thiểu số miền Nam Trung bộ

Sau khi thực dân Pháp chiếm lại toàn bộ Tây Nguyên, nhiệm vụ kháng chiến ở Tây Nguyên phải tiếp tục trong một hoàn cảnh mới khó khăn hơn. Trong khi đó ảnh hưởng của chính quyền mới dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban vận động quốc dân thiểu số Tây Nam Trung bộ đã bị thu hẹp lại. Lực lượng vũ trang các tỉnh Tây Nguyên phải rút về Trung Châu. Công việc kháng chiến mới của các tỉnh Tây Nguyên phải trở lại thời kỳ đầu chủ yếu là tuyên truyền, gây dựng lại cơ sở chính quyền. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng ta chủ trương lấy vùng Thượng du các tỉnh Trung châu  miền Nam Trung bộ làm chỗ dựa để tiến lên gây dựng cơ sở ở Tây Nguyên. Vì vậy để thống nhất sự chỉ đạo nhiệm vụ công tác vùng Thượng du miền Nam Trung bộ, ngày 28-6-1946, Ủy ban kháng chiến Hành chính miền Nam Trung bộ đã quyết định thành lập Phân ban quốc dân thiểu số miền Nam Trung bộ thay thế Ban vận động quốc dân dân thiểu số Tây Nam Trung bộ.

Nhiệm vụ của Phân ban quốc dân thiểu số miền Nam Trung bộ là tổ chức tuyên truyền gây lại cơ sở chính quyền, thành lập lực lượng vũ trang các tỉnh Thượng du; cải thiện đời sống dân sinh; đào tạo cán bộ Thượng du.

Ngày 04-6-1947: Thực dân Pháp đổi Tòa Ủy phủ Liên bang sơn cước thành Tòa phụ trách các dân tộc sơn cước miền Nam Đông Dương.

Ngày 26-6-1948: Hội nghị Kháng chiến hành chính Tây Nguyên lần thứ hai

Ngày 26-6-1948, Phân ban Kháng chiến Hành chính Tây Nguyên tổ chức Hội nghị lần thứ 2 nhằm kiểm điểm lại quá trình tổ chức hoạt động trong 6 tháng đầu năm 1948 và đề ra chủ trương, nhiệm vụ cho giai đoạn tiếp theo.

Hội nghị đánh giá: Trong 6 tháng đầu năm 1948 chính quyền ở các tỉnh Kon Tum và Gia Lai phát triển rất nhanh, số làng có chính quyền đã tăng lên gần gấp đôi năm 1947. Trong thời gian này do địch tập trung lực lượng khủng bố ở Đăk Lăk, nên chưa hoạt động mạnh ở Kon Tum và Gia Lai. Tuy nhiên, chính quyền của ta mới phát triển ở những vùng xa vị trí đô thị và các đường giao thông lớn; Ủy ban Hành chính các xã Thượng du phần đông gồm những người không biết chữ, chưa quen công việc, nên nơi nào bị địch khủng bố nếu không có cán bộ tăng cường vận động thì cơ sở quần chúng dễ bị tan rã.

Hội nghị chủ trương trong thời gian tới: tập trung phát triển chính quyền vào các vùng dọc các trục đường giao thông lớn, các đồn điền và đô thị để chuẩn bị chiến trường cho bộ đội đánh giao thông, kinh tế địch; củng cố những vùng mới phát triển chính quyền bằng cách đưa những người có năng lực vào Ủy ban các cấp, phân chia địa bàn cụ thể cho cán bộ Kinh phụ trách, các ban võ trang công tác, võ trang kinh lý đi cùng với các ủy ban để bám cơ sở củng cố chính quyền.

Tháng 6-1948: Thành lập Tỉnh đội Kon Tum

Để hệ thống hóa tổ chức dân quân của tỉnh đi vào hoạt động có nề nếp, tháng 6-1948, Phân ban Kháng chiến Hành chính  Tây Nguyên quyết định thành lập Tỉnh đội Kon Tum, do đồng chí Vân Sơn làm Tỉnh đội trưởng.

Nhiệm vụ của Tỉnh đội Kon Tum là cơ quan chuyên trách công tác huấn luyện, đào tạo đội ngũ dân quân, du kích, xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang địa phương.

Từ tháng 6 đến tháng 7-1952: Địch gây dựng lại hai trạm lính Chí Xẻng ở Kon Tum

Sau thất bại của cuộc hành quân Latérite xuống Ba Tơ, địch âm mưu trở lại hoạt động mạnh vùng Măng Đen đi Kon Tum nhằm củng cố lực lượng người Hre để chống lại phong trào cách mạng của ta.

Lợi dụng chính sách khoan hồng của ta, địch đưa một số bọn trá hình về làng giả vờ quy phục để hoạt động; đồng thời đưa 200 loạn quân Chí Xẻng ở miền tây Quảng Ngãi về Kon Tum và tổ chức thành hai trạm ở Kon Plông, Đăk Glei để huấn luyện, tập trận với lính Phi, nhằm tiếp tục nuôi âm mưu gây lại cơ sở, tổ chức tấn công lại Sơn Hà, chống lại phong trào kháng chiến của ta.

Tháng 6-1956: Ban cán sự tỉnh tổ chức Hội nghị phát động học tập chính trị và đấu tranh chống tố cộng

Tháng 6-1956, Ban cán sự tỉnh tổ chức Hội nghị quán triệt các nghị quyết của Liên khu uỷ (2-1956) và Liên tỉnh 4 (tháng 10-1955), đồng thời nhận định đánh giá tình hình, đề ra nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới của  tỉnh.

Hội nghị đã phát động đợt học tập chính trị, đấu tranh chống tố cộng trong tình hình mới và chỉ rõ: "Nhiệm vụ đấu tranh đòi hiệp thương trước đây là nhiệm vụ trọng tâm trực tiếp, nay chuyển thành nhiệm vụ lâu dài, nhiệm vụ củng cố phát triển lực lượng là nhiệm vụ mấu chốt; nhiệm vụ đấu tranh chống tố cộng, chống tuyển cử riêng rẽ phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh đòi quyền lợi hàng ngày... "

Đi đôi với nhiệm vụ lãnh đạo đấu tranh, Hội nghị yêu cầu phải: "Tăng cường giáo dục đường lối chính sách, phương châm, phương thức công tác cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, phổ biến cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt nam, mở rộng mặt trận đại đoàn kết toàn dân chống địch và xây dựng lực lượng ta, xây dựng Đảng bộ, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, giữ vững cơ sở, tích luỹ lực lượng".

Hội nghị nhấn mạnh: lúc này hơn lúc nào hết, cán bộ đảng viên phải bám sát quần chúng, phát động và lãnh đạo quần chúng chống tố cộng. Cán bộ đảng viên phải nêu cao đạo đức, khí tiết cộng sản, giáo dục khí tiết cho cơ sở và quần chúng tấn công lại địch, bảo vệ uy thế chính trị của Đảng, bảo vệ tổ chức, giữ vững và phát triển phong trào.

Ngày 08-7-1958: Chính quyền Việt Nam Cộng hòa phân chia Quận Đăk Tô thành Quận Đăk Tô và Quận Tu Mơ Rông

Ngày 08-7-1958Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hoà ra Nghị định số 367-BNV/HC/P6/NĐ phân chia quận Đăk Tô thành hai quận: quận Đăk Tô và quận Tu Mơ Rông. Theo đó, địa hạt quận Đăk Tô gồm 04 tổng: tổng Đăk Tô, tổng Đăk Brong, tổng Kon Hring, tổng Đăk Mot; đ