Thứ 7, ngày 25 tháng 3 năm 2017  TimKiem
  TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI BỘ
Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 12-2016
11/28/2016 9:30:50 AM

A. VĂN BẢN MỚI

I. VĂN BẢN CỦA TỈNH

1. Ngày 09-11-2016, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 12-HD/BTGTU về hướng dẫn thực hiện chương trình bồi dưỡng công tác đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu.

1. Mục đích:

Bồi dưỡng những vấn đề về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng, nội dung cơ bản về phương thức lãnh đạo và công tác xây dựng đảng của chi bộ, đảng bộ cơ sở; một số vấn đề cơ bản, cấp thiết trong công tác đảng hiện nay; giúp cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở vận dụng thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ. Góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong thời kỳ mới.

2. Yêu cầu:

- Nắm vững những kiến thức cơ bản về chức năng, nhiệm vụ và phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở cơ sở.

- Nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng, nội dung và phương thức tiến hành công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật và công tác dân vận của chi bộ, đảng bộ cơ sở trong giai đoạn hiện nay.

- Có kỹ năng, nghiệp vụ, phương pháp công tác đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở trên một số lĩnh vực quan trọng, như: Trong thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo; xây dựng, văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên môi trường ở cơ sở; trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương; trong việc tuân thủ pháp luật của người dân trong phát triển kinh tế- xã hội; trong phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên ở cơ sở.

II. Đối tượng của chương trình.

Đối tượng bồi dưỡng của chương trình là bí thư chi bộ, cấp ủy viên cơ sở (chi ủy viên, ủy viên ban chấp hành đảng bộ cơ sở). Ngoài ra, có thể bồi dưỡng cho các ủy viên không chuyên trách các ban của đảng ủy cơ sở và các đối tượng khác có liên quan.

III. Nội dung chương trình.

Chương trình gồm 6 bài trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng công tác đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở” do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn, phát hành năm 2016.

Ngoài 6 bài quy định thống nhất chung, tùy theo đặc điểm và điều kiện của địa phương, cơ sở có thể báo cáo thêm một số chuyên đề:

- Tình hình tư tưởng và nhiệm vụ công tác tư tưởng của địa phương.

- Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp của địa phương.

- Công tác dân vận của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể địa phương.

Trong quá trình học tập, có thể tổ chức đi tham quan, nghe các báo cáo của một số cơ sở làm tốt công tác xây dựng đảng.

IV. Hình thức, phương pháp và tổ chức lớp học.

- Tổ chức lớp học: Tổ chức lớp học theo lớp; tập trung lên lớp nghe giảng, thảo luận, giải đáp thắc mắc; viết bản thu hoạch, đánh giá kết quả qua bản thu hoạch. Trong quá trình giảng bài, kết hợp giảng bài với trao đổi, đối thoại giữa giảng viên với học viên, giữa học viên với học viên. Tổ chức tham quan, nghe báo cáo kinh nghiệm thực tế cũng được xem là nội dung học tập chính thức, có liên hệ, thu hoạch.

- Tùy theo đối tượng học, giảng viên có thể lựa chọn một số nội dung trong tài liệu để đi sâu phân tích, làm rõ, kết hợp giảng bài với tổ chức thảo luận, trao đổi kinh nghiệm giữa các học viên cho phù hợp và thiết thực. Có thể để học viên tự nghiên cứu một số nội dung.

V. Thời gian.

Thời gian học tập: 4 ngày. Trong đó:

- Giảng 6 bài (mỗi bài 01 buổi): 3 ngày.

- Thảo luận, giải đáp thắc mắc: 0,5 ngày.

- Viết thu hoạch: 0,5 ngày.

VI. Tài liệu.

- Tài liệu học tập chính thức: 6 bài chính trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng công tác đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở”, xuất bản năm 2016.

- Tài liệu tham khảo cần đọc:

+ Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (được thông qua tại Đại hội XI và được Đại hội XII tiếp tục khẳng định).

+ Văn kiện Đại hội XII của Đảng.

+ Văn kiện các hội nghị Trung ương (XI, XII).

+ Quy định số 29-QĐ/TW, ngày 25- 7- 2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng.

+ Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26- 7- 2016 của Ban Chấp hành Trung ương quy định thi hành Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

VII. Tổ chức thực hiện.

Chương trình bồi dưỡng công tác đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở được thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh theo hướng dẫn này.

Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo việc mở lớp. Ban Tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức, Văn phòng cấp ủy và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cùng cấp xây dựng kế hoạch, tổ chức mở lớp. Sau mỗi lớp học, Trung tâm cùng với Ban Tuyên giáo (tuyên huấn), Ban Tổ chức và Văn phòng cấp ủy đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm, báo cáo cấp ủy và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

Ban Tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy phối hợp với Ban Tổ chức, Văn phòng cấp ủy, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cùng cấp tiếp tục theo dõi, nắm bắt chất lượng, hiệu quả công tác của bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở sau khi học xong chương trình bồi dưỡng.

Việc cấp giấy chứng nhận cho học viên theo quy định hiện hành.

2. Ngày 09-11-2016, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 13-HD/BTGTU về hướng dẫn thực hiện chương trình bồi dướng lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạp đảng. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu.

Giúp những người có nguyện vọng gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam hiểu được khái lược về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; những nội dung cơ bản của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; nắm được những nội dung cơ bản của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam; nội dung và giải pháp để đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phương hướng phấn đấu để trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trên cơ sở đó, mỗi người xây dựng động cơ vào Đảng đúng đắn, tích cực rèn luyện và phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

II. Đối tượng của chương trình.

Đối tượng học tập của chương trình là những người có nguyện vọng muốn tìm hiểu về Đảng, tự giác gia nhập Đảng, được các cơ quan, đoàn thể công nhận là người ưu tú, được quần chúng tín nhiệm và giới thiệu để tổ chức đảng xem xét, bồi dưỡng kết nạp Đảng.

Đối tượng dự học phải có trình độ học vấn từ trung học cơ sở hoặc tương dương trở lên. Đối với người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới,… có thể vận dụng cho phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương.

III. Nội dung chương trình.

Chương trình gồm 05 bài trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạp đảng” do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn theo tinh thần các văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2016.

Ngoài 05 bài quy định thống nhất chung, tùy theo từng đối tượng, yêu cầu và điều kiện của địa phương, cơ sở có thể báo thêm các chuyên đề:

- Tình hình và nhiệm vụ của địa phương, cơ sở.

- Tình hình thời sự, những chủ trương, chính sách mới…

- Báo cáo quá trình phấn đấu trở thành đảng viên của người mới kết nạp vào Đảng.

Trong quá trình học tập, có thể tổ chức đi tham quan bảo tàng, nhà truyền thống; di tích lịch sử cách mạng, những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước,…

IV. Hình thức, phương pháp và tổ chức lớp học.

- Tổ chức lớp học: Tổ chức lớp học theo lớp; tập trung lên lớp nghe giảng, thảo luận, giải đáp thắc mắc; viết bản thu hoạch, đánh giá kết quả qua bản thu hoạch. Trong quá trình giảng bài, kết hợp giảng bài với trao đổi, đối thoại giữa giảng viên với học viên, giữa học viên với học viên. Tổ chức tham quan, nghe báo cáo kinh nghiệm thực tế cũng được xem là nội dung học tập chính thức, có liên hệ, thu hoạch.

-  Tùy theo đối tượng học, giảng viên có thể lựa chọn một số nội dung trong tài liệu để đi sâu phân tích, làm rõ, kết hợp giảng bài với tổ chức thảo luận, trao đổi kinh nghiệm giữa các học viên cho phù hợp và thiết thực. Có thể để học viên tự nghiên cứu một số nội dung.

V. Thời gian.

Thời gian học tập: 04 ngày. Trong đó:

- Giảng 05 bài (mỗi bài 01 buổi, riêng bài 2 giảng 02 buổi): 03 ngày.

- Trao đổi, thảo luận và giải đáp thắc mắc: 0,5 ngày.

- Viết thu hoạch, tổng kết: 0,5 ngày.

VI. Tài liệu.

- Tài liệu học tập chính thức: 05 bài trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng”, xuất bản năm 2016.

- Tài liệu tham khảo cần đọc:

+ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011).

+ Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (được thông qua tại Đại hội XI và được Đại hội XII tiếp tục khẳng định).

+ Chuyên đề học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2016- 2020 do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn.

+ Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15- 5- 2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Kế hoạch số 03-KH/TW, ngày 25- 7- 2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW và Chỉ thị số 27-CT/TTg, ngày 08- 9- 2016 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

VII. Tổ chức thực hiện.

Chương trình học tập lý luận chính trị cho học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng được thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh theo hướng dẫn này.

Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo việc mở lớp. Ban Tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức, Văn phòng cấp ủy và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cùng cấp xây dựng kế hoạch, tổ chức mở lớp. Sau mỗi lớp học, Trung tâm cùng với Ban Tuyên giáo (tuyên huấn), Ban Tổ chức và Văn phòng cấp ủy đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm, báo cáo cấp ủy và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

Ban Tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, phối hợp với Ban Tổ chức, Văn phòng cấp ủy, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cùng cấp tiếp tục theo dõi học viên đã học xong chương trình trong hoạt động thực tiễn; tổ chức kiểm tra nhận thức về Đảng trước khi kết nạp; theo dõi tỷ lệ người được kết nạp so với tổng số người được bồi dưỡng; tổ chức rút kinh nghiệm việc mở lớp thực hiện chương trình.

Việc cấp giấy chứng nhận cho học viên thực hiện theo quy định hiện hành.

3. Ngày 09-11-2016, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 14-HD/BTGTU về hướng dẫn thực hiện chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu.

Nhằm giúp các đồng chí đảng viên mới nắm vững kiến thức cơ bản, cốt lõi về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những vấn đề cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam; nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng và công tác xây dựng đảng ở cơ sở; vấn đề xây dựng Đảng và đạo đức, nhiệm vụ của người đảng viên.

Trên cơ sở đó, từng đảng viên xây dựng kế hoạch phấn đấu, rèn luyện để xứng đáng danh hiệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

II. Đối tượng của chương trình.

Đối tượng học tập chương trình là đảng viên mới được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, theo Quy định số 54-QĐ/TW, ngày 12- 5- 1999 của Bộ Chính trị khóa VIII về chế độ học tập lý luận trong Đảng.

III. Nội dung chương trình.

Chương trình gồm 10 bài trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới” do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn năm 2016, đã được cập nhật theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngoài 10 bài quy định thống nhất chung, tùy theo điều kiện, đặc điểm của địa phương và cơ sở có thể báo cáo thêm các chuyên đề:

- Tình hình và nhiệm vụ của địa phương, cơ sở.

- Tình hình thời sự, những chủ trương, chính sách mới.

- Các báo cáo điển hình về những đảng viên mới phấn đấu tốt..

Trong quá trình học tập, có thể tổ chức đi thăm và nghe các báo cáo của một số tổ chức cơ sở đảng điển hình có thành tích trong việc bồi dưỡng kết nạp, giáo dục, rèn luyện đảng viên.

IV. Hình thức, phương pháp tổ chức lớp học.

- Tổ chức lớp học: Tổ chức lớp học theo lớp; tập trung lên lớp nghe giảng, thảo luận, giải đáp thắc mắc; viết bản thu hoạch, đánh giá kết quả qua bản thu hoạch. Trong quá trình giảng bài, kết hợp giảng bài với trao đổi, đối thoại giữa giảng viên với học viên, giữa học viên với học viên. Tổ chức tham quan, nghe báo cáo kinh nghiệm thực tế cũng được xem là nội dung học tập chính thức, có liên hệ, thu hoạch, gắn với tình hình nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ địa phương.

- Tùy theo đối tượng học, giảng viên có thể lựa chọn một số nội dung trong tài liệu để đi sâu phân tích, làm rõ, kết hợp giảng bài với tổ chức thảo luận, trao đổi kinh nghiệm giữa các học viên cho phù hợp và thiết thực. Có thể để học viên tự nghiên cứu một số nội dung.

V. Thời gian.

Thời gian học tập: 6 ngày. Trong đó:

- Lên lớp 10 bài (mỗi bài 01 buổi): 05 ngày.

- Trao đổi, thảo luận và giải đáp thắc mắc: 0,5 ngày.

- Viết thu hoạch, tổng kết: 0,5 ngày.

VI. Tài liệu.

- Tài liệu học tập chính thức: 10 bài chính trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành đảng viên mới”, xuất bản năm 2016.

- Tài liệu tham khảo cần đọc:

+ Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (được thông qua tại Đại hội XI và được Đại hội XII tiếp tục khẳng định).

+ Văn kiện Đại hội XII của Đảng.

+ Văn kiện các hội nghị Trung ương (X, XI, XII).

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức; Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15- 5- 2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Kế hoạch số 03-KH/TW, ngày 25- 7- 2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW và Chỉ thị số 27-CT/TTg, ngày 08- 9- 2016 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

VII. Tổ chức thực hiện.

Chương trình học tập lý luận chính trị cho đảng viên mới được thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh theo hướng dẫn này.

Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo việc mở lớp. Ban Tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức, Văn phòng cấp ủy và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cùng cấp xây dựng kế hoạch, tổ chức mở lớp. Sau mỗi lớp học, Trung tâm cùng với Ban Tuyên giáo (tuyên huấn), Ban Tổ chức và Văn phòng cấp ủy đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm, báo cáo cấp ủy và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

Ban Tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, phối hợp với Ban Tổ chức, Văn phòng cấp ủy, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cùng cấp tiếp tục theo dõi nắm bắt chất lượng của đảng viên mới đã học xong chương trình này.

Việc cấp giấy chứng nhận cho học viên thực hiện theo quy định hiện hành.

4. Ngày 11/11/2016, UBND tỉnh ban hành Công văn số 2809/UBND-KGVX chỉ đạo mở rộng bảo hiểm y tế (BHYT) cho người nhiễm HIV/AIDS.

Theo đó, UBND tỉnhyêu cầu Sở Y tế, các đơn vị liên quan và các địa phương: Rà soát, lập danh sách người nhiễm HIV/AIDS chưa có thẻ BHYT đang được quản lý điều trị tại các cơ sở y tế, cơ sở bảo trợ xã hội, trại tạm giam và các cơ sở khác trên địa bàn tỉnh.

Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh cho chủ trương bố trí ngân sách hỗ trợ mua thẻ BHYT từ nguồn Quỹ hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS, nguồn kết dư BHYT hàng năm (nếu có) và các nguồn kinh phí hợp pháp khác, nhằm đảm bảo 100% người nhiễm HIV/AIDS tham gia BHYT.

Kịp thời phát hành thẻ BHYT cho người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh; Xây dựng kế hoạch hoạt động của Quỹ hỗ trợ người nhiễm HIVAIDS tỉnh hàng năm. hoàn thành mục tiêu năm 2016 đạt 100% người nhiễm HIV/AIDS có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh chưa có thẻ BHYT được hỗ trợ từ nguồn Quỹ hỗ trợ người nhiễm HIVAIDS tỉnh để mua thẻ BHYT; Tuyên truyền, vận động người nhiễm HIVAIDS tham gia BHYT...

Chỉ đạo trên nhằm hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là những người nhiễm HIV/AIDS có hoàn cảnh khó khăn, giảm bớt gánh nặng trong chi trả các dịch vụ y tế khi bị ốm đau, có cơ hội được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng theo tinh thần Công văn số 6741/BYT-AIDS ngày 09/9/2016 của Bộ Y tế.

5. Ngày 14/11/2016, UBND tỉnh ban hành Công văn số 2819/UBND-HTKT chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp.

UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, địa phương cập nhật, quán triệt, phổ biến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh về công tác kiểm soát, quản lý hoạt động bán hàng đa cấp trên địa bàn tỉnh.

Giao cơ quan thường trực Ban chỉ đạo 389 tỉnh: Tăng cường công tác quản lý, giám sát, kiểm tra, thanh tra để kịp thời xử lý vi phạm theo thẩm quyền đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức đa cấp, người tham gia bán hàng đa cấp và các tổ chức, cá nhân kinh doanh theo phương thức đa cấp đối với mọi loại hình như dịch vụ và các hình thức kinh doanh đa cấp trái pháp luật khác trên địa bàn (chú trọng vào các hoạt động hội nghị, hội thảo, đào tạo; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về bán hàng đa cấp và những thủ đoạn lợi dụng bán hàng đa cấp để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản); yêu cầu các doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm kiểm tra, giám sát người tham gia bán hàng trong hệ thống đối với việc chấp hành các quy định của pháp luật về kinh doanh bán hàng đa cấp.

Yêu cầu UBND các huyện, thành phố, chỉ đạo các phòng, ban chức năng và UBND các xã, phường, thị trấn thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp, người bán hàng đa cấp; kịp thời báo cáo với cơ quan chức năng khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm các quy định của pháp luật về hoạt động bán hàng đa cấp; kiểm tra, giám sát các hoạt động tổ chức hội thảo, hội nghị, thuyết trình diễn ra trên địa bàn theo đúng quy định của pháp luật. Phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh tăng cường công tác quản lý, giám sát hoạt động bán hàng của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp và người bán hàng đa cấp trên địa bàn quản lý.

6. Ngày 18/11/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 48/2016/QĐ-UBND về việc ban hành quy định cấp độ lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, thời gian được nâng bậc lương trước thời hạn và thứ tự ưu tiên xét nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của các đơn vị thuộc UBND tỉnh. Cụ thể:

Nâng bậc lương trước thời hạn 12 tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ theo cấp độ từ trên xuống dưới: Huân chương các loại; Danh hiệu Anh hùng lao động; Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng cấp Nhà nước; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Nâng bậc lương trước thời hạn 09 tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh.

Nâng bậc lương trước thời hạn 06 tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ theo cấp độ từ trên xuống dưới: Có dự án, đề tài khoa học, sáng chế kỹ thuật, sáng kiến, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn được Hội đồng sáng kiến cấp tỉnh công nhận và đã triển khai có hiệu quả trong thực tiễn; Được biệt phái đến công tác tại khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa có hệ số phụ cấp khu vực từ 0,7 trở lên, có thời gian công tác ít nhất 02 năm liên tục trở lên ở khu vực đó và 02 năm liền này hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được đơn vị quản lý cán bộ công nhận. 

Thứ tự ưu tiên xét nâng bậc lương trước thời hạn trong trường hợp có nhiều người đạt thành tích như nhau mà đơn vị không có đủ chỉ tiêu thực hiện:

Người lập thành tích xuất sắc trong kỳ nâng lương trước thời hạn kỳ trước nhưng chưa được xét chọn do vượt quá chỉ tiêu để xét; trong kỳ này lại lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ; Người tuổi cao, nếu không nâng lương kỳ này thì không còn điều kiện để được nâng lương trước thời hạn; Người có chức vụ thấp hơn hoặc không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; Người nhiều tuổi hơn; Người có số năm công tác nhiều hơn, chưa được nâng bậc lương trước thời hạn lần nào; Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là nữ giới.

Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 01/12/2016.

7. Ngày 23/11/2016, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 2900/KH-UBND thực hiện Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15/6/2016 của Chính phủ về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số (DTTS) giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030.

Theo đó, các chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch: Đến năm 2020, có ít nhất 10% trẻ em người DTTS trong độ tuổi nhà trẻ và đạt từ 90% trở lên trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; huy động tỷ lệ học sinh người DTTS đi học đúng tuổi bậc tiểu học là 100%, trung học cơ sở 96% và 80% người trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương. Phấn đấu đến năm 2030, 25% trẻ em người DTTS trong độ tuổi nhà trẻ và 95% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ học sinh người DTTS đi học đúng tuổi bậc tiểu học là 100%, trung học cơ sở 98% và 85% người trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương.

Phấn đấu đến năm 2020, số sinh viên người DTTS (đại học, cao đẳng) đạt 130 sinh viên/vạn dân (người DTTS), nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực rất thấp đạt tối thiểu 100 sinh viên/vạn dân; năm 2030 tỷ lệ tương ứng là 200 sinh viên/vạn dân và 150 sinh viên/vạn dân.

Đào tạo sau đại học cho người DTTS, phấn đấu đến năm 2020 đạt tỷ lệ khoảng 0,4%, năm 2030 là 0,7% trong tổng số lao động DTTS đã qua đào tạo, ưu tiên các dân tộc chưa có người ở trình độ sau đại học.

Tỷ lệ người DTTS trong độ tuổi lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đến năm 2020 đạt 70%, nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp đạt 65%; phấn đấu năm 2030 tỷ lệ tương ứng là bằng hoặc trên 70% và bằng hoặc trên 65%.

Giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi người DTTS đến năm 2020 xuống dưới 43‰, năm 2030 xuống dưới 40‰; trong đó, có 02 dân tộc có dân số dưới 10.000 người là dân tộc Brâu, Rơ Măm và một số dân tộc như: Gia Rai, Ba Na, Giẻ - Triêng (gọi tắt là nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp) tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi năm 2020 dưới 43‰ và năm 2030 dưới 40‰. Phấn đấu đến năm 2020 nâng tuổi thọ bình quân của người DTTS bằng hoặc trên 67 tuổi, năm 2030 là trên 70 tuổi.

Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em DTTS dưới 5 tuổi đến năm 2020 dưới 38% và năm 2030 dưới 35%; trong đó ở nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi năm 2020 dưới là 38% và năm 2030 dưới 35%.

Đến năm 2020, phấn đấu có 45%, năm 2030 đạt 55% số lao động người DTTS trong độ tuổi từ 18 đến 35 tuổi được cung cấp thông tin thị trường lao động, việc làm...

Để đạt được mục tiêu trên, Kế hoạch đưa ra nhiều giải pháp như: Trong lĩnh vực GD-ĐT: Củng cố hệ thống các trường phổ thông DTNT, trường phổ thông trung học DTBT vùng có điều kiện kinh tế-xã hội ĐBKK; phát triển đội ngũ giáo viên người DTTS; tăng cường đầu tư các trường phổ thông DTNT và các trường, điểm trường có nhiều học sinh DTNT, học sinh các dân tộc rất ít người đang theo học. Triển khai thực hiện các chế độ, chính sách cho học sinh DTNT, DTBT và người DTTS trong nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp theo quy định của Nhà nước.

Trong lĩnh vực y tế, chăm sóc và nâng cao sức khỏe:Thực hiện tốt các chính sách chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS; ưu tiên đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ y tế là người đồng bào DTTS, cán bộ y tế công tác tại tuyến xã và đào tạo chuẩn hóa đội ngũ nhân viên y tế thôn, làng; đào tạo cô đỡ thôn, bản cho các thôn còn khó khăn về công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản; đẩy mạnh công tác truyền thông phù hợp với văn hóa, ngôn ngữ dân tộc để nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của đồng bào các DTTS về vệ sinh môi trường, chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh…

Trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm:phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, nghề trọng điểm theo các cấp độ và các trường, khoa giáo dục nghề nghiệp nội trú cho người dân tộc thiểu số; tăng cường cung cấp thông tin thị trường lao động, đẩy mạnh và mở rộng công tác tư vấn, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số...

II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG

Quyết định số 50/2016/QĐ-TTg ngày 03/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2020. Quyết định gồm 10 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/12/2016. Một số nội dung chính của Quyết định:

- Tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn: Thôn đặc biệt khó khăn là thôn có 1 trong 2 tiêu chí: (1) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 65% trở lên (trong đó tỷ lệ hộ nghèo từ 35% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 – 2020; (2) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ 30% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và có 2 trong 3 yếu tố sau (đối với các thôn có số hộ dân tộc thiểu số từ 80% trở lên, cần có 1 trong 3 yếu tố): a) Trục chính đường giao thông thôn hoặc liên thôn chưa được cứng hóa theo tiêu chí nông thôn mới; b) Từ 60% trở lên số phòng học cho lớp mẫu giáo chưa được kiên cố; c) Chưa có Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

- Xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi được xác định theo ba khu vực: Xã khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; xã khu vực II là xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nhưng đã tạm thời n định; xã khu vực I là các xã còn lại.

(1) Tiêu chí xã khu vực III: Xã khu vực III là xã có ít nhất 2 trong 3 tiêu chí sau: a) Số thôn đặc biệt khó khăn còn từ 35% trở lên (tiêu chí bắt buộc); b) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 65% trở lên (trong đó tỷ lệ hộ nghèo từ 35% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020; c) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ 30% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và có ít nhất 3 trong 6 điều kiện sau (đối với xã có số hộ dân tộc thiểu số từ 60% trở lên, cần có ít nhất 2 trong 6 điều kiện): Trục chính đường giao thông đến Ủy ban nhân dân xã hoặc đường liên xã chưa được nhựa hóa, bê tông hóa theo tiêu chí nông thôn mới; Trường mầm non, trường tiểu học hoặc trường trung học cơ sở chưa đạt chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Chưa đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã theo quy định của Bộ Y tế; Chưa có Trung tâm Văn hóa, Thể thao xã theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Còn từ 20% số hộ trở lên chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; Còn từ 40% số hộ trở lên chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế.

(2) Tiêu chí xã khu vực II: Xã khu vực II là xã có 1 trong 3 tiêu chí sau: a) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ 30% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và có không đủ 3 trong 6 điều kiện (đối với xã có số hộ dân tộc thiểu số từ 60% trở lên, có không đủ 2 trong 6 điều kiện) quy định tại điểm c khoản (1) Điều này; b) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 15% đến dưới 55% (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ 15% đến dưới 30%) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020; c) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo dưới 15% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và có ít nhất một thôn đặc biệt khó khăn.

(3) Tiêu chí xã khu vực I: Là các xã còn lại thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi không phải xã khu vực III và xã khu vực II.

B. VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI NĂM 2016; PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA TỈNH NĂM 2017

Ngày 25-10-2016, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV đã ban hành Kết luận số 362-KL/TU về tình hình kinh tế-xã hội năm 2016; phương hướng, nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2017. Nội dung cụ thể sau:   

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV cơ bản tán thành nội dung báo cáo về tình hình kinh tế-xã hội năm 2016; phương hướng, nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2017 do Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh trình; đồng thời lưu ý, nhấn mạnh một số điểm sau đây:

I- Về tình hình kinh tế-xã hội năm 2016

Năm 2016 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020, mặc dù kinh tế trong nước và thế giới còn nhiều khó khăn và diễn biến phức tạp, nhưng với sự nỗ lực rất cao, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đã vượt qua khó khăn, thách thức, tập trung tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm và đạt được nhiều kết quả quan trọng: Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá; các sản phẩm chủ lực tiếp tục được quan tâm đầu tư và có bước phát triển; môi trường đầu tư được cải thiện; chất lượng giáo dục được nâng lên; hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao diễn ra sôi nổi; an sinh, phúc lợi xã hội đạt được nhiều kết quả; công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, chăm sóc trẻ em, phòng chống dịch bệnh, xử lý tình trạng khai thác tài nguyên trái pháp luật... được chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn tỉnh được tổ chức thành công với tỷ lệ cử tri đi bầu và kết quả trúng cử đạt cao. Quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế và tái cơ cấu trong các ngành, lĩnh vực còn chậm. Sản phẩm có giá trị gia tăng, có hàm lượng công nghệ cao còn ít. Hoạt động của doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn. Thu ngân sách Nhà nước tại địa bàn đạt thấp. Đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân chậm được cải thiện; vệ sinh an toàn thực phẩm có lúc, có nơi chưa đảm bảo. Kết quả ứng dụng khoa học-công nghệ còn nhiều hạn chế. Dịch sốt xuất huyết xảy ra trên diện rộng nhưng chậm được đẩy lùi. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân ở một số đơn vị, địa phương chưa kịp thời, hiệu quả. An ninh, trật tự khu vực biên giới, an ninh nông thôn có lúc, có việc, có nơi còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định. Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản, khoáng sản trái pháp luật diễn biến phức tạp, có lúc, có nơi gây bức xúc nhưng chưa được ngăn chặn triệt để…

Những yếu kém, hạn chế trên có phần do nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu vẫn là do các nguyên nhân chủ quan như: việc thực hiện nhiệm vụ của các cấp, các ngành có mặt chưa theo kịp với yêu cầu thực tiễn; vẫn còn tình trạng lãnh đạo một số địa phương, đơn vị chưa phát huy hết trách nhiệm, không sâu sát trong công việc, chưa kiên trì, đeo bám các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Công tác kiểm tra của các cấp, các ngành chưa thường xuyên, kịp thời. Kỷ luật, kỷ cương hành chính có lúc, có nơi, có việc chưa nghiêm...

II- Về mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của năm 2017
Năm 2017, dự báo tình hình kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn, giá một số hàng hóa vẫn ở mức thấp; thiên tai diễn biến bất thường; các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện các hoạt động chống phá. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ kinh tế-xã hội của năm 2017, tạo tiền đề vững chắc cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trong những năm tới, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

1- Mục tiêu tổng quát: Khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế với chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý. Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Khuyến khích khởi nghiệp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Phát triển mạnh các lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân gắn với đẩy mạnh công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội. Tăng cường bảo vệ tài nguyên môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Giữ vững quốc phòng, an ninh; ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Củng cố và mở rộng quan hệ đối ngoại; liên kết, hợp tác nội vùng, liên vùng và quốc tế.

2- Phấn đấu đến cuối năm 2017 đạt các chỉ tiêu chủ yếu sau: Tốc độ tăng tổng sản phẩm (GRDP) trong tỉnh đạt khoảng 9%; cơ cấu kinh tế: Nông-lâm-thuỷ sản: 28-29%, Công nghiệp-Xây dựng: 24-25%, Thương mại-Dịch vụ: 39-40%; thu nhập bình quân đầu người trên 34 triệu đồng; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 1.831 tỷ đồng; tổng chi cân đối ngân sách địa phương 5.382 tỷ đồng; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 80 triệu USD; dân số trung bình đạt 520 ngàn người; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 46%; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3-4%; có 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới; số giường bệnh trên 01 vạn dân đạt 29 giường; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 86,8%; tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 62,84%; 100% khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

3- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

3.1. Về kinh tế

- Tập trung đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Thực hiện có hiệu quả Đề án chuyển đổi trồng lúa sang trồng cây hàng năm trên đất trồng lúa thiếu nước tưới vụ Đông Xuân; Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tiếp tục huy động các nguồn lực hỗ trợ khai hoang, phục hóa để giải quyết đất sản xuất cho Nhân dân; rà soát quỹ đất sử dụng không hiệu quả của các nông, lâm trường trên địa bàn để bàn giao cho địa phương quản lý. Khuyến khích phát triển mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm đảm bảo vệ sinh môi trường gắn với giết mổ, chế biến tập trung và mở rộng thị trường tiêu thụ. Chỉ đạo tăng cường công tác phòng chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn, nâng cao khả năng ứng cứu và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra.

- Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát thị trường; ngăn chặn, xử lý nghiêm tình trạng buôn bán hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, gây ô nhiễm môi trường; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Thực hiện có kết quả các nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Tập trung thực hiện các biện pháp nhằm duy trì và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, chỉ số quản trị hành chính công cấp tỉnh. Tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhất là các vấn đề liên quan đến đất đai, giải phóng mặt bằng nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, tâm huyết đẩy nhanh tiến độ triển khai và đưa dự án vào hoạt động đúng tiến độ. Tích cực triển khai có hiệu quả Đề án di dân, bố trí, sắp xếp dân cư trên địa bàn huyện Ia H’Drai.

- Ưu tiên đầu tư nâng cấp, xây dựng các tuyến đường giao thông cấp bách và quan trọng theo hướng đồng bộ, hiện đại, có tính liên kết giữa các vùng trong tỉnh, giữa các tỉnh trong khu vực hành lang kinh tế Đông-Tây. Khai thác hiệu quả các nguồn thu và tích cực thu hồi nợ đọng thuế, chú trọng nuôi dưỡng các nguồn thu có tiềm năng; nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư; ưu tiên xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản trước khi bố trí vốn cho các công trình khởi công mới. Khẩn trương cụ thể hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành trong năm 2016.

3.2. Về văn hóa-xã hội

- Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh. Triển khai đồng bộ và hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án về giảm nghèo bền vững theo phương pháp tiếp cận đa chiều. Khuyến khích phát triển một số cơ sở dạy nghề ngoài công lập. Đầu tư nâng cấp, mở rộng hệ thống trường, lớp học; củng cố và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Kiện toàn, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân; nâng cao khả năng tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ y tế thiết yếu. Triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 17/CT-TTg, ngày 16-5-2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện phòng, chống tai nạn thương tích và đuối nước cho học sinh, trẻ em.

- Đẩy mạnh quảng bá, xây dựng và giới thiệu các sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương; thực hiện có hiệu quả việc khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống...

- Đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nâng cao chất lượng đánh giá, phân loại cán bộ, công chức hàng năm, nhất là đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

3.3. Về quốc phòng an ninh, đối ngoại

- Tiếp tục bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm ma túy, tội phạm hình sự; tăng cường phòng, chống với các tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt công tác quản lý đường biên, cột mốc, vùng dân cư biên giới. Ngăn chặn, xử lý có hiệu quả các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản, khoáng sản trái pháp luật, nhất là trên địa bàn biên giới. Chú trọng bảo đảm an ninh trong các ngày lễ lớn của đất nước, của địa phương. Chuẩn bị chu đáo và thực hiện tốt cuộc diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh (PT-17). Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đấu tranh, xóa bỏ triệt để tà đạo Hà Mòn.

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất, kịp thời phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm trên các lĩnh vực; đồng thời đôn đốc việc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; tăng cường hiệu lực thi hành các kết luận, kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Chỉ đạo nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu các địa phương, đơn vị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và công tác phòng chống tham nhũng, Chiến lược quốc gia về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tăng cường công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế.

III- Tổ chức thực hiện

1. Các cơ quan tham mưu giúp việc Tỉnh ủy, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ, các huyện uỷ, thành uỷ, các đồng chí Tỉnh uỷ viên, thủ trưởng, người đứng đầu các sở, ban, ngành của tỉnh khẩn trương quán triệt đến đảng viên, cán bộ, công chức và các tầng lớp Nhân dân, nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất về tư tưởng và hành động; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả nội dung thuộc trách nhiệm của ngành, địa phương mình được xác định tại Kết luận này, quyết tâm thực hiện, hoàn thành ở mức cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2016 trong những tháng cuối năm và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2017.

2. Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo việc hoàn chỉnh các văn bản có liên quan, trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, quyết định. 

3. Văn phòng Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành triển khai thực hiện Kết luận này; kịp thời báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy những vấn đề phát sinh, vướng mắc (nếu có).

C. VỀ KẾT QUẢ XỬ LÝ VỤ VI PHẠM VỀ QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK GLEI

Ngày 25-10-2016 tại Công văn số 216-CV/TU, Thường trực Tỉnh ủy đã có ý kiến chỉ đạo về vụ việc vi phạm về quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Đăk Glei. BBT tóm tắt và trích đăng nội dung vụ việc nhằm thông tin đến cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ tỉnh biết.

I. NỘI DUNG VỤ VIỆC

Ngày 14 và 15-6-2016, trên địa bàn huyện Đăk Glei xảy ra vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép tại các khoảnh 1, 7, 13 - Tiểu khu 120, lâm phần thuộc lâm trường Đăk Ba - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đăk Glei quản lý. Theo báo cáo kết quả xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đăk Glei, có 9 đối tượng là người dân tộc thiểu số địa phương sử dụng 2 cưa lốc, 8 xe máy độ chế để khai thác, vận chuyển; khối lượng gỗ khai thác là 5,798 m­3 ( trong đó: gỗ Xoan mộc 2,262 m3, gỗ Kháo vàng 2,262 m3, gỗ Dổi 0,325 m3).

Ngay sau khi vụ việc xảy ra, thực hiện chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy Đăk Glei đã chỉ đạo UBND huyện, Ban Thường vụ Đảng ủy xã Đăk Kroong, Ban Thường vụ Đảng ủy xã Đăk Long, Chi bộ Hạt Kiểm lâm huyện, Chi bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp huyện tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm tập thể và từng cá nhân có liên quan. Đồng thời, Ban Thường vụ Huyện ủy, Huyện ủy đã tổ chức hội nghị kiểm điểm trách nhiệm của tập thể và cá nhân có liên quan đến vụ việc vi phạm về quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện [1]

Theo nhận xét của Thường trực Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy (tại Báo cáo số 153-BC/UBKTTU, ngày 03-10-2016 của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy về kết quả giám sát việc tổ chức kiểm điểm đối với Ban Thường vụ Huyện ủy Đăk Glei và các cá nhân có liên quan đến vụ phá rừng trái phép trên địa bàn huyện): Ban Thường vụ Huyện ủy Đăk Glei đã nghiêm túc thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy về tổ chức kiểm điểm xử lý đối với tập thể, cá nhân liên quan đến vụ phá rừng trái phép xảy ra trên địa bàn huyện.

Ban Thường vụ Huyện ủy đã kịp thời chỉ đạo kiểm điểm xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đúng qui trình, qui định; qua đó thể hiện được tính giáo dục răn đe của Đảng. Thông qua việc lãnh đạo tổ chức kiểm điểm đối với tổ chức đảng và cá nhân cấp dưới, Ban Thường vụ Huyện ủy đã thấy được khuyết điểm, vi phạm của tập thể Ban thường vụ và các đồng chí có liên quan.

Việc tổ chức kiểm điểm của Ban Thường vụ Huyện ủy và các cá nhân có liên quan đã cơ bản đảm bảo nội dung, tính chất, mức độ tác hại, nguyên nhân vi phạm. Ban thường vụ huyện ủy cũng đã thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm một cách nghiêm túc và cầu thị; qua kiểm điểm đã đề ra các giải pháp khắc phục trong thời gian tới.

Căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại vi phạm của tập thể Ban thường vụ huyện ủy và các cá nhân có liên quan, Thường trực Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy nhận thấy: Vi phạm của Ban Thường vụ Huyện ủy Đăk Glei và các cá nhân có liên quan thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý, chưa đến mức áp dụng các hình thức kỷ luật theo: Qui định 263, ngày 08-10-2014 của Bộ chính trị về xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng vi phạm; Quy định 181-QĐ/TW, ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị; Hướng dẫn 09-HD/UBKTTW ngày 06-6-2013 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện một số điều của Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30-3-2013 về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Tuy nhiên, vi phạm nêu trên ảnh hưởng đến uy tín của huyện và tỉnh, nhất là xảy ra vào thời điểm Thủ tướng Chính phủ có lệnh đóng cửa rừng, tạo dư luận không tốt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân...

II. KẾT LUẬN CỦA THƯỜNG TRỰC TỈNH ỦY

Sau khi xem xét Báo cáo số 211-BC/HU, ngày 28-9-2016 của Ban Thường vụ Huyện ủy Đăk Glei “về kết quả kiểm điểm trách nhiệm tập thể ban Thường vụ Huyện ủy và các cá nhân liên quantrong công tác lãnh đạo, chỉ đạo quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng trên địa bàn huyện” và Báo cáo số 153-BC/UBKTTU, ngày 03-10-2016 của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy “về kết quả giám sát việc tổ chức kiểm điểm đối với Ban Thường vụ Huyện ủy Đăk Glei và các cá nhân có liên quan đến vụ phá rừng trái phép trên địa bàn huyện”, Thường trực Tỉnh ủy đã có Công văn số 216-CV/TU, ngày 25-10-2016, yêu cầu:

1. Ban Thường vụ Huyện ủy, đồng chí Bí thư Huyện ủy, các đồng chí Phó Bí thư Huyện ủy, đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện Đăk Glei phụ trách lĩnh vực lâm nghiệp và các cá nhân có liên quan nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc để xảy ra vi phạm về quản lý, bảo vệ rừng tại lâm phần do Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei quản lý.

2. Ban Thường vụ Huyện ủy Đăk Glei phối hợp với Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh và các cơ quan liên quan tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng trên địa bàn, không để xảy ra vi phạm tương tự trong thời gian tới.

3. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy cho đăng tin về kết quả kiểm điểm, xử lý vi phạm đối với tập thể Ban Thường vụ Huyện ủy Đăk Glei và các cá nhân liên quan đến vi phạm nêu trên tại Thông báo nội bộ phục vụ sinh hoạt chi bộ nhằm thông tin đến toàn thể cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ tỉnh biết, rút kinh nghiệm.

D. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN

Trong tháng 12-2016, công tác tuyên truyền tập trung vào 02 nội dung trọng tâm sau:

1. Công tác tuyên truyền theo chủ đề, chủ điểm

- Tiếp tục tuyên truyền nội dung Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tập trung vào các nội dung: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017; Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế; Thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

- Tiếp tục tuyên truyền Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 19-8-2016 về tiếp tục xây dựng các xã đặc biệt khó khăn trong tình hình mới; Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 23-8-2016 về tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số, giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 24-8-2016 về giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020; việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 30-6-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh và Kết luận số 04-KL/TU, ngày 13-01-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh.

- Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ, các sự kiện chính trị diễn ra trong tháng 12-2016, đậm nét là các hoạt động kỷ niệm 85 năm cuộc đấu tranh Lưu huyết tại Ngục Kon Tum (12/12/1931-12/12/2016); 70 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946- 19/12/2016); kết quả Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XIV; về diễn biến và kết quả Kỳ họp thứ 3 Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XI, nhiệm kỳ 2016-2021.

- Tuyên truyền, nêu bật những kết quả đạt được về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị, đối ngoại của địa phương, đất nước năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội năm 2017.

- Tuyên truyền hướng tới mừng Đảng, mừng Xuân Đinh Dậu 2017 gắn với tuyên truyền Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", tôn vinh những sản phẩm hàng hoá đạt chất lượng tốt; cảnh giác với các loại hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng trong dịp Tết.

2. Công tác tuyên truyền thường xuyên

- Tiếp tục tuyên truyền những nội dung cơ bản, những nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu, giải pháp đột phá trong Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; những thành tựu đạt được về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị và đối ngoại của tỉnh, của đất nước trong thời kỳ đổi mới, nhất là thành tựu sau 25 năm thành lập lại tỉnh; kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016-2020.

- Tiếp tục tuyên truyền Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tình hình triển khai Chỉ thị ở các địa phương, đơn vị; biểu dương, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực phát triển kinh tế; xây dựng nông thôn mới; xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa; bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh…

- Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta. 

- Tiếp tục tuyên truyền kết quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội; các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh, trong đó chú ý đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền quảng bá thương hiệu sâm Ngọc Linh Kon Tum và chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” đối với sản phẩm sâm củ; tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thích ứng với biến đổi khí hậu; công tác phòng, chống cháy nổ mùa hanh khô, tai nạn giao thông, dịch bệnh, nhất là dịch sốt xuất huyết và dịch bệnh zika...

E. TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI THÁNG 11 VÀ 11 THÁNG NĂM 2016

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2016

Tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm vụ mùa năm 2016 tỉnh Kon Tum ước đạt: 64.055 ha, tăng 0,18% (+117 ha) so vụ mùa năm 2015.

Cây lúa ruộng diện tích: 12.256 ha, tăng 0,70% (+85 ha) so với vụ mùa năm 2015. Cây lúa rẫy diện tích: 4.539 ha, giảm 2,2% (-103 ha) so với vụ mùa năm 2015. Diện tích gieo trồng cây lúa rẫy giảm do trồng lúa rẫy mang lại hiệu quả kinh tế không cao nên bà con chuyển sang trồng các loại cây khác như bo bo, cà phê.

Cây ngô diện tích: 5.437 ha, giảm 2,34% (-130 ha) so với vụ mùa năm trước.

Cây sắn diện tích: 39.299 ha, giảm 0,47% (-187 ha) so với vụ mùa năm 2015.

Rau các loại: 1.206 ha, tăng 7,30% (+82 ha) so với vụ mùa năm 2015.

Đậu các loại DTGT: 402 ha, giảm 1,23% (-5 ha) so vụ Mùa năm 2015.

Cây lạc DTGT: 181 ha, giảm 13,4% (-28 ha) so vụ Mùa năm 2015.

Diện tích cây lạc do những năm trước nông dân tận dụng diện tích đất cây cao su, cây điều đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để trồng xen. Năm nay, một phần diện tích cây cao su, cây điều đã khép tán trưởng thành nên diện tích cây lạc giảm mạnh so với năm trước.

Các loại cây hàng năm khác diện tích gieo trồng không lớn và không biến động lớn so với vụ mùa năm 2015.

+ Tình hình thu hoạch cây trồng vụ mùa 2016

Đến nay, cây lúa ruộng thu hoạch đạt khoảng 85% (10.417 ha) diện tích, lúa rẫy thu hoạch đạt khoảng 80% (3.631 ha) diện tích. Ngô vụ mùa cơ bản thu hoạch xong. Cây sắn thu hoạch khoảng 15% diện tích. Cây mía, Nhà máy đường Kon Tum vừa có kế hoạch thu mua mía nên nông dân mới bắt đầu triển khai thu hoạch (chủ yếu ở thành phố Kon Tum).

Năng suất lúa vụ mùa ước đạt: 33,40 tạ/ha, tăng 0,6% (+0,21 tạ/ha) so vụ mùa năm 2015. Trong đó: Năng suất lúa ruộng ước đạt 40,42 tạ/ha, giảm 0,2% (-0,09 tạ/ha) so với chính thức vụ mùa năm 2015; Năng suất lúa rẫy ước đạt 14,46 tạ/ha, tăng 3,3% (+0,45 tạ/ha) so với chính thức vụ mùa năm 2015.

+ Diện tích cây lâu năm hiện có

Ước tính đến thời điểm ngày 15/11/2016, tổng diện tích cây lâu năm trên địa bàn tỉnh là: 95.019 ha, tăng 1,61% (+1.503 ha) so cùng kỳ năm trước.

Diện tích cây cao su ước đạt 74.852 ha, tăng 0,1% (+76 ha). Trong đó, diện tích trồng mới cao su trên địa bàn tỉnh trồng được 560 ha, diện tích tổng số tăng thấp hơn diện tích trồng mới do công tác kiểm kê đo đạc lại đất và một số diện tích cao su trước đây nhân dân khai thác không đúng kỹ thuật làm giảm tuổi thọ thời kỳ kinh doanh nên phá bỏ (huyện Kon Rẫy, Ia H’Drai, Sa Thầy, thành phố Kon Tum). Diện tích cao su trồng mới tăng chủ yếu ở các nông trường quốc doanh. Từ đầu năm đến nay giá mủ cao su có tăng tuy nhiên vẫn chưa ổn định nên người dân chưa mạnh dạn đầu tư vào trồng mới cây cao su.

Diện tích cây cà phê ước đạt 16.578 ha, tăng 8,6% (+1.313 ha). Trong đó, diện tích trồng mới là 1.136 ha, diện tích tăng do kiểm kê đo đạc lại đất là 182 ha.

Kon Tum là tỉnh có diện tích cây ăn quả không lớn, chiếm tỷ trọng thấp trong nhóm cây lâu năm. Khí hậu, thổ nhưỡng ở đây không phù hợp để phát triển các loại cây ăn quả với quy mô lớn. Diện tích chủ yếu được trồng với quy mô nhỏ và rải rác ở các khu vườn hộ dân, sản lượng thu hoạch chủ yếu dùng để phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày.

- Chăn nuôi

Trong tháng tổng đàn tương đối ổn định, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh an toàn đối với dịch bệnh nguy hiểm như: Lở mồm long móng, Cúm gia cầm và Tai xanh ở lợn.

b) Lâm nghiệp ước tính đến 15/11/2016

Công tác trồng rừng tập trung là 1.723 ha, giảm 13,76% (-275 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm là do chương trình Dự án phát triển lâm nghiệp (Flitch) trên địa bàn tỉnh năm 2015 đã kết thúc.

Cháy rừng: đã xảy ra 4 vụ cháy, với tổng diện tích thiệt hại là 30,50 ha giảm 4 vụ (-3,79 ha) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: 30 ha rừng tự nhiên (01 vụ cháy 10 ha, thiệt hại 40%; 02 vụ cháy 20 ha, không gây thiệt hại); 0,5 ha rừng trồng (01 vụ cháy, mức độ thiệt hại là 10%). Các vụ cháy rừng trên xảy ra trên các địa bàn huyện Kon Rẫy, Sa Thầy, Ia H’Drai, Ngọc Hồi và Đắk Hà. 

Vi phạm phá rừng : đã xảy ra 32 vụ với diện tích thiệt hại là 10,06 ha, giảm 27 vụ (+5,71 ha). Các vụ vi phạm phá rừng làm nương rẫy được các cơ quan chức năng đang điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Lượng gỗ khai thác trên địa bàn tỉnh Kon Tum là 22.652 m3, tăng 5,68% (+1.218 m3) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân sản lượng khai thác gỗ tăng là do công tác khai thác chính của Công ty lâm nghiệp Đắk Tô và khai thác gỗ tận thu trên diện tích chuyển đổi xây dựng thủy điện Thượng Kon Tum huyện Kon Plong, xây dựng đường giao thông huyện Đắk Glei, Tu Mơ Rông.

Lượng củi khai thác là 237.000 ster, giảm  3,07% (-7.495 ster) so cùng kỳ năm trước; bao gồm: Củi tận dụng trên diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng doanh nghiệp khai thác là 2.250 ster; củi các hộ cá thể tự khai thác là 234.750 ster.

c) Thuỷ sản ước tính đến 15/11/2016

Diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính là 617 ha, tăng 8,25% (+47 ha), so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thuỷ sản ước tính là 3.495 tấn, tăng 14,25% (+436 tấn), so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng nuôi trồng nước ngọt ước là 2.090 tấn, tăng 15,21% (+276 tấn), so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng khai thác nước ngọt ước là 1.405 tấn, tăng 12,85% (+160 tấn), so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thuỷ sản tăng so với cùng kỳ năm trước do diện tích nuôi trồng tăng. Bên cạnh đó việc khai thác đánh bắt trên các lòng hồ thủy lợi, thuỷ điện thuận lợi nên các hộ khai thác đã tăng đầu tư phương tiện đánh bắt làm cho sản lượng thuỷ sản tăng lên.

2. Công nghiệp

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 11 năm 2016

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 năm 2016 ước tính tăng 15,99% so cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 11,87%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,16%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao nhất (+26,81%) ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 5,38% so cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2016 ước tính tăng 15,76%. Nguyên nhân chủ yếu do ngành công nghiệp chế biến tăng, đến tháng 11 Công ty Cổ phần Đường Kon Tum bắt đầu thu mua nguyên liệu để sản xuất trở lại sau thời gian nghỉ mùa vụ, bên cạnh các nhà máy sản xuất tinh bột sắn trên địa bàn tỉnh đã hoạt động ổn định, lượng tinh bột sắn sản xuất tăng đã làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến tăng so tháng trước.

- Tình hình hoạt động  sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2016

Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2016 tăng 5,24% so cùng kỳ năm trước; Trong đó tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (+9,07%), ngành khai thác cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải tăng 5,98%; ngành công nghiệp khai thác khoáng sản tăng 4,80%; riêng ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,83% so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do trên địa bàn tỉnh  nắng hạn kéo dài, lượng nước ở các sông, hồ thủy điện giảm thấp nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất.

- Ước tính một số sản phẩm sản xuất trong 11 tháng  năm 2016 như sau: Đá xây dựng khai thác 572.309 m3, tăng 5,33% so cùng kỳ năm trước; Tinh bột sắn ước tính sản xuất 178.680 tấn, giảm 5,85% so cùng kỳ năm trước; lượng đường sản xuất 15.135 tấn, tăng 20,27% so cùng kỳ năm trước; bàn, ghế ước tính sản xuất 210.922 cái, tăng 14,38% so cùng kỳ, điện sản xuất ước tính 649,62 triệu Kwh, giảm 7,82% so cùng kỳ.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10 năm 2016  giảm 11,28% so cùng kỳ năm trước. Trong đó giảm thấp nhất thuộc nhóm ngành sản xuất chế biến thực phẩm (-24,91%), nguyên nhân chính do sản phẩm đường đã tiêu thụ hết các tháng trước, trong tháng lượng tiêu thụ giảm thấp; sản phẩm sản xuất thuộc các ngành còn lại chỉ số tiêu thụ tăng tương ứng theo sản lượng sản xuất ra.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thời điểm 01/11/2016 giảm 26,50% so cùng thời điểm tháng trước; Trong đó ngành chế biến thực phẩm có chỉ số giảm thấp nhất (-60,93%), nguyên nhân chủ yếu do Công ty Cổ phần Đường Kon Tum tạm ngừng sản xuất mùa vụ nên lượng tồn kho giảm mạnh, sản phẩm sản xuất đã tiêu thụ hết từ các tháng trước; các ngành sản xuất khác tình hình tiêu thụ sản phẩm trong tháng tương đối thuận lợi nên chỉ số tồn kho đều giảm.

So cùng thời điểm năm trước chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 10,61%; Riêng ngành sản xuất tinh bột sắn chỉ số tồn kho tăng cao (+64,09%) do thị trường xuất khẩu khó khăn, ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 25,03% do sản lượng sản xuất tăng, lượng sản phẩm nhập kho cao, trong khi đó hiện một số công trình xây dựng chưa tập trung thi công nên lượng tiêu thụ chậm, các ngành còn lại có chỉ số tồn kho giảm so cùng thời điểm năm trước.

Tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong 11 tháng năm 2016 tương đối ổn định, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so cùng kỳ năm trước; năm nay Công ty Cổ phần Đường Kon Tum ngoài nguồn nguyên liệu mía trong tỉnh còn thu mua thêm nguồn nguyên liệu mía ngoài tỉnh để sản xuất, thời gian hoạt động sản xuất kéo dài hơn so với năm trước nên sản phẩm đường sản xuất tăng cao. Thời điểm các nhà máy sản xuất tinh bột sắn đi vào hoạt động trở lại sau thời gian tạm nghỉ mùa vụ có trễ hơn năm trước do nguồn nguyên liệu còn ít, tuy nhiên trong tháng 11 đã hoạt động tương đối ổn định, sản phẩm tinh bột sắn sản xuất đã tăng so cùng kỳ. Ngành sản xuất bàn, ghế đã giảm bớt khó khăn, tình hình tiêu thụ sản phẩm đến thời điểm hiện tại có thuận lợi hơn. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định, lượng sản phẩm tồn kho tháng sau có xu hướng giảm so tháng trước. Đối với ngành sản xuất điện các tháng cuối năm tình hình sản xuất dần ổn định hơn, đến tháng 11 sản lượng điện đã tăng so cùng kỳ năm trước.

3. Vốn đầu tư

a) Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển tháng 11 năm 2016 thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt 106.348 triệu đồng, Chia ra:

- Nguồn vốn Ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 83.258 triệu đồng, chiếm 78,29%  trong tổng số nguồn vốn,  chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, công trình giao thông, giáo dục, y tế, cấp nước sinh hoạt nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới,... Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách tỉnh đạt 15.860 triệu đồng, chiếm  19,05%; Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 38.124 triệu đồng, chiếm 45,79 %; Nguồn vốn ODA  đạt 16.524 triệu đồng, chiếm 19,85%;  Nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 6.890 triệu đồng, chiếm 8,28% và nguồn vốn khác đạt 5.860 triệu đồng, chiếm 7,04% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh.

- Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 23.070 triệu đồng, chiếm 21,69% trong tổng số nguồn vốn,  chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... trên địa bàn các  huyện, thành phố thuộc tỉnh. Trong đó: Nguồn vốn cân đối ngân sách huyện đạt 4.452 triệu đồng, chiếm 19,30%; Nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 14.568 triệu đồng, chiếm 63,15% và nguồn vốn khác đạt 4.050 triệu đồng, chiếm 17,56% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện.

- Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 20  triệu đồng, chiếm 0,02% trên tổng số nguồn vốn.

b) Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển 11 tháng năm 2016 thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt 1.098.883 triệu đồng. Chia ra:

Nguồn vốn Ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 850.186 triệu đồng, chiếm 77,36% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông nông thôn, giáo dục, y tế,... Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách tỉnh đạt 311.286 triệu đồng, nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 380.531 triệu đồng, nguồn vốn ODA đạt 83.104 triệu đồng, nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 39.753 triệu đồng, và nguồn vốn khác đạt 35.512 triệu đồng.

Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt: 247.328 triệu đồng, chiếm 22,51% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh. Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách huyện đạt 100.514 triệu đồng, nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 118.845 triệu đồng, và nguồn vốn khác đạt 27.969 triệu đồng.

Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp xã đạt: 1.369 triệu đồng, chiếm 0,13% trên tổng số nguồn vốn.

Trong  11  tháng  năm  2016 vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, trụ sở UBND các xã, công trình thủy lợi, công trình cấp nước sinh hoạt, công trình giáo dục, y tế… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh.

4.Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 11 năm 2016 đạt 1.120.082 triệu đồng, tăng 1,59% so với tháng trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 925.905,2 triệu đồng, chiếm 82,66% trong tổng mức và tăng 1,68% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 123.160,5 triệu đồng, chiếm 11% trong tổng mức và tăng 1% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 71.016,3 triệu đồng, chiếm 6,34% trong tổng mức và tăng 1,46% so với tháng trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh tháng 11 tăng so tháng trước là do: thời tiết đang vào mùa khô nên thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa và các đơn vị tập trung đầu tư mua nguồn nguyên vật liệu để đẩy nhanh tiến độ sản xuất kinh doanh trong những tháng cuối năm. Mặt khác, trong tháng chuẩn bị cho dịp ngày Lễ hiến chương nhà giáo Việt Nam 20-11, nên nhu cầu mua sắm hàng hóa tiêu dùng sẽ tăng.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính 11 tháng năm 2016 đạt 12.317.122,4 triệu đồng, tăng 11,74% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 10.184.093 triệu đồng, chiếm 82,68% trong tổng mức và tăng 11,68% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 1.360.550,8 triệu đồng, chiếm 11,05% trong tổng mức và tăng 14,18% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 772.478,6 triệu đồng, chiếm 6,27% trong tổng mức và tăng 8,36% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 11 tháng năm 2016 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: Trong những tháng đầu năm, giá cả nhìn chung ít biến động và phù hợp với thu nhập của số đông người tiêu dùng, một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng.

b) Xuất, nhập khẩu

- Xuất khẩu

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tháng 11 năm 2016 đạt 17.539,4 ngàn USD, tăng 7,48% so với số thực hiện tháng trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 12.500 tấn; Tinh bột sắn 2.000 tấn; Dây thun cao su 220 tấn; Bàn ghế các loại 3440 cái; Gỗ các loại 1.129 m3.

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 11 tháng năm 2016 đạt 90.189 ngàn USD tăng 85,85% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước. Chia ra: thành phần kinh tế Nhà nước 2.992,8 ngàn USD, chiếm 3,32% tổng kim ngạch xuất khẩu; thành phần kinh tế tư nhân 87.196,2 ngàn USD, chiếm 96,68% tổng kim ngạch xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 56.085,4 tấn; Sắn và các sản phẩm từ sắn (Tinh bột sắn) 24.235,8 tấn; Gỗ xẻ các loại 9.206,6 m3 ; Dây thun cao su 1.582,6 tấn; Cà phê nhân 1.160,7 tấn; Sản phẩm từ gỗ (bàn, ghế các loại) 137.908 cái. Bánh kẹo các loại 38,4 tấn; Rau củ quả 60,6 tấn; Ván bóc 385,1 m3; sắt thép 13,1 tấn.

- Nhập khẩu

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tháng 11 năm 2016 đạt 245 ngàn USD tăng 6,52% so với số thực hiện tháng trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: linh kiện máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh.

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn 11 tháng năm 2016 đạt 2.856 ngàn USD chỉ bằng 25,93% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 7.107 m3; Khoá thẻ Adel các loại 490 cái; Chất dẻo nguyên liệu (Precipitated Silica) 80 tấn; cà phê nhân 660 tấn; linh kiện máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân: tổng kim ngạch nhập khẩu ước tính 11 tháng năm 2016 giảm so với cùng kỳ năm trước là do lượng nhập khẩu mặt hàng gỗ giảm mạnh làm cho kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước.  

c) Chỉ số giá

Ước tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 năm 2016 tăng 0,24% so với tháng trước; tăng 2,68% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,61% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân tác động chủ yếu là do giá xăng, dầu, ga tăng.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, so với tháng trước có 06 nhóm tăng: nhóm Đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,07%; nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và Vật liệu xây dựng tăng 0,46%; nhóm Giao thông tăng 1,75%; nhóm Văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,01%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%. Có 03 nhóm ổn định: nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; nhóm Bưu chính viễn thông; nhóm Giáo dục. Có 02 nhóm giảm: nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,01%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,01%;

 Trong các nhóm hàng hóa tăng, tăng cao nhất là nhóm Giao thông (tăng 1,75%), ảnh hưởng chủ yếu là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng 02 đợt vào ngày 20/10/2016 và ngày 04/11/2016 làm cho giá xăng A95 tăng 3,59%, xăng A92 tăng 3,721%, dầu diezen tăng 4,88%; nhóm tăng tiếp theo là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 0,46%), là do giá ga tăng 5,77%, giá dầu hỏa tăng 4,76%. Trong 02 nhóm giảm nhẹ thì nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm do ảnh hưởng chủ yếu là giá mặt hàng gạo giảm 0,12%, nguyên nhân là trên địa bàn tỉnh người dân đang thu hoạch đại tra lúa Vụ mùa nên làm cho giá gạo giảm.

d) Vận tải

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 11 năm 2016

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 11 năm 2016 đạt 106.782,36 triệu đồng, tăng 0,47% so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 41.137,23 triệu đồng, tăng      0,32%; Vận chuyển ước tính đạt 793,89 nghìn lượt khách, tăng 0,76%; Luân chuyển ước tính đạt 99.646,52 nghìn lượt khách.km, tăng 0,73%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 65.224,24 triệu đồng, tăng 0,56%; Vận chuyển ước tính đạt 784,45 nghìn tấn, tăng 0,72%; Luân chuyển ước tính đạt 38.328,65 nghìn tấn.km, tăng 0,38%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước tính đạt 420,89 triệu đồng, tăng 1,19%.

Hoạt động vận tải hành khách, vận tải hàng hóa trong tháng có chiều hướng tăng nhẹ so với tháng trước là do nhu cầu đi lại của người dân tăng; hoạt động vận tải hàng hóa phục vụ ngành xây dựng và vận chuyển sản phẩm ngành nông nghiệp tăng trở lại sau các tháng mùa mưa.

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính 11 tháng năm 2016

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 11 tháng năm 2016 đạt 1.191.202,1 triệu đồng, tăng 11,3 % so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 452.345,52 triệu đồng, tăng 12,43%; Vận chuyển ước tính đạt 8.767,05 nghìn lượt khách, tăng 10,9%; Luân chuyển ước tính đạt 1.108.996,02 nghìn lượt khách.km, tăng 8,94%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 734.309,16 triệu đồng, tăng  10,58%; Vận chuyển ước tính đạt 8.745,52 nghìn tấn, tăng 11,18%; Luân chuyển ước tính đạt 434.501,53 nghìn tấn.km, tăng 12,23%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước tính đạt 4.547,42 triệu đồng, tăng 17,7%.

5. Một số vấn đề xã hội 

a) Y Tế tháng 10/2016

- Tình hình dịch bệnh:

Bệnh tay - chân - miệng: Trong tháng, ghi nhận 51 ca mắc mới (Sa Thầy 07, Đắk Glei 10, Đắk Hà 18, TP Kon Tum 04, Kon Rẫy 01, Tu Mơ Rông 01, Ia H’Drai 09, Đắk Tô 01), bằng so với tháng trước và tăng 22 ca so với tháng 10/2015. Lũy tích đến 31/10/2016, ghi nhận 331 ca mắc, tăng 240 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng, ghi nhận 268 ca mắc mới (TP Kon Tum 87, Đắk Hà 43, Đắk Tô 40, Ngọc Hồi 44, Đắk Glei 35, Sa Thầy 06, Kon Rẫy 13), giảm 190 ca so với tháng trước và tăng 226 ca so với tháng 10/2015, không có trường hợp tử vong. Lũy tích đến 31/10/2016, ghi nhận 3.112 ca mắc, tăng 2.981 ca (gấp 23,8 lần) so với cùng kỳ năm trước, 02 trường hợp tử vong.

Bệnh thủy đậu: Trong tháng, ghi nhận 04 ca mắc mới (Sa Thầy 03,  Đắk Hà 01), giảm 07 ca so với tháng trước và giảm 33 ca so với tháng 10/2015. Lũy tích đến 31/10/2016, ghi nhận 627 ca mắc, giảm 24 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Bệnh quai bị: Trong tháng, ghi nhận 13 ca mắc mới (Đắk Hà 04, Đắk Tô 02, TP Kon Tum 03, Ngọc Hồi 02, Đắk Glei 01, Kon Plông 01), giảm 01 ca so với tháng trước, giảm 68 ca so với 10/2015. Lũy tích đến 31/10/2016, ghi nhận 537 ca mắc, giảm 73 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Bệnh Viêm não Nhật Bản: Trong tháng, không ghi nhận ca mắc mới. Lũy tích đến 31/10/2016, ghi nhận 05 ca mắc, tăng 5 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Sốt rét: Trong tháng, ghi nhận 16 ca mắc mới, giảm 4 ca với tháng trước và giảm 14 ca so với tháng 10/2015. Lũy tích đến 31/10/2016, ghi nhận 255 ca mắc, giảm 159 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Tổng số bệnh nhân lao mới phát hiện trong tháng 27 bệnh nhân (AFB (+): 14; AFB(-): 5; lao ngoài phổi: 4; ngoài phổi: 9), tăng 11 bệnh nhân so với tháng trước. Tổng số bệnh nhân tâm thần mới phát hiện 17 người (tâm thần phân liệt: 6; động kinh: 12; trầm cảm: 01).

Nhìn chung, trong tháng tình hình mắc các bệnh sốt xuất huyết, tay - chân - miệng, viêm não Nhật Bản, thủy đậu, quai bị, sốt rét giảm so với tháng trước, nhưng ghi nhận 01 trường hợp viêm gan vi rút A (thôn Konhơngo Ktu, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum) và 20 trường hợp bị sốt, đau cơ kéo dài chưa rõ nguyên nhân (thôn Ngọc Yên, xã Đắk Sú, huyện Ngọc Hồi; không ghi nhận mắc mới các bệnh bạch hầu, cúm A (H5N1, H7N9, H1N1) ở người, Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona (MERS-CoV), bệnh do vi rút Zika.

Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng ghi nhận 02 trường hợp nhiễm HIV mới, 03 bệnh nhân AIDS, 04 bệnh nhân tử vong. Lũy tích nhiễm HIV/AIDS tính đến ngày 31/10/2016 là 425 người, trong đó bệnh nhân AIDS 241, tử vong 154. Tổng số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị thuốc ARV 89 người (người lớn: 85 và trẻ em: 4), đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone cho 69 bệnh nhân.

- An toàn vệ sinh thực phẩm

Trong tháng, không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm, tổng số ca mắc lẻ tẻ là 26 ca, chủ yếu do ăn uống không đảm bảo vệ sinh. Tính đến 31/10/2016 có 04 vụ ngộ độc thực phẩm với 25 người mắc; không có trường hợp tử vong.

Kiểm tra an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và các trường, đơn vị và các doanh nghiệp có tổ chức bếp ăn tập thể trên địa bàn tỉnh, kết quả: Tổng số cơ sở được kiểm tra 418 cơ sở, trong đó số cơ sở đạt 315 cơ sở (chiếm 76,1%), xử phạt vi phạm hành chính 06 cơ sở (tổng số tiền phạt 3,5 triệu đồng).

Kiểm nghiệm bằng Test nhanh 373 mẫu thực phẩm; trong đó có 369 mẫu âm tính và 04 mẫu dương tính (với các chỉ tiêu thuốc trừ sâu, độ sạch bát đĩa, hàn the).

Khám chữa bệnh: Tình hình bệnh nhân đến khám, chữa bệnh trong tháng giảm so với tháng trước (0,6%), trong đó chủ yếu Phòng khám Đa khoa khu vực giảm (9,2%), các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện và trạm y tế tương đương so với tháng trước. Số lượt bệnh nhân điều trị nội trú 7.624 lượt người, tăng 1% so với tháng trước; công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các bệnh viện đạt 119% (giảm 1,9% so với cùng kỳ tháng trước). Một số bệnh viện tuyến huyện quá tải như: Bệnh viện huyện Đắk Hà 215,2%; Bệnh viện huyện Đắk Tô 145,3%; Bệnh viện huyện Đắk Glei 156,9% và Bệnh viện huyện Sa Thầy 147,2%.

- Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em:

Tổ chức giám sát hoạt động của Dự án Cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em tại vùng hạn hán/xâm nhập mặn tại các huyện Đắk Glei, Tu Mơ Rông, Sa Thầy, Kon Plông và Kon Rẫy.

Tiêm chủng tính đến 31/10/2016: Tình hình tiêm chủng mở rộng vẫn tiếp tục chưa đạt theo tiến độ kế hoạch năm đưa ra: Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ đạt 79,6%; tiêm phòng uốn ván UV2+ (02 mũi trở lên) cho phụ nữ có thai đạt 68,8%; tiêm phòng uốn ván UV2+ cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt 66,6%; không có trường hợp nào xảy ra tai biến sau tiêm chủng.

b) Giáo dục

Với mục đích tuyển chọn, công nhận và tôn vinh giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi các cấp THCS và THPT, giáo viên dạy giỏi Chương trình giáo dục thường xuyên, tạo điều kiện để giáo thể hiện năng lực, học tập, trao đổi kinh nghiệm về giảng dạy; tổ chức lớp học; khai thác sử dụng sáng tạo, hiệu quả phương tiện, đồ dùng dạy học; thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông, Chương trình giáo dục thường xuyên, đồng thời góp  phần triển khai các phong trào thi đua trong trường học; khuyến khích, động viên, tạo cơ hội để giáo viên tự học và sáng tạo. Ngày 03/10/2016 Sở GDĐT Kon Tum đã ban hành Kế hoạch 52/KH-SGDĐT về việc tổ chức hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh cấp THCS, THPT- Năm học 2016-2017.

c) Hoạt động văn hóa, thể thao

Ngày 13/11, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội thi cồng chiêng – xoang với sự tham gia của 330 học sinh dân tộc thiểu số ở 9 trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn các huyện và thành phố Kon Tum. Hội thi là hoạt động thiết thực giáo dục học sinh về văn hóa truyền thống các dân tộc Tây Nguyên, đồng thời hướng đến chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2016).

d) Tình hình an ninh trật tự - an toàn giao thông

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 10/2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 26 vụ (giảm 18 vụ so với tháng trước). Trong đó: tàng trữ mua bán trái phép chất ma túy 06 vụ, trộm cắp tài sản 07 vụ, cố ý gây thương tích 04 vụ, hủy hoại tài sản 02 vụ, tàng trữ vũ khí trái phép 01 vụ, hiếp dâm 01 vụ, hiếp dâm trẻ em 01 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, chống người thi hành công vụ 01vụ, đánh bạc 01 vụ. Hậu quả: Bị thương 06 người. Thiệt hại: Mất một số tài sản khác trị giá khoảng 300.000.000 đồng. Thu giữ 03 khẩu súng, 01 quả lựu đạn, 1.600.000 đồng tiền mặt và một số tang vật khác có liên quan.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 06 vụ (tăng 02 vụ so với tháng trước). Hậu quả: Chết 08 người (tăng 04 người), bị thương 09 người. Thiệt hại hư hỏng 02 xe ô tô, 09 xe mô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 1.651 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 467 phương tiện, 646 giấy tờ xe các loại; trong tháng đã xử phạt hành chính 1.898 trường hợp, thu 871.595.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Tình hình ANTT – ATGT 10 tháng năm 2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 327 vụ. Trong đó: Giết người 06 vụ, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ, cố ý gây thương tích 68 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 06 vụ, cố ý gây thương tích + cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản 138 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 04 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 06 vụ, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cưỡng đoạt tài sản 02 vụ, tàng trữ mua bán trái phép chất ma túy 22 vụ, đánh bạc 21vụ, gây rối trật tự công cộng 05 vụ, vận chuyển buôn bán hàng cấm 04 vụ, cướp giật tài sản 02 vụ, cướp tài sản 05 vụ, cưỡng đoạt tài sản 02 vụ, trốn khỏi nơi giam giữ 01 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 04 vụ, hiếp dâm 15 vụ (trong đó hiếp dâm trẻ em 07 vụ), giao cấu với trẻ em 04 vụ, môi giới mại dâm 01 vụ, hủy hoại tài sản 09 vụ, tàng trữ  trái phép vũ khí quân dụng 02 vụ, chống người thi hành công vụ 01vụ, vận chuyển lâm sản trái pháp luật 01 vụ, vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ 01 vụ. Hậu quả: Chết 07 người, bị thương 83 người. Thiệt hại: mất 02 xe ô tô, 49 xe mô tô, 01 ti vi, 30 ĐTDĐ, 02 bộ máy tính để bàn, 02 laptop, 1.200 USD, 4.305.320.000 đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 2.340.734.000 đồng. Thu giữ: 6,282m3 gỗ các loại, 13 xe mô tô, 23 ĐTDĐ, 01 mã tấu, 03 khẩu súng, 01 quả lựu đạn, 3,528 gam ma túy tổng hợp, 52 gói ma túy, 1,534 gam heroin, 10,45 kg pháo nổ, 1.540 gói thuốc lá, 09 quả pháo, 01 hộp pháo (loại 36 ống) và 193.980.000 đồng tiền mặt.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 58 vụ. Hậu quả: Chết 62 người, bị thương 48 người, hư hỏng 33 xe ô tô, 70 xe mô tô, 01 máy cày, 01 máy kéo.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 16.571 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 6.916 phương tiện, 8.010 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 18.561 trường hợp, thu 6.963.384.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

e) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng xảy ra 03 vụ cháy, trong đó: cháy nhà dân 02 vụ, cháy doanh nghiệp 01 vụ. Hậu quả bị thương 01 người, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 150 triệu đồng, nguyên nhân do sơ suất trong dùng lửa 01vụ, chập điện 01 vụ, cố ý hủy hoại tài sản 01 vụ. Lũy kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 24 vụ cháy, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 2.672 triệu đồng.

G. TIN TỨC- SỰ KIỆN

I. TIN TRONG TỈNH

1. Sáng 15-11, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh tổ chức Lễ phát động hưởng ứng "Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới " năm 2016.

Tham dự buổi Lễ có gần 900 đại biểu là lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; UBND các huyện, thành phố; thành viên Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh và đại diện Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các sở, ban, ngành, đoàn thể, các huyện, thành phố; lực lượng vũ trang; cán bộ, công chức, viên chức, học sinh,  sinh viên và nhân dân trên địa bàn tỉnh. Đồng chí Lại Xuân Lâm - TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đến dự và phát biểu chỉ đạo.

Đây là năm đầu tiên cả nước triển khai Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam, thời gian từ ngày 15/11/-15/12, với chủ đề “Chung tay xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái”, với mục đích huy động sự tham gia vào cuộc một cách đồng bộ, mạnh mẽ của các cơ quan, tổ chức và mọi người dân trong cộng đồng, đặc biệt là nam giới trong việc thực hiện bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái.  

Phát biểu chỉ đạo tại buổi Lễ, đồng chí Lại Xuân Lâm yêu cầu các cấp, các ngành tập trung triển khai thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ được UBND tỉnh giao tại Kế hoạch số 738/KH-UBND ngày 13/4/2016 về thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, giai đoạn 2016-2020 và Công văn số1620 /UBND-KGVX ngày 18/7/2016 về thực hiện Quy chế phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh; tổ chức các hoạt động truyền thông, vận động phù hợp với  địa phương, đơn vị. Các cơ quan thông tấn, báo chí thường xuyên và kịp thời phản ánh việc triển khai Kế hoạch phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái nói riêng và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh nói chung.

Ngoài ra, đồng chí đề nghị mọi người dân, đặc biệt là nam giới hãy tích cực tham gia hưởng ứng Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới bằng những việc làm, hành động cụ thể  thiết thực như: kịp thời lên án đối với hành vi phân biệt đối xử, bạo lực trên cơ sở giới, coi việc tôn trọng và bảo vệ phụ nữ là thái độ sống, văn hóa ứng xử hàng ngày; đồng thời mong muốn tất cả mọi phụ nữ và trẻ em gái cần xóa bỏ mặc cảm, tự ti bản thân, tự mình phấn đấu trong học tập, lao động, tiếp thu kiến thức, kỹ năng để tự bảo vệ mình; mạnh mẽ lên tiếng khi bị  phân biệt đối xử, bạo lực.

2. Sáng 17-11, thay mặt Thường trực Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh, đồng chí Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Ban Dân Vận Tỉnh ủy và Văn phòng Tỉnh ủy đã tới thăm, chúc mừng cán bộ, công chức Ủy ban MTTQVN tỉnh nhân Kỷ niệm 86 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất (18/11/1930 - 18/11/2016).

Thay mặt lãnh đạo tỉnh, đồng chí Nguyễn Văn Hòa ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương những kết quả mà UBMTTQVN tỉnh đạt được trong năm qua, đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đảm bảo an sinh xã hội, góp phần lớn thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và công tác xây dựng Đảng tại địa phương. Mong rằng, trong thời gian tới, UBMTTQVN tỉnh tiếp tục phát huy vai trò, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" nói chung và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng những tháng còn lại của năm 2016 và trong năm 2017 tới của tỉnh nói riêng. Kính chúc cán bộ, công chức UBMTTQVN tỉnh dồi dào sức khỏe, gia đình hạnh phúc.

Báo cáo sơ bộ tình hình hoạt động của UBMTTQVN tỉnh năm 2016 và phương hướng trong năm 2017, Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh Trần Bình Trọng thay mặt cán bộ, công chức UBMTTQVN tỉnh chân thành cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ của lãnh đạo tỉnh thời gian qua đã góp phần lớn vào sự thành công trong năm 2016 của UBMTTQVN tỉnh; hứa trong năm 2017 tới tiếp tục phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

3. Kỷ niệm 34 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982-20/11/2016), các đồng chí lãnh đạo tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành và các địa phương đã đến thăm, chúc mừng cán bộ, giáo viên, công nhân viên Ngành Giáo dục trên địa bàn. 

* Dịp này, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh tổ chức Lễ kỷ niệm 34 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982-20/11/2016).

Tại buổi lễ, các đại biểu đã ôn lại truyền thống 34 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 -20/11/2016). Trong thời gian qua, đội ngũ nhà giáo trên địa bàn tỉnh đã đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần tích cực cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế -xã hội, an ninh quốc phòng địa phương.

Tiếp tục sự nghiệp giáo dục trong tình hình mới, ngành Giáo dục và đào tạo tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, kêu gọi đội ngũ cán bộ và giáo viên đoàn kết, đồng lòng và nỗ lực thực hiện sứ mệnh “trồng người”. Trong đó, tập trung triển khai một số giải pháp gắn với thực tế công tác hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về giáo dục và đào tạo; nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý giáo dục các cấp; tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục…

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, đồng chí Lại Xuân Lâm chúc mừng đội ngũ cán bộ, nhà giáo, nhân viên toàn ngành sức khỏe, hoàn thành cao nhất nhiệm vụ được giao. Phát huy những thành tích giáo dục đã đạt được, thời gian tới, ngành tiếp tục vượt khó, triển khai đạt và vượt mức các chỉ tiêu nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra trong công tác giáo dục và đào tạo.

Nhân dịp này, có 4 trường học, 10 giáo viên và học sinh có thành tích xuất sắc trong công tác giảng dạy, học tập được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã trao quà tri ân 58 nhà giáo ưu tú, cán bộ quản lý, giáo viên nghỉ hưu tiêu biểu.  

* Trước đó, Lễ tri ân các thầy giáo và cô giáo nghỉ hưu tiêu biểu đã được Hội Cựu giáo chức tỉnh tổ chức nhân kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11).

4. Sáng 25-11, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn tỉnh về học tập, quán triệt Quy định số 29-QĐ/TW, ngày 25-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương và Hướng dẫn số 01-HD/TW, ngày 20-9-2016 của Ban Bí thư Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng. Đồng chí Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị, tại điểm cầu cấp tỉnh có Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy A Pớt; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV; trưởng, phó các ban của HĐND tỉnh và các ban tham mưu Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo và cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ ở các sở, ban ngành, Mặt trận và các đoàn thể tỉnh.

Tại điểm cầu cấp huyện, có các đồng chí cấp ủy viên, lãnh đạo các ban tham mưu của cấp ủy; bí thư, phó bí thư các tổ chức cơ sở Đảng.

Các đại biểu dự Hội nghị đã được tiếp thu quán triệt những điểm mới được quy định tại Quy định số 29-QĐ/TW, ngày 25-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII và một số vấn đề cụ thể về thi hành Điều lệ Đảng (theo Hướng dẫn 01-HD/TW, ngày 20-9-2016) so với các quy định, hướng dẫn trước đây.

Quy định số 29-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về thi hành Điều lệ Đảng kế thừa những nội dung cơ bản của quy định trong nhiệm kỳ trước (Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng); sửa đổi, bổ sung một số nội dung còn thiếu, chưa cụ thể, chưa rõ, những nội dung đã được chứng minh, tổng kết qua thực tiễn là phù hợp, cụ thể về: Bố cục và kết cấu của quy định, tuổi đời và trình độ học vấn của người vào Đảng, quyền của đảng viên, đối tượng không xem xét kết nạp, thời gian công nhận đảng viên chính thức, quản lý hồ sơ đảng viên,  xóa tên đảng viên, thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nhiệm vụ của đoàn Chủ tịch Đại hội và báo cáo kết quả Đại hội.

Hướng dẫn số 01-HD/TW có một số nội dung mới được bổ sung, sửa đổi, được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội dung còn phù hợp của Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 5-1-2012 của Ban Bí thư khóa XI; bổ sung một số nội dung mới để đồng bộ với Quy định số 29-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng; diễn đạt lại những nội dung mà Hướng dẫn nhiệm kỳ trước chưa đề cập hoặc thể hiện chưa rõ; những vấn đề qua thực tiễn thi hành Điều lệ Đảng thấy cần thiết phải bổ sung để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng. Quy định mới cũng sửa đổi, điều chỉnh một số câu, chữ cho rõ nghĩa, súc tích hơn, hoặc thống nhất cách trình bày, diễn đạt với các văn bản của Đảng, Nhà nước mới được ban hành như: Cương lĩnh, Hiến pháp 2013, Quy chế bầu cử trong Đảng; Quy chế làm việc, Quy chế bầu cử tại Đại hội XII của Đảng; Luật Tổ chức chính quyền địa phương…

Phát biểu tại hội nghị, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Y Mửi nhấn mạnh: Việc quán triệt Quy định 29-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương và Hướng dẫn 01-HD/TW của Ban Bí thư tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động cho các tổ chức đảng, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ nghiệp vụ làm công tác đảng từ cấp tỉnh đến chi bộ nắm vững và thực hiện thống nhất, có hiệu quả về thi hành Điều lệ Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đảm bảo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp.

II. TIN TRONG NƯỚC

1. Một số nội dung căn bản, cốt lõi trong phong cách Hồ Chí Minh

Phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện ở mọi lĩnh vực  trong đời sống và hoạt động của Người; có giá trị khoa học, đạo đức và thẩm mỹ; phát triển theo logich đi từ suy nghĩ (phong cách tư duy) đến nói viết (phong cách diễn đạt) và biểu hiện qua phong cách làm việc, phong cách lãnh đạo, phong cách ứng xử và phong cách sinh hoạt hàng ngày.

Về phong cách tư duy, bao gồm: phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại; phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo; phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình. Hồ Chí Minh luôn biết xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, những "lẽ phải không ai chối cãi được” để nhận thức và lý giải những vấn đề của thực tiễn.

Về phong cách làm việc, bao gồm: phong cách làm việc khoa học. Hồ Chí Minh yêu cầu làm việc gì cũng phải điều tra, nghiên cứu, thu thập thông tin, số liệu, để nắm chắc thực chất tình hình, “Đảng có hiểu rõ tình hình, thì đặt chính sách mới đúng”; phong cách làm việc có kế hoạch. Người dạy, trong việc đặt kế hoạch “không nên tham lam, phải thiết thực, vừa sức, từ thấp đến cao”, “chớ làm kế hoạch đẹp mắt, to tát, kể hàng triệu, nhưng không thực hiện được”; phong cách làm việc đúng giờ. Hồ Chí Minh quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Người thường không để ai phải đợi mình, chủ động đến trước nếu có thể; phong cách đổi mới, sáng tạo, không chấp nhận lối cũ, đường mòn. Người nói: Tư tưởng bảo thủ như là sợi dây cột chân, cột tay người ta… Muốn tiến bộ phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm. 

Về phong cách lãnh đạo, thể hiện qua việc: tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đi đúng đường lối quần chúng, “lắng nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”. Theo Người, phải biết động viên, khuyến khích “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, tức là phải làm cho cấp dưới không sợ nói sự thật và cấp trên không sợ nghe sự thật; phải tổ chức việc kiểm tra, kiểm soát cho tốt. Trong giai đoạn 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955-1965), không quản tuổi cao, công việc bề bộn, Người đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội…, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào và xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Về phong cách nêu gương, Người đòi hỏi, mỗi cán bộ, đảng viên phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc, mọi nơi, nói phải đi đôi với làm để quần chúng noi theo.

Về phong cách diễn đạt, được thể hiện qua: cách nói, cách viết giản dị, cụ thể, thiết thực; diễn đạt ngắn gọn, cô đọng, hàm súc, trong sáng và sinh động, có lượng thông tin caoBác Hồ thường viết ngắn: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Chỉ với 9 chữ mà Bác đã khái quát được cả ba giai đoạn đầy biến động của đất nước. Nhiều câu Bác đúc kết lại như châm ngôn: “Nước lấy dân làm gốc”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, v.v... ; sinh động, gần gũi với cách nghĩ của quần chúng, gắn với những hình ảnh ví von, so sánh cụ thể. Người dùng hình ảnh “con đỉa hai vòi” để nói về bản chất của chủ nghĩa đế quốc; hoặc ví “lý luận như cái tên, thực hành như cái đích” để bắn; v.v...; phong cách diễn đạt của Bác luôn luôn biến hóa, nhất quán mà đa dạng. Bác dạy: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tuởng và lòng ước ao của quần chúng”.

Về phong cách ứng xử, được thể hiện qua việc: khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp; chân tình, nồng hậu, tự nhiên; linh hoạt, chủ động, biến hóa; vui vẻ, hòa nhã, xóa nhòa mọi khoảng cách.... Với phong cách ứng xử đó đã lý giải vì sao, mỗi khi Bác Hồ xuất hiện ở đâu là ở đó rộn lên niềm vui và tiếng cười hồ hởi không dứt.

Về phong cách sinh hoạt, bao gồm: phong cách sống cần kiệm, liêm chính; phong cách sống hài hòa, nhuần nhuyễn giữa văn hóa Đông –Tây, nhưng luôn giữ vững, yêu quý và tự hào về văn hóa Việt Nam; tôn trọng quy luật tự nhiên, gắn bó với thiên nhiên.

2. Một số tình hình an ninh chính trị, hoạt động tôn giáo đáng chú ý thời gian gần đây

Thời gian gần đây, các đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ và Cam-pu-chia tiếp tục chỉ đạo một số người được cho là “lãnh đạo cốt cán” của nhóm FULRO trên địa bàn các tỉnh Phú Yên, Gia Lai, Đắk Lắk, tăng cường lôi kéo người tham gia “Tin lành Đềga”; thu thập, khai thác các thông tin liên quan đến người dân tộc thiểu số, nhất là những người mới ra tù để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm “nhân quyền, tự do tôn giáo”. Đáng chú ý có hai đối tượng ở Mỹ (Y Wy Va và Y Nghi Niê) lợi dụng về thăm thân tại huyện Cư Jút (Đắk Nông) đã tuyên truyền: “Quỹ người Thượng” ở Mỹ phục hồi các chức danh “Tỉnh trưởng, Phó Tỉnh trưởng FULRO” và trợ cấp tiền hàng quý cho số cốt cán tù nhân chính trị từng tham gia biểu tình tại Tây Nguyên năm 2001, 2004… Ngoài ra, họ còn lôi kéo, dụ dỗ sinh viên là người dân tộc thiếu số tham gia hoạt động ngầm cho tổ chức FULRO với chiêu bài làm thẻ thanh toán toàn cầu của Ngân hàng ANZ cho những người này, hứa sẽ được tổ chức ở hải ngoại cung cấp kinh phí hoạt động. Đến nay, đã có 151 người ở Đắk Lắk đăng ký tham gia làm thẻ ANZ chờ tiền trợ cấp của FULRO.

- Tổ chức “Việt Tân”, các tổ chức tự nhận là “xã hội dân sự ở Việt Nam” lợi dụng các vụ việc, như: Chính phủ công bố nguyên nhân cá chết tại 04 tỉnh miền Trung, việc Trung Quốc thiết lập Tổng lãnh sự quán tại Đà Nẵng, vụ máy bay Su-30MK2 và CASA 212 gặp nạn, vấn đề đến bù giải tỏa, tranh chấp đất đai… để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, kêu gọi biểu tình, đòi “tự do ngôn luận, dân chủ, nhân quyền”, đòi “phi chính trị hóa quân đội”, “đa nguyên, đa đảng”. Chúng còn vu cáo Đảng, Nhà nước ta thiếu minh bạch trong xử lý vi phạm của Formosa, đàn áp người biểu tình “Vì môi trường”, bao che cho công ty Formosa và các cá nhân có liên quan đến dự án này… Đáng chú ý là, ngày 11/9/2016 tại Nhà thờ Dòng họ cứu thế (số 38 Kỳ Đồng, quận 3, Tp Hồ Chí Minh) có khoảng 20 đối tượng thuộc “Việt Tân”, “Hội Nhà báo độc lập” và “Mạng lưới blogger Việt Nam” đã họp bàn cách lợi dụng những vấn đề nhạy cảm để đẩy mạnh việc chống phá chính quyền Việt Nam. Chủ trì, điều hành cuộc họp (qua mạng) là Nguyễn Kim, thành viên của tổ chức Việt Tân đang ở Mỹ. Tại cuộc họp này chúng đã đưa ra nhiều thủ đoạn rất cụ thể cho các thành viên nhằm chống phá chính quyền Việt Nam.

- Tại chùa Bửu Sơn Tự, Xuân Lộc, Xuân Cầu, Phú Yên, cơ quan chức năng phát hiện Trần Văn Cu (sinh năm 1970), trụ trì chùa, tổ chức lễ kỷ niệm 77 năm Ngày “Đức Huỳnh Giáo Chủ” (người khai sáng Phật giáo Hòa Hảo), có 193 đạo hữu và hơn 60 người dân địa phương tham dự. Đáng chú ý là, tại buổi lễ, người trụ trì đã xuyên tạc, cho rằng “cái chết của Đức Huỳnh Giáo Chủ là có sự sắp xếp, chỉ đạo của Cộng sản” (!?)…“sống trong chế độ này bị mất tự do, dân chủ cũng không có…” (!).

- Gần đây, mục sư Thào A Tán và mục sư Vừ Giả Thào (đạo Tin lành khu vực Tây Bắc) đã liên kết thành lập 7 nhóm với tên gọi “đội tự vệ Tin lành người Mông”, mỗi đội có 01 đội trưởng và 4 đội viên. Nhiệm vụ của đội được giao là đấu tranh đòi quyền dân chủ, tự do tôn giáo. Đáng chú ý là, trong số các đội trưởng của đội tự vệ này, nhiều người đang tham gia chính quyền cơ sở làm công an viên hoặc trưởng thôn. Đội trưởng được cấp 1.000.000 đồng/tháng, mỗi đội tự vệ được cấp 1 máy tính xách tay, 1 xe máy. Thời gian tới, họ dự định sẽ triển khai nhân rộng mô hình này tới tất cả các Hội thánh Tin lành ở khu vực Tây Bắc.

Để đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các vấn đề xã hội, dân tộc, tôn giáo nhằm gây rối, làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước, đề nghị cấp ủy, chính quyền các cấp cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và tuyên truyền rộng rãi về đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta theo tinh thần Nghị quyết của Đại hội XII. Chú trọng việc triển khai thực hiện đầy đủ các chính sách về dân tộc, tôn giáo, theo phương châm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tôn giáo, chống kỳ thị chia rẽ.

Hai là, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo. Đẩy nhanh tiến độ và thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc, vùng tôn giáo, tạo mọi điều kiện giúp đỡ đồng bào các dân tộc, các tôn giáo xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc, khắc phục sự chênh lệch về đời sống, về phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, các tôn giáo.

Ba là, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, nhất là những người có uy tín, có chức sắc trong các dân tộc, các tôn giáo tham gia công tác vận động, thuyết phục. Đối với những người nhẹ dạ cả tin nghe theo kẻ xấu thì kiên trì thuyết phục, vận động họ quay về với cộng đồng không để kẻ địch lợi dụng họ để chống phá Đảng, Nhà nước. Đối với những đối tượng cố tình chống phá Đảng, Nhà nước thì kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

3. Tình hinh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (giai đoạn 2010-2015) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp 

Một số kết quả đã đạt được:

Sau 5 năm thực hiện (2010 – 2015), các tiêu chí Chương trình xây dựng nông thôn mới được cải thiện rõ rệt so với năm 2011. Tính đến tháng 3/2016, cả nước có 1.761 xã (chiếm 19,7%) đạt tiêu chí nông thôn mới (gồm 19 tiêu chí); 1.223 xã (chiếm 13,7%) đạt từ 15 - 18 tiêu chí; 3.355 xã (chiếm 37,5%) đạt từ 10 - 14 tiêu chí; 2.270 xã (chiếm 25,4%) đạt từ 5 - 9 tiêu chí và 326 xã (chiếm 3,6%) đạt dưới 5 tiêu chí. Đến tháng 9/2016, đã có 2.045 xã (chiếm 23%), 24 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới.

Tỉ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm từ 50,1% năm 2011 xuống còn dưới 28% năm 2015. Riêng những xã đã đạt tiêu chí nông thôn mới, mức thu nhập bình quân đầu người tăng từ 16 triệu đồng năm 2011 lên 28,4 triệu đồng năm 2015, tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 11,6% xuống còn 3,6%.

Sau hơn 2 năm thực hiện đề án tái cơ cấu, ngành nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá, giá trị ngành trồng trọt năm 2013 tăng 3%, năm 2014 tăng 3,2%, năm 2015 tăng 1,6% (so với năm trước); năng suất, chất lượng và giá trị nhiều loại sản phẩm đã được nâng cao; thu nhập bình quân/ha đất trồng trọt năm 2014 đạt khoảng 78,7 triệu đồng, năm 2015 đạt 82,5 triệu đồng. Tỉ trọng giá trị ngành chăn nuôi trong tổng giá trị nông nghiệp tăng lên, sản phẩm chăn nuôi cơ bản đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và bước đầu cho xuất khẩu. Năm 2015, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,55 triệu tấn (tăng 3,4%).

Những khó khăn thách thức:

Một số văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành để triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia, xây dựng nông thôn mới còn chậm, thiếu đồng bộ. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực xã hội cho Chương trình còn thấp so với yêu cầu, chưa bảo đảm theo quy định. Một số địa phương chưa có hoặc chỉ có 1 đến 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới; chưa chú trọng đầu tư phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao thu nhập người dân và xây dựng đời sống văn hoá, bảo vệ môi trường…

Phát huy những kết quả đạt được, nghiêm túc rút kinh nghiệm những mặt còn hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015, các cấp, các ngành cần tiếp tục triển khai nhiều giải pháp để hoàn thành mục tiêu của Chương trình trong giai đoạn 2016 – 2020, đó là: (1) Đến năm 2020 số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; (2) Bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã ; cả nước không còn xã dưới 5 tiêu chí; (3) Cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn: giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã; (4) Nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; tạo nhiều mô hình sản xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015.

4. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm sự phát triển bền vững chính sách bảo hiểm xã hội

Tính đến hết tháng 10/2016, tổng số người tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là 74,6 triệu người, trong đó: BHXH bắt buộc 12,7 triệu người, BHXH tự nguyện 200 nghìn người, BHTN 10,9 triệu người, BHYT 74,4 triệu người, đạt tỉ lệ bao phủ 79,8% dân số cả nước. Tổng số kinh phí thu từ BHXH, BHYT, BHTN là 194 nghìn tỷ đồng, đạt 76,5% so với kế hoạch năm, trong đó: Thu BHXH 131 nghìn tỷ đồng, đạt 77,3% kế hoạch năm; Thu BHTN 9.000 tỷ đồng, đạt 78,9% kế hoạch; Thu BHYT 53 nghìn tỷ đồng, đạt 75% kế hoạch năm. Tổng tiền chi cho thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN là 192 nghìn tỷ đồng (tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2015), trong đó: Chi BHXH là 132 nghìn tỷ đồng, chi BHTN 4.500 tỷ đồng, chi BHYT 56,5 nghìn tỷ đồng; tổng số người được giải quyết chế độ BHXH, BHYT: 122,5 triệu lượt người, trong đó: Số người hưởng chế độ BHXH: 7,5 triệu lượt người, tăng 600 nghìn lượt người (8,6%) so với cùng kỳ năm 2015; số lượt hưởng BHYT: 115 triệu lượt người, tăng 9 triệu lượt người (8,5%) so với cùng kỳ năm 2015.

Bên cạnh kết quả đạt được, tình hình phát triển BHXH, BHYT vẫn còn một số vấn đề tồn tại: Đối tượng tham gia BHXH chưa đạt mục tiêu đề ra (đến nay mới có khoảng 28% số người lao động tham gia BHXH); tỷ lệ bao phủ BHYT không đồng đều giữa các khu vực, nhiều tỉnh chưa đạt tỷ lệ bao phủ BHYT theo chỉ tiêu Chính phủ giao, đặc biệt các địa phương thuộc đồng bằng sông Cửu Long; việc phát triển BHYT chưa đảm bảo tính bền vững, vẫn còn phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước; tính tuân thủ pháp luật về BHXH, BHYT của một số doanh nghiệp chưa cao (có khoảng 103.000 đơn vị, doanh nghiệp nợ tiền đóng quỹ BHXH với số tiền 9.670 tỷ đồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi khoảng 2,66 triệu người lao động).

Để đạt được mục tiêu cân đối quỹ BHXH trong dài hạn, nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của chính sách BHXH, cấp ủy các cấp cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tập trung sự tham gia của cả hệ thống chính trị nhằm đẩy mạnh công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH, huy động số đông người lao động tham gia đóng góp vào quỹ BHXH.

Hai là, tăng cường tính tuân thủ pháp luật về BHXH, trước hết cần thực hiện đúng các quy định về đóng BHXH, quy định về tuổi nghỉ hưu trong Luật BHXH hiện hành.

Ba là, tăng cường các biện pháp nhằm giảm nợ đọng BHXH, quản lý chặt chẽ, chống thất thu, thất thoát quỹ BHXH, cải cách thủ tục hành chính, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư, bảo toàn tăng trưởng quỹ BHXH…

Bốn là, các cơ quan chuyên môn tiếp tục nghiên cứu tham mưu với Chính phủ trình Quốc hội hoàn thiện chính sách, pháp luật BHXH, điều chỉnh quy định đóng, hưởng BHXH cho phù hợp, khắc phục tình trạng đóng ít hưởng nhiều như hiện nay.

III. TIN THẾ GIỚI

1. Quan hệ Việt Nam với các nước

- Tổng thống Mi-an-ma U Tin Chô thăm chính thức Việt Nam từ ngày 26 đến 28/10/2016. Hai bên ký Tuyên bố chung khẳng định tầm quan trọng của quan hệ hữu nghị truyền thống và các thành quả đạt được sau hơn 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, nhất là trong các lĩnh vực: nông nghiệp, cây công nghiệp, thủy sản, tài chính - ngân hàng, hàng không, viễn thông, dầu khí, khai khoáng, sản xuất thiết bị điện, chế tạo và lắp ráp ô-tô, xây dựng và hợp tác thương mại - đầu tư; nhất trí thúc đẩy các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh đối ngoại; tăng cường phối hợp trong khuôn khổ ASEAN và các diễn đàn khu vực và quốc tế, hợp tác sử dụng bền vững và hiệu quả nguồn nước sông Mê Công… Hai bên khẳng định duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực, giải quyết hòa bình các tranh chấp, tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ các nguyên tắc đã được thừa nhận của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

- Hội thảo Lý luận lần thứ tư giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào tổ chức ngày 27/10/2016 tại thủ đô Viêng Chăn (Lào), với chủ đề “Hội nhập quốc tế - Kinh nghiệm Lào, kinh nghiệm Việt Nam”. Tại Hội thảo, Đảng Cộng sản Việt Nam trình bày 5 bài học được rút ra từ thực tiễn lãnh đạo đất nước hội nhập quốc tế, đó là: Bảo đảm sự thống nhất và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn dân và hệ thống chính trị trong quá trình hội nhập quốc tế; gắn kết chặt chẽ các nhiệm vụ trong hội nhập quốc tế; bám sát thực tiễn trong nước và quốc tế, đồng thời nắm bắt, dự báo chính xác, kịp thời những diễn biến mới của khu vực, quốc tế; chỉ đạo quyết liệt, kiên trì, sáng tạo tổ chức thực hiện thắng lợi những chủ trương đúng đắn của Đảng về hội nhập quốc tế. Về phía Lào, Đảng NDCM Lào rút ra 6 bài học kinh nghiệm: Thực hiện đột phá tư duy lý luận về đổi mới công tác ngoại giao; nâng cao năng lực lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn; phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước về cải cách hành chính; coi trọng nâng cao chất lượng công tác cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và giải quyết những vấn đề phát sinh.

Kết quả của Hội thảo sẽ giúp cho Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ Hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay.

- Đối thoại Chiến lược quốc phòng cấp Thứ trưởng Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 6, tổ chức ngày 04/11/2016 tại thành phố Thành Đô (Trung Quốc). Hai bên nhất trí tiếp tục duy trì nhịp độ và mở rộng không gian hợp tác trên các lĩnh vực: Giao lưu báo chí, công nghiệp quốc phòng, quân y, cứu hộ, cứu nạn, đào tạo tiếng Trung cho sĩ quan các quân khu giáp biên, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển của Việt Nam và đào tạo tiếng Việt cho sĩ quan quân đội Trung Quốc…; sớm ký Biên bản tầm nhìn hợp tác quốc phòng Việt – Trung, ký Biên bản cơ chế hóa hoạt động giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt – Trung; chuẩn bị chu đáo để tổ chức thành công chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt – Trung do hai Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hai nước chủ trì vào đầu năm 2017; sớm triển khai đề tài nghiên cứu khoa học về “Sưu tầm tư liệu, kỷ vật về tình đoàn kết hữu nghị giữa hai Quân đội Việt Nam – Trung Quốc, tư tưởng đoàn kết Hồ Chí Minh – Mao Trạch Đông trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ”. Về tình an ninh khu vực, hai bên có chung nhận định, hòa bình và hợp tác phát triển vẫn là dòng chảy chính, nhưng xung đột có thể xảy ra nếu những bất đồng ở khu vực không được kiểm soát tốt. Hai bên nhất trí thời gian tới cần kiểm soát tốt bất đồng, tăng cường tuyên truyền, giáo dục để quân đội và nhân dân hai nước tuân thủ nghiêm nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước về vấn đề Biển Đông.

2. Một số tình hình thế giới đáng chú ý thời gian gần đây

- Hội nghị cấp cao chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mê Công lần thứ 7 (ACMECS 7), Hội nghị cấp cao hợp tác Campuchia-Lào-Mi-an-ma-Việt Nam lần thứ 8 (CLMV 8) và Diễn đàn Kinh tế thế giới về khu vực Mê Công (WEF Mekong là sáng kiến của Việt Nam) diễn ra từ ngày 25 đến 26/10/2016 tại Hà Nội, đã thành công tốt đẹp:

+ Với chủ đề “Nắm bắt cơ hội, định hình tương lai”, CLMV 8 chia sẻ đánh giá về môi trường phát triển mới của khu vực Mê Công; nhất trí vừa tiến hành cải cách kinh tế trong nước, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, vừa chủ động hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và toàn cầu; triển khai các biện pháp tăng cường gắn kết nền kinh tế và thị trường của bốn nước, hướng tới một khu vực kết nối thông suốt... Hội nghị đã thông qua Tuyên bố chung của CLMV 8.

+ Với chủ đề “Hướng tới Tiểu vùng Mê Công năng động và thịnh vượng”, ACMECS 7 tập trung thảo luận các biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, gia tăng tính cạnh tranh cho các nền kinh tế thành viên, tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và đề ra các định hướng hợp tác vì phát triển bền vững tại khu vực Mê Công. Các nước ACMECS nhất trí trong thời gian tới sẽ tập trung thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực giao thông, thương mại-đầu tư, công nghiệp, du lịch, nông nghiệp, môi trường. Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Hà Nội của ACMECS 7.

+ Với chủ đề “Phát triển khu vực Mekong: Đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và kết nối”, WEF Mekong tập trung thảo luận về vấn đề phát triển và hội nhập của các nước Mekong như tầm nhìn, định hướng phát triển khu vực Mekong, huy động nguồn lực cho phát triển cơ sở hạ tầng, tạo thuận lợi thương mại, đầu tư, du lịch, thúc đẩy công nghiệp hóa và phát triển bền vững trong khu vực Mekong trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ 4…

- Cuộc gặp quốc tế các Đảng Cộng sản và công nhân lần thứ 18 tổ chức từ ngày 28 đến 30/10/2016 tại thủ đô Hà Nội. Các đại biểu tham dự Cuộc gặp đã thống nhất về những biện pháp nhằm cải tiến, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ chế phối hợp chung, bầu ra Nhóm Công tác nhiệm kỳ 2016 - 2018 gồm 19 đảng thành viên, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Lời kêu gọi nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc đấu tranh vì hòa bình và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền của các quốc gia, sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế; khẳng định tình đoàn kết và sự ủng hộ lâu dài, trước sau như một đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam đăng cai tổ chức Cuộc gặp này; là dịp để các đảng anh em tìm hiểu về công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tăng cường quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng cộng sản và công nhân các nước.

3. Một số nét đáng chú ý về Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ lần thứ 58

Ngày 08/11/2016, nước Mỹ tiến hành Cuộc bầu cử Tổng thống lần thứ 58 để tìm người thay thế Tổng thống đương nhiệm Ba-rắc Ô-ba-ma, người sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào tháng 01/2017. Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ luôn được đánh giá là khá phức tạp về phương thức, thủ tục bầu cử, tuy nhiên cuộc bầu cử lần này còn tạo ra nhiều điểm nhấn khác thường so với các cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ trước đây:

Đây là cuộc bầu cử đầu tiên trong lịch sử có số cử tri đăng ký vượt trên 200 triệu người; lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ trở thành Ứng cử viên Tổng thống của một đảng lớn; và cũng lần đầu tiên trong hơn 70 năm qua, có người chưa từng làm trong Chính phủ trở thành Ứng cử viên của một đảng lớn;…

Mức độ quan tâm về cuộc Bầu cử cũng lập kỷ lục mới. Cuộc tranh luận đầu tiên trên truyền hình của các Ứng cử viên Tổng thống đã có 84 triệu người theo dõi. Cuộc tranh luận trên truyền hình thứ hai, 3 trang mạng xã hội là Youtube, Facebook, Twitter cũng lập kỷ lục mới riêng: 124 triệu người xem trên Youtube, hơn 17 triệu cư dân mạng đăng hoặc chia sẻ trên Twitter, khoảng 19,8 triệu tài khoản Facebook của Mỹ đã đăng, chia sẻ, bình luận và ấn nút like (thích) đối với 92,4 triệu bài đăng liên quan đến chủ đề này. Điều đáng chú ý là, số lượng người xem trên mạng cao hơn nhiều so với số lượng người theo dõi qua truyền hình.

Xu thế ủng hộ Ứng cử viên “nghiêng về một bên” của báo chí truyền thống Mỹ cũng chưa từng có trước đây. Thậm chí một số báo giấy thuộc phe bảo thủ, các cuộc bầu cử trước luôn ủng hộ đảng Cộng hòa, lần này tỏ thái độ ủng hộ bà Hi-la-ry, như “The New York Times”, “Washington Post”... Đứng về phía Đô-nan Trăm chỉ có kênh truyền hình Fox và một số trang mạng tin tức cánh hữu.

Trong khi báo giấy truyền thống ủng hộ nghiêng về phía Hi-la-ry, thì Đô-nan Trăm lại được truyền thông mạng xã hội lăng xê. Điều này được thể hiện rõ nhất, một tuần sau “cuộc tranh luận đầu tiên” giữa hai Ứng cử viên Tổng thống, kết quả thăm dò dư luận chuyên nghiệp được các phương tiện truyền thông truyền thống của Mỹ lần lượt công bố trái ngược hoàn toàn với kết quả bình chọn trực tuyến trên mạng Internet.

Cách thức, thủ tục chọn ứng viên Tổng thống Mỹ có thể coi là khá phức tạp, như:

Đối với việc bỏ phiếu: từ năm 2004 có 6 hệ thống bỏ phiếu được sử dụng mang tính hiện đại hóa rất cao, đó là: (1) Đục lỗ thẻ, (2) Cần gạt, (3) Phiếu scan trên máy tính, (4) Thiết bị điện tử ghi nhận trực tiếp, (5) Phiếu giấy và (6) Hỗn hợp. Hiện nay, còn có thêm một thể lệ mới là “bỏ phiếu sớm”. Máy bầu cử được đặt tại các siêu thị và các nơi công cộng khác trong vòng 3 tuần trước ngày bầu cử.

Cử tri (công dân) Mỹ không trực tiếp bầu ra Tổng thống, mà cử tri trực tiếp bỏ phiếu bầu ra những đại cử tri bang mình. Theo quy định của pháp luật bầu cử Mỹ, Ứng viên Tổng thống nào có được nhiều người đại diện (người ủng hộ) nhất trong số đại cử tri mỗi bang thì sẽ được hưởng toàn bộ số phiếu đại cử tri bang đó. Các đại cử tri sẽ nhóm họp tại bang mình (ngày thứ Hai đầu tiên liền sau ngày thứ Tư thứ hai của tháng 12 thuộc năm bầu cử) để bầu hai ứng viên vào chức Tổng thống và Phó Tổng thống. Tại phiên họp chung của Quốc hội mới được bầu ra (khóa mới) tổ chức vào tuần đầu tháng Giêng (thường vào ngày 6/01) năm sau sẽ tiến hành kiểm phiếu đại cử tri dưới sự điều hành của Chủ tịch Thượng viện. Ứng cử viên nào có được từ 270 phiếu trở lên (tổng số phiếu đại cử tri là 538 phiếu) sẽ đắc cử Tổng thống.

Theo kết quả sơ bộ (tính đến ngày 10/11/2016), Ứng cử viên Đô-nan Trăm đã giành được 309 đại cử tri, trong khi bà Hi-la-ry chỉ được 232  phiếu. Ông Đô-nan Trăm đã đắc cử, trở thành Tổng thống thứ 45 của nước Mỹ.

4. Một số chính sách đối ngoại đáng chú ý của Phi-líp-pin sau khi Tổng thống R.Đu-tơ-tê lên cầm quyền

Ngày 30/6/2016, ông R.Đu-tơ-tê chính thức nhậm chức Tổng thống Cộng hòa Phi-líp-pin. Trong 100 ngày cầm quyền đầu tiên, ông Đu-tơ-tê đã thực hiện một số chính sách đối ngoại đang thu hút sự quan tâm, quan sát của nhiều nước trên thế giới:

Đối với Trung Quốc: khôi phục quan hệ hữu hảo, theo hướng trở lại đối thoại với Trung Quốc. Tổng thống R.Đu-tơ-tê đã có chuyến thăm lịch sử  tới Trung Quốc (từ ngày 18 - 21/10/2016), theo lời mời của Chủ tịch Tập Cận Bình. Đây là nước đầu tiên ngoài khối ASEAN mà ông Đu-tơ-tê thăm chính thức trong 3 tháng nhậm chức. Về kết quả chuyến thăm: Hai bên ra Thông cáo chung nhất trí thường xuyên trao đổi các vấn đề Biển Đông và thực thi cơ chế tự kiềm chế khi tiến hành các hoạt động trên Biển Đông; cam kết tuân thủ Tuyên bố về Ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2002 và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). Tuy nhiên, ngày 23/10/2016, Phi-líp-pin tái khẳng định lập trường của Phi-líp-pin là không bỏ qua phán quyết về Biển Đông của Tòa Trọng tài Thường trực vụ Phi-líp-pin kiện Trung Quốc. Điều này cho thấy Phi-líp-pin vẫn tồn tại nhiều khó khăn trên vấn đề Biển Đông với Trung Quốc.

Đối với Mỹ: ngày 02/10/2016, Tổng thống R.Đu-tơ-tê tuyên bố sẽ xem xét lại Thỏa thuận Tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA) giữa Phi-líp-pin và Mỹ ký năm 2014 và các điều khoản có liên quan tới tập trận chung giữa hai nước; ông Đu-tơ-tê cho rằng, sự có mặt của lính Mỹ tại miền Nam Phi-líp-pin gây khó khăn cho quá trình đàm phán tìm kiếm hòa bình tại khu vực này. Vì vậy, ông sẽ đề nghị lính Mỹ rời khỏi Phi-lip-pin để tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán thành công.

Dự báo trong thời gian tới:

Quan hệ Phi-líp-pin-Trung Quốc sẽ được cải thiện, nhưng Phi-líp-pin không ngả hẳn về phía Trung Quốc. Mong muốn của ông Đu-tơ-tê là tìm cách khôi phục quan hệ với Trung Quốc, không chủ động thách thức vấn đề Biển Đông mà muốn thực hiện một cuộc trao đổi lợi ích kinh tế. Chuyến thăm Trung Quốc của ông Đu-tơ-tê vừa qua là một lần “phá băng” trong quan hệ hai nước, cân nhắc đến những lợi ích kinh tế thiết thân như hợp tác xây dựng bệnh viện, trường học và nhà máy phát điện. Trong khi đó, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao để củng cố sự hiện diện ở Biển Đông và không ngừng mở rộng lợi ích chung với Phi-líp-pin, tuy nhiên sẽ không nhượng bộ vấn đề chủ quyền và tiếp tục tăng cường quân sự hóa tại Biển Đông.

Quan hệ Phi-líp-pin-Mỹ có thể bị lắng xuống. Từ khi Tổng thống R.Đu-tơ-tê lên nắm quyền, Phi-líp-pin đã thi hành chính sách “xoay trục đối với Mỹ”. Việc giữ khoảng cách với Mỹ trong chính sách đối ngoại của ông Đu-tơ-tê đã nhận được sự hậu thuẫn của một số nhóm ủng hộ trong nước, đặc biệt là từ nhóm chính trị cánh tả từ lâu đã có quan điểm chống Mỹ. Tuy nhiên, đại đa số công chúng Phi-líp-pin vẫn giữ quan điểm tích cực về Mỹ.

 

 

________



[1] Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy đã họp chiều ngày 20-7-2016 và ra Quyết định xử lý kỷ luật đồng chí Nguyễn Thanh Hải – Bí thư Chi bộ Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đăk Glei bằng hình thức Cảnh cáo; đồng chí Nguyễn Thanh Thủy – Chi ủy viên Chi bộ Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đăk Glei bằng hình thức Cảnh cáo. Trước đó, Chi bộ Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đăk Glei đã chỉ đạo lãnh đạo Công ty xem xét, xử lý kỷ luật đối với 4 cán bộ, nhân viên quản lý bảo vệ rừng thuộc Lâm trường Đăk Ba có vi phạm. Theo đó, đã kỷ luật ông Nguyễn Thanh Thủy – Giám đốc Lâm trường với hình thức Cách chức; ông A Tim – Nhân viên (chậm nâng lương 6 tháng); ông Vũ Văn Hợp – Nhân viên (khiển trách); Đinh Văn Đức – Nhân viên (khiển trách).

Đối với Chi bộ Hạt Kiểm lâm huyện, Chi bộ yêu cầu nghiêm khắc rút kinh nghiệm trong thời gian tới; đồng thời đề nghị luân chuyển đồng chí Đinh Xuân Hà – Hạt phó phụ trách chuyển sang phụ trách địa bàn các xã phía Bắc; bố trí Kiểm lâm địa bàn xã Đăk Kroong sang làm văn phòng cơ quan; chuyển Kiểm lâm địa bàn xã Đăk Long sang phụ trách địa bàn xã Đăk Pek.

 

 

Số lượt xem:1025
Bài viết trước:
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 11-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 09-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 08-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 07-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 06-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 05-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 04-2016
Icon  Tài liệu tập huấn công tác tuyên truyền miệng, tổ chức tại Đà Nẵng, tháng 3-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 03-2016
    LIÊN KẾT
Trang chủ   |   Liên hệ   
Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum; Điện thoại: 060.3862301; Email: thongtintuyengiaokontum@gmail.com hoặc phiemkt@gmail.com.
Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này