Thứ 7, ngày 25 tháng 3 năm 2017  TimKiem
  TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI BỘ
Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 11-2016
10/27/2016 2:51:38 PM

A. VĂN BẢN MỚI

I. VĂN BẢN CỦA TỈNH

1. Ngày 3/10/2016, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 523/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Kon Tum đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

- Quy hoạch đề ra mục tiêu cụ thể: Đến năm 2020, chuyển tiếp 02 khu bảo tồn hiện có sang hệ thống khu bảo tồn theo Luật đa dạng sinh học (Vườn Quốc gia Chư Mom Ray với diện tích 56.621 ha và Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh với diện tích 38.109,4 ha); nâng cấp rừng đặc dụng Đăk Uy thành Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Đăk Uy với diện tích 659,5 ha; thành lập mới 01 vườn thực vật (Ngọc Linh), vườn thuốc (Sâm ngọc linh và các “vườn mẫu thuốc nam” ở Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh và các Trạm y tế tại các xã trong tỉnh). Đến năm 2030, thành lập mới 02 khu bảo tồn (Vườn Quốc gia Ngọc Linh và khu bảo vệ cảnh quan cấp tỉnh Măng Đen); thành lập mới 01 vườn thực vật (Măng Đen), 02 vườn động vật (Ngọc Linh, Đăk Uy), 01 trung tâm cứu hộ động vật (Ngọc Linh); thành lập mới hành lang Đa dạng sinh học Ngọc Linh - Ngọc Linh.

Tổng nhu cầu vốn thực hiện quy hoạch khoảng 104 tỷ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước, vốn huy động cộng đồng và các nguồn vốn hợp pháp khác.

- Quy hoạch đề ra 04 giải pháp cơ bản nhằm thực hiện quy hoạch, cụ thể:

Về cơ chế, chính sách, hoàn thiện hệ thống Pháp luật về quản lý hệ thống khu bảo tồn của tỉnh; tiếp tục rà soát, bổ sung, cụ thể hoá các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học đã được thực hiện trong các chương trình, dự án của tỉnh; thực thi nghiêm ngặt Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật đa dạng sinh học, Luật bảo vệ môi trường; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước thực hiện các dự án nghiên cứu, bảo tồn đa dạng sinh học trong tỉnh; giải quyết sinh kế đối với người dân tại chỗ.

Về đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu đa dạng sinh học có trình độ, chuyên môn cao; đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao khả năng quản lý trong lĩnh vực đa dạng sinh học; huy động sự tham gia của khối tư nhân, các tổ chức và toàn dân trong tỉnh.

Về khoa học công nghệ, xây dựng và triển khai các giải pháp khoa học công nghệ về đa dạng sinh học; tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học; xây dựng hoàn chỉnh hệ thống cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học của tỉnh; xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, đề tài/dự án điều tra cơ bản, các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học cho từng địa điểm, khu vực trên địa bàn tỉnh; tổ chức nghiên cứu, rà soát, kiểm định kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học đã có từ trước tới nay.

Về vốn thực hiện quy hoạch, tranh thủ các nguồn đầu tư từ các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước và các tổ chức phi Chính phủ; hợp tác với các tổ chức, cộng đồng quốc tế trong việc triển khai các dự án đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học, lập quy hoạch chi tiết cũng như các dự án bảo tồn giá trị đa dạng sinh học.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

2. Ngày 6/10/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 42/2016/QĐ-UBND về việc quy định thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Cụ thể:

Về đối tượng và mức thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa, được áp dụng theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết 59/2016/NQ-HĐND ngày 19/8/2016 của HĐND tỉnh Kon Tum khóa XI, kỳ họp thứ 2 về thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh. Trong đó, tỷ lệ phần trăm (%) số thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa được xác định theo địa bàn từng xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) thuộc khu vực I, II, III theo Quyết định của Ủy ban dân tộc, gồm: Tỷ lệ thu địa bàn xã thuộc khu vực I là 70%, khu vực II là 60% và khu vực III là 50%.

Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm kê khai số tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa phải nộp, tương ứng với diện tích đất chuyên trồng lúa nước được nhà nước giao, cho thuê. Chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày có quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan có thẩm quyền, các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực hiện nộp đủ khoản tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa vào ngân sách nhà nước.

Cơ quan Tài nguyên và Môi trường phối hợp cơ quan Tài chính các cấp căn cứ bản kê khai của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trồng lúa; xác định và tổ chức thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa nộp vào ngân sách cấp tỉnh 100%, hạch toán mục lục ngân sách mục thu khác, tiểu mục 4914. Cụ thể phân định trách nhiệm tổ chức thu như sau: (a) Sở Tài nguyên và Môi Trường chủ trì phối hợp với Sở Tài chính thực hiện thu đủ khoản tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa nộp vào ngân sách tỉnh theo quyết định giao đất, cho thuê đất của UBND tỉnh; (b) Phòng Tài nguyên và Môi Trường chủ trì phối hợp phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc UBND huyện, thành phố thực hiện thu đủ khoản tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa nộp vào ngân sách và điều tiết 100% về ngân sách tỉnh theo quyết định giao đất, cho thuê đất của UBND huyện, thành phố.

Về kiểm tra việc nộp tiền bảo vệ và phát triển đất trồng lúa khi giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định: (a) Sở Tài nguyên và Môi trường (đối với các trường hợp UBND tỉnh quyết định giao đất, cho thuế đất) và UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm rà soát, kiểm tra các trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp trên địa bàn để xác định và thu tiền bảo vệ và phát triển đất trồng lúa nộp vào ngân sách tỉnh theo quy định; (b) Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm kiểm tra kết quả tổ chức, cá nhân nộp đầy đủ tiền bảo vệ và phát triển đất trồng lúa theo quy định trước khi thực hiện thủ tục bàn giao đất thực địa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp tổ chức, cá nhân chưa nộp đủ tiền vào ngân sách tỉnh thì yêu cầu người sử dụng đất nộp tiền trước khi thực hiện thủ tục bàn giao đất thực địa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho thuê theo quy định; (c)  Cơ quan Kho bạc Nhà nước tỉnh, huyện căn cứ thông báo nộp tiền bảo vệ phát triển đất trồng lúa của cơ quan Tài nguyên và Môi trường và bản kê khai nộp tiền của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất; thực hiện thu và điều tiết 100% số thu về ngân sách tỉnh theo quy định.

Toàn bộ số thu tiền bảo vệ và phát triển đất trồng lúa được nộp vào ngân sách cấp tỉnh và được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ và Thông tư số 18/2016/TT-BTC ngày 21/01/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10-10-2016.

3. Ngày 6/10/2016, UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 09/CT-UBND về việc đẩy mạnh phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trên địa bàn tỉnh. Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu:

Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố và các tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước tăng cường lãnh đạo cán bộ, công chức của cơ quan, đơn vị, các cấp, các ngành trên địa bàn tham gia phong trào “phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật” và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả công tác và năng suất lao động. Nâng cao chất lượng và hiệu quả các công trình nghiên cứu, các đề tài, dự án để được áp dụng vào cuộc sống; những sáng kiến, giải pháp kỹ thuật được công nhận phải kịp thời áp dụng, nhân rộng và thường xuyên cải tiến để phát huy hiệu quả sáng kiến.

Sở Khoa học và Công nghệ thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động sáng kiến cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Triển khai thực hiện các biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ các tổ chức, cá nhân hoàn thiện sáng kiến tham gia hội chợ thương mại, chợ công nghệ Techmart, triển lãm; hỗ trợ việc chuyển giao đối với những sáng kiến do Nhà nước đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật...

Sở Nội vụ tham mưu phát động phong trào “phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật” lồng ghép với phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh - tế xã hội đảm bảo quốc phòng - an ninh xây dựng chính trị hàng năm; theo dõi hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh làm cơ sở để bình xét thi đua hàng năm cũng như kịp thời đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh biểu dương, khen thưởng kịp thời những tổ chức, đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong các hoạt động sáng kiến.

Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Kon Tum, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh phối hợp với các cấp, các ngành đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trên địa bàn tỉnh; đa dạng các hình thức tuyên truyền những sáng kiến, có các giải pháp thiết thực, hiệu quả trên các phương tiên thông tin đại chúng. Kịp thời biểu dương những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trên địa bàn tỉnh.

Sở Tài Chính tham mưu ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ để các tác giả có sáng kiến hoàn thiện, phát triển, cải tiến sáng kiến; hỗ trợ kinh phí đăng ký quyền Sở hữu công nghiệp, tham gia hội chợ triển lãm, chuyển giao sáng kiến; hỗ trợ các tác giả có sáng kiến hoàn thiện, phát triển, cải tiến sáng kiến, đăng ký quyền Sở hữu công nghiệp, tham gia hội chợ triển lãm, chuyển giao sáng kiến…

4. Ngày 18-10-2016, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 11-HD/BTGTU về hướng dẫn công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2017. Nội dung cụ thể sau:

4.1. Tổ chức các lớp nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết của Hội nghị Trung ương (khóa XII); các nghị quyết của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XV; thông tin những vấn đề mới về lý luận chính trị và thực tiễn.

Việc tổ chức các lớp nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết Hội nghị Trung ương 5,6 (khóa XII) thực hiện theo Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; đối với các nghị quyết của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XV, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy sẽ có hướng dẫn cụ thể.

Ban tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ và trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố chủ động đề xuất, tham mưu cấp ủy tổ chức nghiên cứu, quán triệt và tuyên truyền các nghị quyết của Trung ương và địa phương kịp thời, hiệu quả. Thường xuyên tổ chức thông tin những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những vấn đề trọng tâm được dư luận quan tâm ở địa phương, cơ sở.

4.2. Công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng giảng viên lý luận chính trị.

Trường Chính trị tỉnh phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn về phương pháp giảng dạy cho đội ngũ giảng viên (cả chuyên trách và kiêm chức) của các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, thành phố gắn với việc triển khai nội dung chương trình cập nhật kiến thức cho đối tượng 3, 4.

4.3. Tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của   trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện.

Tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả của trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện theo Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 03- 9- 2008 của Ban Bí thư Trung ương; Quyết định số 1853-QĐ/BTGTW ngày 04- 3- 2010 của Ban Tuyên giáo Trung ương về ban hành Quy chế giảng dạy và học tập của Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thành phố và các văn bản hướng dẫn hiện hành.

4.4. Giao ban và tập huấn công tác giáo dục lý luận chính trị.

Việc giao ban công tác giáo dục lý luận chính trị gắn với giao ban công tác tuyên giáo 6 tháng đầu năm và cuối năm. Nội dung giao ban tập trung vào những nhiệm vụ chính của công tác giáo dục lý luận chính trị ở địa phương, đơn vị. Hằng quý, ban tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy và Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố thực hiện chế độ báo cáo (bằng văn bản) chậm nhất ngày 22 tháng cuối quý về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy để tổng hợp, báo cáo Ban Tuyên giáo Trung ương.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy sẽ phối hợp Trường Chính trị tỉnh mở lớp tập huấn về lý luận chính trị cho giảng viên Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố theo tài liệu mới (sau khi Ban Tuyên giáo Trung ương phát hành).

4.5. Thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cơ bản.

Hiện nay, Ban Tuyên giáo Trung ương đang biên soạn tài liệu theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XII. Trong khi chưa có tài liệu mới, đề nghị ban tuyên giáo, tuyên huấn các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy và Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố thực hiện theo các hướng dẫn trước đây và bổ sung, cập nhật các quan điểm, nội dung mới của Đại hội XII vào bài giảng. Khi có chương trình mới, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy sẽ có hướng dẫn cụ thể (trước mắt theo phụ lục các chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị năm 2017 gửi kèm theo hướng dẫn này).

4.6. Thực hiện chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên các cấp.

Trong khi chờ tài liệu mới của Ban Tuyên giáo Trung ương, đề nghị Trường Chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố thực hiện bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên các cấp theo Hướng dẫn số 82-HD/BTGTW, ngày 12- 6- 2013 của Ban Tuyên giáo Trung ương về “xây dựng nội dung và thực hiện chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên các cấp (2013- 2015). Tài liệu tham khảo bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở do Nhà xuất bản Chính trị ấn hành và bổ sung, cập nhật các thông tin mới của Đại hội XII vào bài giảng.

4.7. Kiểm tra thực hiện nhiệm vụ.

Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục lý luận chính trị ở địa phương, đơn vị; 6 tháng một lần tổng hợp, báo cáo về Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

Nội dung kiểm tra gồm:

+ Phương hướng chính trị, tư tưởng, chất lượng giảng dạy lý luận chính trị, giáo dục công dân, giáo dục đạo đức của các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân trên địa bàn.

+ Việc triển khai thực hiện Kết luận 94-KL/TW, ngày 28- 3- 2014 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận trong hệ thống giáo dục quốc dân và Hướng dẫn số 127-HD/BTGTW, ngày 30- 6- 2014 của Ban Tuyên giáo Trung ương về việc giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân. 

+ Việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tại trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân trên địa bàn.

Căn cứ Hướng dẫn này, ban tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện uỷ, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch thực hiện công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2017 ở địa phương, đơn vị mình.

Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc, đề nghị các cơ quan, đơn vị phản ánh về Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ (qua Phòng Lý luận chính trị và Lịch sử Đảng; số điện thoại: 0603 862 175) để tham mưu điều chỉnh.

5. Ngày 21/10/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1249/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh chỉ tiêu một số nội dung “Thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Kon Tum giai đoạn 2014-2015”.

Theo đó, hỗ trợ đất sản xuất cho 1.047 hộ, diện tích 299,1 ha; hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề cho 3.492 hộ; hỗ trợ đất ở cho 2.064 hộ, diện tích 52,3 ha (chính quyền địa phương các cấp tạo quỹ đất giao cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa có đất ở gắn với hỗ trợ về nhà ở); hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 7.913 hộ, hỗ trợ đầu tư xây dựng 05 công trình nước sinh hoạt tập trung, duy tu bảo dưỡng 01 công trình nước sinh hoạt tập trung.

Tổng kinh phí thực hiện sau khi điều chỉnh chỉ tiêu các nội dung là 87.632,2 triệu đồng, cụ thể: Hỗ trợ đất sản xuất 22.658 triệu đồng; hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề 46.411,4 triệu đồng; hỗ trợ đất ở 2.064 triệu đồng; hỗ trợ nước sinh hoạt 16.498,8 triệu đồng.

Các nội dung không điều chỉnh tại Quyết định này được thực hiện theo Đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định 1169/QĐ-UBND ngày 03/11/2014 và Quyết định 1206/QĐ-UBND ngày 24/11/2015.

UBND tỉnh giao Ban Dân tộc tỉnh chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thành phố và các đơn vị có liên quan tổ chức triển khai thực hiện các nội dung theo quy định; UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích, đối tượng, hiệu quả.

II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG

Thông tư số 139/2016/TT-BTC ngày 16/9/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính cho chủ đầu tư khi đầu tư xây dựng nhà ở xã hội và phương pháp xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi người mua, thuê mua được phép bán lại nhà ở xã hội. Thông tư gồm 10 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2016. Một số nội dung chủ yếu của Thông tư:

- Miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất: (1) Miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với toàn bộ diện tích đất đã được Nhà nước giao, cho thuê để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, bao gồm cả quỹ đất để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh thương mại đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội; (2) Miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với toàn bộ diện tích đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sử dụng quỹ đất 20% của các dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị theo quy định của pháp luật về nhà ở, bao gồm cả phần diện tích đất 20% để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh thương mại được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội; (3) Chủ đầu tư thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phải thực hiện các thủ tục để được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

- Việc nộp tiền sử dụng đất khi bán lại nhà ở xã hội: (1) Trường hợp bán nhà ở xã hội là căn hộ nhà chung cư thì người bán phải nộp cho ngân sách nhà nước 50% tiền sử dụng đất được phân bổ cho căn hộ đó; (2) Trường hợp bán nhà ở xã hội là nhà ở thấp tầng liền kề phải nộp 100% tiền sử dụng đất.

- Xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi bán lại nhà ở xã hội: (1) Giá đất để tính tiền sử dụng đất được xác định theo giá đất ở do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Bảng giá đất nhân (x) với hệ số điều chỉnh giá đất tại thời điểm người mua, thuê mua bánlại nhà ở xã hội; (2) Tiền sử dụng đất phải nộp khi bán lại nhà ở xã hội:

 a) Trường hợp người mua, thuê mua nhà ở xã hội bán lại nhà ở xã hội là căn hộ chung cư thì phải nộp tiền sử dụng đất như sau:

Tiền sử dụng đất phải nộp = 50% x S x Giá đất x Hệ số phân bổ tiền sử dụng đất cho căn hộ

Trong đó: S là diện tích căn hộ chung cư cần được xác định tiền sử dụng đất phải nộp; Giá đất được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này; Hệ số phân bổ của căn hộ chung cư được xác định theo quy định tại Điều 8 Thông tư này.

b) Trường hợp người mua, thuê mua nhà ở xã hội bán lại nhà ở xã hội là nhà ở thấp tầng liền kề thì bên bán nhà ở xã hội phải nộp 100% tiền sử dụng đất. Tiền sử dụng đất được xác định theo giá đất quy định tại khoản 1 Điều này nhân (x) với diện tích đất của nhà ở xã hội.

B. VỀ KẾT QUẢ XỬ LÝ VỤ PHÁ RỪNG PHÒNG HỘ TẠI ĐÈO MĂNG ĐEN

Ngày 20-10-2016, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có Công văn số 215-CV/TU về kết quả xử lý vụ phá rừng phòng hộ tại Đèo Măng Đen báo cáo Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh theo dõi. BBT trích đăng nội dung Công văn như sau:

Từ đầu năm 2016 đến nay, Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Kon Tum đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, cấp uỷ, chính quyền các cấp và các ngành chức năng triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động khai thác, vận chuyển, cất giữ, mua bán gỗ trái pháp luật. Từ đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng đã đạt được một số kết quả khả quan, góp phần giữ vững an ninh, chính trị và trật tự xã hội.

Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương, đơn vị thiếu sâu sát, lơ là nhiệm vụ,  để xảy ra nhiều vụ việc xâm hại đến tài nguyên rừng. Đặc biệt, tại các Tiểu khu 519, 520, 521, 522 thuộc rừng phòng hộ khu vực đèo Măng Đen, huyện Kon Rẫy liên tục bị người dân xâm hại. Để chấn chỉnh tình trạng này, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh kiểm tra xác minh, xử lý. Qua kiểm tra đã phát hiện: Tại khu vực đèo Măng Đen có 15 điểm rừng bị phá, phát luỗng và đốt dưới tán rừng với diện tích 5,278 ha là rừng tự nhiên đã được quy hoạch chức năng phòng hộ.

Sau kết quả kiểm tra, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã chỉ đạo Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Thường vụ Huyện uỷ Kon Rẫy và các cơ quan liên quan nghiêm túc tiến hành làm rõ trách nhiệm của các tập thể, cá nhân liên quan và tiến hành kiểm điểm, xử lý kỷ luật về Đảng, chính quyền theo thẩm quyền. Việc tổ chức kiểm điểm đã được tiến hành nghiêm túc từ các tổ chức cơ sở đảng, chính quyền các cấp. Kết quả xử lý như sau:

1. Xử lý kỷ luật về Đảng

Ban Thường vụ Huyện ủy Kon Rẫy đã xử lý kỷ luật 01 tổ chức đảng (Chi bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Kon Rẫy) với hình thức khiển trách và 11 đảng viên (khiển trách: 10; cảnh cáo: 01).

Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã xử lý kỷ luật 02 đảng viên với hình thức khiển trách (01 đồng chí thuộc Đảng ủy Chi cục Kiểm lâm tỉnh; 01 đồng chí thuộc Đảng ủy Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

2. Xử lý kỷ luật về chính quyền

- Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức kiểm điểm nghiêm túc đối với tập thể lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh. Kết quả: không kỷ luật đối với 02 tổ chức này; yêu cầu lãnh đạo 02 đơn vị có giải pháp khắc phục những khuyết điểm trong thời gian tới.

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xử lý kỷ luật 15 cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý (Hạt Kiểm lâm huyện và Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Kon Rẫy); trong đó: cảnh cáo 07, khiển trách 08. Đồng thời chuyển công tác khác đối với đồng chí Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Kon Rẫy.

- Ủy ban nhân dân huyện Kon Rẫy đã tổ chức kiểm điểm tập thể Ủy ban nhân dân huyện và 10 thành viên của Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Rve; đồng thời xử lý kỷ luật 01 công chức của thị trấn Đăk Rve với hình thức khiển trách.

Sau khi nghe Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ báo cáo việc xem xét thi hành kỷ luật đối với tập thể Ban Thường vụ Huyện uỷ Kon Rẫy và cá nhân liên quan thuộc Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý; Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thống nhất:  Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, Ban Thường vụ Huyện uỷ Kon Rẫy đã thiếu kiểm tra, giám sát, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, để xảy ra tình trạng phá rừng phòng hộ làm rẫy trái pháp luật nhưng chưa phát hiện ngăn chặn kịp thời. Ủy ban nhân dân huyện Kon Rẫy chưa chủ động tham mưu, đề xuất triển khai thực hiện việc quản lý, bảo vệ rừng. Chi bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Kon Rẫy; Chi bộ Hạt Kiểm lâm huyện Kon Rẫy chưa làm tròn nhiệm vụ, thiếu trung thực trong báo cáo dẫn đến vi phạm kéo dài. Tuy nhiên, sau khi sự việc xảy ra, Ban Thường vụ Huyện uỷ Kon Rẫy đã chỉ đạo xử lý kiên quyết tập thể và cá nhân vi phạm, khắc phục hậu quả, trồng lại toàn bộ diện tích rừng bị phá tại khu vực đèo Măng Đen. Đồng thời ban hành nhiều văn bản chỉ đạo tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nhận thấy Ban Thường vụ Huyện uỷ Kon Rẫy và các cá nhân liên quan có vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật.

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ yêu cầu các cá nhân, tập thể căn cứ chức năng nhiệm vụ được phân công, khẩn trương rà soát, phát hiện những vi phạm về công tác quản lý, bảo vệ rừng; xác định địa bàn trọng điểm về công tác quản lý, bảo vệ rừng; trên cơ sở đó làm việc, ký kết quy chế phối hợp giữa các đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các ban quản lý với cấp uỷ, chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; thực hiện tốt việc phân công, phân nhiệm, phân cấp, uỷ quyền cho các tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý theo hướng rõ người, rõ việc. Thường xuyên tuyên truyền giáo dục cho nhân dân về công tác quản lý, bảo vệ rừng. Phối hợp với các cơ quan chức năng ở tỉnh rà soát quỹ đất trên địa bàn huyện Kon Rẫy để chuyển giao về địa phương sắp xếp, bố trí đất sản xuất cho nhân dân. Đồng thời tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, động viên kịp thời để nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy báo cáo Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh theo dõi.

C. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN

Trong tháng 11-2016, công tác tuyên truyền tập trung vào 02 nội dung trọng tâm sau:

1. Công tác tuyên truyền theo chủ đề, chủ điểm

- Tăng cường tuyên truyền Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tình hình triển khai học tập, quán triệt Chỉ thị ở các cấp, các ngành theo Kế hoạch số 16-KH/TU, ngày 16-9-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XV; biểu dương, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; cổ vũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

- Tuyên truyền nội dung Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tập trung vào các nội dung: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017; Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế; Thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

- Tiếp tục tuyên truyền Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 19-8-2016 về tiếp tục xây dựng các xã đặc biệt khó khăn trong tình hình mới; Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 23-8-2016 về tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số, giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 24-8-2016 về giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020; việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 30-6-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh và Kết luận số 04-KL/TU, ngày 13-01-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh.

- Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ, các sự kiện chính trị diễn ra trong tháng 11-2016, đậm nét là các hoạt động kỷ niệm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11), Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11); hướng tới kỷ niệm 85 năm cuộc đấu tranh Lưu huyết tại Ngục Kon Tum (12/12/1931-12/12/2016); 70 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946- 19/12/2016); tăng cường tuyên truyền về kết quả Đại hội Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh khoá XIII, nhiệm kỳ 2016 - 2021.

- Tiếp tục tuyên truyền phòng, chống dịch sốt xuất huyết theo chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy tại Công văn số 179-CV/TU ngày 05-9-2016. Trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến các kiến thức về bệnh sốt xuất huyết, tác hại của dịch bệnh đối với sức khỏe và tính mạng của con người nhằm nâng cao ý thức, phát huy tinh thần trách nhiệm của người dân trong việc phòng, chống dịch, nhất là công tác vệ sinh môi trường, diệt bọ gậy, lăng quăng ngay tại gia đình, cơ quan, đơn vị, ngủ có màn mùng.

2. Công tác tuyên truyền thường xuyên

- Tiếp tục tuyên truyền những nội dung cơ bản, những nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu, giải pháp đột phá trong Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; những thành tựu đạt được về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị và đối ngoại của tỉnh, của đất nước trong thời kỳ đổi mới, nhất là thành tựu sau 25 năm thành lập lại tỉnh; kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016-2020.

- Tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực phát triển kinh tế; xây dựng nông thôn mới; xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa; bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh… Bồi dưỡng, xây dựng các điển hình tiên tiến của địa phương, ngành mình. Phát động phong trào học tập, thi đua với các điển hình tiên tiến trong quá trình triển khai thực hiện, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

- Tiếp tục tuyên truyền, cổ vũ các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2016; các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017; kết quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh, trong đó chú ý đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền quảng bá thương hiệu sâm Ngọc Linh Kon Tum và chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” đối với sản phẩm sâm củ; tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thích ứng với biến đổi khí hậu; công tác phòng, chống thiên tai, mưa bão; tăng cường tuyên truyền cảnh báo tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm, tai nạn giao thông, lừa đảo, cháy nổ mùa hanh khô; phòng chống dịch bệnh...

- Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta.

D. ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN NGÀY HỘI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở KHU DÂN CƯ NĂM 2016  

BBT đăng tải toàn văn Đề cương tuyên truyền Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư năm 2016 của Trung ương Mặt trận TQVN 

Kính thưa...

Trong năm qua nhân dân cả nước phấn khởi chào mừng thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; sôi nổi tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tích cực thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2016. Hôm nay, chúng ta vui mừng tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, kỷ niệm 86 năm Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2016). Nhân dịp này, chúng ta sơ kết, đánh giá kết quả một năm thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; biểu dương các tập thể, gia đình, cá nhân, những tấm gương tiêu biểu có nhiều thành tích trong phong trào thi đua yêu nước, thực hiện cuộc vận động và tổ chức các hoạt động thiết thực góp phần xây dựng cộng đồng dân cư của chúng ta ngày càng đoàn kết, ngày càng vững mạnh.

Kính thưa các quý vị đại biểu, thưa toàn thể bà con!

Đại đoàn kết chính là nội dung xuyên suốt và nhất quán trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phát huy cao nhất sức mạnh toàn dân tộc. Trong suốt cuộc đời hoạt động, Người đã không ngừng chăm lo, vun trồng cho sự nghiệp đoàn kết toàn dân, tập hợp lực lượng trong một Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Trải qua 86 năm ra đời và phát triển, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ sáng lập, từ Hội Phản đế đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát huy truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc ta, nhân lên gấp bội tinh thần yêu nước của mọi người Việt Nam, đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân trong Mặt trận thành một lực lượng hùng mạnh để đánh đuổi bè lũ thực dân, đế quốc, giành lại độc lập cho Tổ quốc, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.

Cùng với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam qua từng thời kỳ, Mặt trận Dân tộc thống nhất đã không ngừng được củng cố, mở rộng với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của mỗi giai đoạn lịch sử và đã có những cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc, trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Kế tục truyền thống của Hội Phản đế đồng minh và Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp đoàn kết vận động toàn dân tộc nổi dậy làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ngày nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt nhân dân ta đã kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và không ngừng lớn mạnh trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam. Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh Các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam, nhân dân ta đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử vẻ vang giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước.

Từ ngày nước nhà thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã động viên nhân dân tăng cường đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thách thức giành nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đưa đất nước chuyển sang thời kỳ phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, tháng 5 năm 1995, nhân kỷ niệm 105 năm ngày sinh của Người, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động trong cả nước cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” sau đó là Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Đây là Cuộc vận động nhân dân rộng lớn trong cả nước của thời kỳ đổi mới có nội dung toàn diện, diễn ra trong thời gian dài.

Qua 20 năm triển khai thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” cho thấy: Nội dung Cuộc vận động đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và gắn với nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương. Quá trình triển khai Cuộc vận động đã phát huy được tính tích cực, sáng tạo và nội lực của người dân, cộng đồng dân cư, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự ở từng địa bàn khu dân cư; đã khơi dậy truyền thống đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân, tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân thông qua hình thức tự quản ở cơ sở, tích cực xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh… Kết quả của Cuộc vận động đã góp phần quan trọng cùng Nhà nước thực hiện đường lối của Đảng về công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Từ thực tiễn 20 năm triển khai Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và 15 năm Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, kế thừa những kết quả quan trọng của hai cuộc vận động, khắc phục căn bản các hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện thời gian qua, đồng thời đảm bảo thống nhất nội dung trong công tác vận động các tầng lớp nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự, xây dựng cộng đồng dân cư phát triển, góp phần thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chương trình, đề án của Chính phủ về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững, nhân dịp kỷ niệm 85 năm Ngày truyền thống MTTQ Việt Nam, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã phát động Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôi mới, đô thị văn minh”. Cuộc vận động là cơ sở để MTTQ Việt Nam các cấp hiệp thương với các tổ chức thành viên, phối hợp với chính quyền các cấp để xây dựng và triển khai cụ thể chương trình phối hợp và thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam ở các cấp và mỗi địa phương.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và kết quả triển khai thực hiện Chương trình hành động nhiệm kỳ 2014 - 2019 của Đại hội lần thứ VIII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và yêu cầu, nhiệm vụ mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, phát huy mọi nguồn lực góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền quốc gia trong tình hình mới, nhất là chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; tham gia xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, giám sát cán bộ, đảng viên ở khu dân cư, để Đảng ta mãi xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân; mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ nêu trên.

Trong không khí tưng bừng, phấn khởi của Ngày hội đại Đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, mừng ngày truyền thống vẻ vang của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chúng ta vui mừng thấy rằng cộng đồng dân cư của chúng ta đã có nhiều chuyển biến, tiến bộ sau một thời gian triển khai thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, hơn 7 năm thực hiện Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta đã ngày càng được cải thiện.

Nhìn lại một năm qua, cộng đồng dân cư của chúng ta đã cố gắng, nỗ lực đoàn kết cùng nhau thực hiện có kết quả tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực của 5 nội dung Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.

Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc xây dựng cộng đồng dân cư tự quản và thực hiện ngày càng tốt hơn 5 nội dung của Cuộc vận động đòi hỏi bà con chúng ta phải bằng hành động thiết thực để tăng cường đoàn kết hơn nữa trong cộng đồng dân cư. Đoàn kết là sức mạnh vô địch để phát huy dân chủ thực sự, để khai thác và phát huy nội lực, để xây dựng cộng đồng dân cư của chúng ta ngày một phát triển; giảm nghèo bền vững, tăng hộ khá, hộ giàu chính đáng và hợp pháp; đường làng, ngõ phố phong quang sạch đẹp; không phát sinh có tệ nạn xã hội, không có người vi phạm pháp luật, thực hành dân chủ và giữ gìn kỷ cương phép nước; cuộc sống của mọi người, mọi nhà ngày càng ấm no, hạnh phúc, ai cũng có việc làm, ai cũng tham gia học tập, thôn xóm yên bình, môi trường sáng - xanh, sạch đẹp.

Kỷ niệm 86 năm Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, chúng ta khắc sâu lời dạy của Bác Hồ: “Chính sách Mặt trận là chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”, nguyện cùng nhau tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, triển khai có hiệu quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Đổi mới phương thức triển khai và nâng cao hiệu quả Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” theo hướng xác định nhiệm vụ trọng tâm công việc, đối tượng vận động hằng năm. Quán triệt và triển khai Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kính thưa các quý vị đại biểu, thưa toàn thể bà con!

Trong niềm vui của Ngày hội hôm nay, Ban công tác Mặt trận xin cảm ơn cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể các cấp đã quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn và theo sát mọi hoạt động của cộng đồng dân cư; xin nhiệt liệt biểu dương những thành tích đã đạt được của khu dân cư chúng ta, chân thành cảm ơn toàn thể bà con, các tổ chức trong cộng đồng dân cư, trong năm qua đã đồng tâm hiệp lực, đem sức lực, trí tuệ đóng góp xây dựng cộng đồng dân cư đạt nhiều kết quả tốt đẹp.

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.

Thành công, thành công, đại thành công.

BAN TUYÊN GIÁO - ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM

* Một số khẩu hiệu tuyên truyền

- Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công

- Toàn dân tích cực thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.

- Toàn dân đoàn kết xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa.

- Toàn dân đoàn kết xây dựng khu dân cư trong sạch, vững mạnh toàn diện.

E. TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI THÁNG 10 VÀ 10 THÁNG NĂM 2016

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2016: Tổng diện tích gieo trồng  (DTGT) cây hàng năm vụ mùa 2016 tỉnh Kon Tum ước đạt: 64.031 ha, tăng 0,15% (+93 ha) so với vụ mùa năm 2015.

Cây lúa DTGT: 16.779 ha, giảm 0,2% (-34 ha) so vụ mùa năm 2015. Trong đó: Cây lúa ruộng DTGT: 12.240 ha, tăng 0,6% (+69 ha) so vụ mùa năm 2015; Cây lúa rẫy DTGT: 4.539 ha, giảm 2,2% (-103 ha) so vụ mùa năm 2015. Diện tích gieo trồng cây lúa rẫy giảm do trồng lúa rẫy mang lại hiệu quả kinh tế không cao nên bà con chuyển sang trồng các loại cây khác như  bo bo, cà phê.

Cây ngô DTGT: 5.437 ha, giảm 2,34% (-130 ha) so vụ mùa năm 2015.

Cây sắn DTGT: 39.299 ha, giảm 0,47% (-187 ha) so vụ mùa năm 2015.

Rau các loại DTGT: 1.206 ha, tăng 7,3% (+82 ha) so vụ mùa năm 2015.

Đậu các loại DTGT: 402 ha, giảm 1,23% (-5 ha) so vụ mùa năm 2015.

Cây lạc DTGT: 181 ha, giảm 13,4% (-28 ha) so vụ mùa năm 2015. Diện tích cây lạc giảm do những năm trước nông dân tận dụng diện tích đất cây cao su, cây điều đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để trồng xen. Năm nay, một phần diện tích cây cao su, cây điều đã khép tán trưởng thành nên diện tích cây lạc giảm mạnh so với năm trước.

Hoa các loại DTGT: 114,9 ha, tăng 2% (+2,3 ha) so vụ mùa năm 2015.

Tính đến thời điểm hiện nay, cây trồng vụ mùa sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy đã xuất hiện hiện tượng sâu bệnh trên cây lúa, nhưng các trạm Bảo vệ thực vật và UBND các xã, phường đã chủ động hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh ngay từ khi mới xuất hiện cho bà con nên hầu hết các loại sâu, bệnh hại phát sinh đều được phòng trừ kịp thời.

+ Diện tích cây lâu năm

Ước tính đến thời điểm ngày 15/10/2016, tổng diện tích cây lâu năm trên địa bàn tỉnh là: 95.003 ha, tăng 1,59% (+1.487 ha) so cùng kỳ năm trước.

Diện tích cây cà phê ước đạt 16.541 ha, tăng 8,36% (+1.276 ha). Trong đó, diện tích trồng mới là 1.096 ha, diện tích tăng do kiểm kê đo đạc lại đất là 182 ha.

Diện tích cây cao su ước đạt 74.852 ha, tăng 0,1% (+76 ha). Trong đó, diện tích trồng mới cao su trên địa bàn tỉnh trồng được 560 ha, diện tích tổng số tăng thấp hơn diện tích trồng mới do công tác kiểm kê đo đạc lại đất và một số diện tích cao su trước đây nhân dân khai thác không đúng kỹ thuật làm giảm tuổi thọ thời kỳ kinh doanh nên phá bỏ (huyện Kon Rẫy, Ia H’Drai, Sa Thầy, thành phố Kon Tum). Diện tích cao su trồng mới tăng chủ yếu ở các nông trường quốc doanh. Từ đầu năm đến nay giá mủ cao su có tăng tuy nhiên vẫn chưa ổn định nên người dân chưa mạnh dạn đầu tư vào trồng mới cây cao su.

- Chăn nuôi:

Tình hình chăn nuôi trong tháng tổng đàn tương đối ổn định. Các dịch bệnh trong như: Lở mồm long móng, Cúm gia cầm và Tai xanh ở lợn không xảy ra.

b) Lâm nghiệp (ước tính đến 15/10/2016)

Công tác trồng rừng tập trung là 1.647 ha, giảm 17,57% (-351 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm là do chương trình Dự án phát triển lâm nghiệp (Flitch) trên địa bàn tỉnh năm 2015 đã kết thúc.

Cháy rừng: Đã xảy ra 4 vụ, với tổng diện tích thiệt hại là 30,5 ha giảm 4 vụ (-3,79 ha) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: 30 ha rừng tự nhiên (01 vụ cháy 10 ha thiệt hại 40%, 02 vụ cháy 20 ha không gây thiệt hại); 0,5 ha rừng trồng (01 vụ cháy, mức độ thiệt hại là 10%). Các vụ cháy rừng trên xảy ra trên các địa bàn huyện Kon Rẫy, Sa Thầy, Ia H’Drai, Ngọc Hồi và Đắk Hà. 

Vi phạm phá rừng : đã xảy ra 31 vụ với diện tích thiệt hại là 9,97 ha (+5,82 ha), giảm 24 vụ so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm phá rừng làm nương rẫy được các cơ quan chức đang điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Tổng lượng gỗ khai thác trên địa bàn tỉnh Kon Tum là 22.079 m3, tăng 5,92% (+1.234 m3) so với cùng kỳ năm trước; Nguyên nhân sản lượng khai thác gỗ tăng là do công tác khai thác chính của Công ty lâm nghiệp Đắk Tô và khai thác gỗ trên diện tích chuyển đổi xây dựng thủy điện Thượng Kon Tum huyện Kon Plong; chia ra: Khai thác chính phẩm, tận dụng gỗ rừng tự nhiên là: 8.929 m3; khai thác gỗ rừng trồng (chủ yếu rừng nguyên liệu giấy) là 13.150 m3.

Lượng củi khai thác là 219.900 ster, giảm  3,55% (-8.100 ster) so cùng kỳ năm trước; bao gồm: Củi tận dụng trên diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng doanh nghiệp khai thác là 2.102 ster; củi các hộ cá thể tự khai thác là 217.798 ster.

c) Thuỷ sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính là 617 ha, tăng 8,25% (+47 ha), so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản ước tính 10 tháng là 3.138 tấn, tăng 13,78% (+380 tấn), so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Sản lượng nuôi trồng nước ngọt ước là 1.860 tấn, tăng 13,55% (+222 tấn), so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác nước ngọt ước là 1.278 tấn, tăng 14,11% (+158 tấn), so với cùng kỳ năm trước.

2. Công nghiệp

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2016

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2016 ước tính tăng 3,99% so cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,72%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,93%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 5,63%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,87% so cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2016 ước tính tăng 12,35%.  Nguyên nhân chủ yếu do ngành công nghiệp chế biến tăng, đến tháng 10 các nhà máy sản xuất tinh bột sắn trên địa bàn tỉnh đã hoạt động ổn định do đã vào chính vụ thu hoạch nguyên liệu, lượng tinh bột sắn sản xuất tăng đã làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến tăng so tháng trước.

- Tình hình hoạt động  sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2016

Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2016 tăng 3,51% so cùng kỳ năm trước; Trong đó tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (+9,09%), ngành cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải tăng 5,98%; ngành công nghiệp khai khoáng tăng nhẹ (+2,85%); riêng ngành sản xuất và phân phối điện giảm 6,92% so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do từ những tháng cuối năm trước đến nay trên địa bàn tỉnh tình hình nắng hạn kéo dài, lượng nước ở các sông, hồ giảm thấp nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất.

Ước tính một số sản phẩm sản xuất trong 10 tháng  năm 2016 như sau: Đá xây dựng khai thác 500.108 m3, tăng 3,25% so cùng kỳ năm trước; Tinh bột sắn ước tính sản xuất 153.356 tấn, giảm 5,5% so cùng kỳ năm trước; lượng đường sản xuất 14.035 tấn, tăng 20,33% so cùng kỳ năm trước; bàn, ghế ước tính sản xuất 185.003 cái, tăng 13,87% so cùng kỳ, điện sản xuất ước tính 543,92 triệu Kwh, bằng 85,52% so cùng kỳ.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9 năm 2016  giảm 20,76% so cùng kỳ năm trước. Trong đó thấp nhất thuộc nhóm ngành sản xuất chế biến thực phẩm (-37,34%), nguyên nhân chính do sản phẩm tinh bột sắn tiêu thụ chậm; sản phẩm sản xuất thuộc các ngành như sản xuất trang phục, sản xuất bàn, ghế có chỉ số tiêu thụ tăng tương ứng theo sản lượng sản xuất ra.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thời điểm 01/10/2016 giảm 23,50% so cùng thời điểm tháng trước; Trong đó ngành chế biến thực phẩm có chỉ số giảm thấp nhất (-45,39%), nguyên nhân do Công ty Cổ phần Đường Kon Tum tạm ngừng sản xuất mùa vụ nên lượng tồn kho giảm mạnh; các ngành sản xuất khác tình hình tiêu thụ sản phẩm trong tháng tương đối thuận lợi nên chỉ số tồn kho đều giảm.

So cùng thời điểm năm trước chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,72%; Riêng ngành sản xuất tinh bột sắn chỉ số tồn kho tăng cao (+80,01%) do thị trường xuất khẩu khó khăn, ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 34,10% do sản lượng sản xuất tăng, lượng sản phẩm nhập kho cao, trong khi đó hiện một số công trình xây dựng chưa tập trung thi công nên lượng tiêu thụ chậm, các ngành còn lại có chỉ số tồn kho giảm so cùng thời điểm năm trước.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong 10 tháng năm 2016 hoạt động sản xuất tương đối ổn định, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so cùng kỳ năm trước; năm nay Công ty Cổ phần Đường Kon Tum ngoài nguồn nguyên liệu mía trong tỉnh còn thu mua thêm nguồn nguyên liệu mía ngoài tỉnh để sản xuất, thời gian hoạt động sản xuất kéo dài hơn so với năm trước nên sản phẩm đường sản xuất tăng cao. Thời điểm các nhà máy sản xuất tinh bột sắn đi vào hoạt động trở lại sau thời gian tạm nghỉ mùa vụ có trễ hơn năm trước do nguồn nguyên liệu còn ít, tuy nhiên trong tháng 10 đã hoạt động tương đối ổn định, sản phẩm tinh bột sắn sản xuất tăng hơn so cùng kỳ. Ngành sản xuất bàn, ghế đã giảm bớt những khó khăn, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ tương đối thuận lợi hơn. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định, lượng sản phẩm tồn kho tháng sau có xu hướng giảm so tháng trước. Đối với ngành sản xuất điện, sản lượng điện sản xuất trong 10 tháng năm 2016 giảm thấp so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do từ những tháng cuối của năm trước đến nay trên địa bàn tỉnh  nắng hạn kéo dài, lượng nước ở các hồ chứa giảm thấp nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất.

3. Vốn đầu tư

- Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển tháng 10 năm 2016 thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt 104.062 triệu đồng, Chia ra:

Nguồn vốn Ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 80.715 triệu đồng, chiếm 77,56%  trong tổng số nguồn vốn,  chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, công trình giao thông, giáo dục, y tế, cấp nước sinh hoạt nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới,... Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách tỉnh đạt 15.560 triệu đồng, chiếm  19,28%; Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 43.520 triệu đồng, chiếm 53,92 %; Nguồn vốn ODA  đạt 10.315 triệu đồng, chiếm 12,78%;  Nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 5.460 triệu đồng, chiếm 6,76% và nguồn vốn khác đạt 5.860 triệu đồng, chiếm 7,26% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh.

Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 23.326 triệu đồng, chiếm 22,42% trong tổng số nguồn vốn,  chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... trên địa bàn các  huyện, thành phố thuộc tỉnh. Trong đó: Nguồn vốn cân đối ngân sách huyện đạt 4.520 triệu đồng, chiếm 19,38%; Nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 15.256 triệu đồng, chiếm 65,40% và nguồn vốn khác đạt 3.550 triệu đồng, chiếm 15,22% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện.

Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 21  triệu đồng, chiếm 0,02% trên tổng số nguồn vốn.

- Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển 10 tháng năm 2016 thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt 992.056 triệu đồng. Chia ra:

Nguồn vốn Ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 766.480 triệu đồng, chiếm 77,26% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông nông thôn, giáo dục, y tế,... Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách tỉnh đạt 294.736 triệu đồng, chiếm 38,45%; Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 348.417 triệu đồng, chiếm 45,46%; Nguồn vốn ODA đạt 62.315 triệu đồng, chiếm 8,13%; Nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 31.741 triệu đồng, chiếm 4,14% và nguồn vốn khác đạt 29.271 triệu đồng, chiếm 3,82% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh.

Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt: 224.228 triệu đồng, chiếm 22,60% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh. Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách huyện đạt 96.000 triệu đồng, chiếm 42,81%; Nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 104.319 triệu đồng, chiếm 46,52% và nguồn vốn khác đạt 23.909 triệu đồng, chiếm 10,66% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện.

Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp xã đạt: 1.348 triệu đồng, chiếm 0,14% trên tổng số nguồn vốn.

Trong  10  tháng  năm  2016 vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, trụ sở UBND các xã, công trình thủy lợi, công trình cấp nước sinh hoạt, công trình giáo dục, y tế… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh.

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 10 năm 2016 đạt 1.102.547,5 triệu đồng, tăng 1,39% so với tháng trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 910.610,7 triệu đồng, chiếm 82,59% trong tổng mức và tăng 1,45% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 121.945,4 triệu đồng, chiếm 11,06% trong tổng mức và tăng 0,98% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 69.991,4 triệu đồng, chiếm 6,35% trong tổng mức và tăng 1,28% so với tháng trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính 10 tháng năm 2016 đạt 11.197.014,8 triệu đồng, tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 9.258.166,2 triệu đồng, chiếm 82,68% trong tổng mức và tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 1.237.390,3 triệu đồng, chiếm 11,05% trong tổng mức và tăng 14,51% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 701.458,3 triệu đồng, chiếm 6,27% trong tổng mức và tăng 8,49% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 10 tháng năm 2016 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: Trong những tháng đầu năm, giá cả nhìn chung ít biến động và phù hợp với thu nhập của số đông người tiêu dùng, một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng.

b) Xuất, nhập khẩu

- Xuất khẩu

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tháng 10 năm 2016 đạt 12.328 ngàn USD, tăng 35,79% so với số thực hiện tháng trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 9.000 tấn; Tinh bột sắn 2.000 tấn; Ván bóc 129 m3.

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 10 tháng năm 2016 đạt 68.659,1 ngàn USD tăng 66,41% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước. Chia ra: thành phần kinh tế Nhà nước 908,3 ngàn USD, chiếm 1,32% tổng kim ngạch xuất khẩu; thành phần kinh tế tư nhân 67.750,8 ngàn USD, chiếm 98,68% tổng kim ngạch xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 41.572,6 tấn; Sắn và các sản phẩm từ sắn (Tinh bột sắn) 22.035,8 tấn; Gỗ xẻ các loại 7.053,6 m3 ; Dây thun cao su 1.149,5 tấn; Cà phê nhân 1.098,3 tấn; Sản phẩm từ gỗ (bàn, ghế các loại) 131.033 cái. Bánh kẹo các loại 38,4 tấn; Rau củ quả 60,6 tấn; Ván bóc 477,5 m3; sắt thép 13,1 tấn.

- Nhập khẩu

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tháng 10 năm 2016 đạt 230 ngàn USD tăng 4,5% so với số thực hiện tháng trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: linh kiện máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh.

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn 10 tháng năm 2016 đạt 2.611 ngàn USD giảm 73,14% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 7.107 m3; Khoá thẻ Adel các loại 490 cái; Chất dẻo nguyên liệu (Precipitated Silica) 80 tấn; cà phê nhân 660 tấn; linh kiện máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh.

Nguyên nhân: tổng kim ngạch nhập khẩu ước tính 10 tháng năm 2016 giảm so với cùng kỳ năm trước là do lượng nhập khẩu mặt hàng gỗ giảm mạnh làm cho kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước.  

c) Chỉ số giá

Ước tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2016 tăng 0,86% so với tháng trước; tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,35% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân tác động chủ yếu là do giá xăng, dầu, ga và giá dịch vụ y tế tăng.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 05 nhóm tăng: nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,02%; nhóm Đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và Vật liệu xây dựng tăng 0,55%; nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 18,28%; nhóm Giao thông tăng 2,19%. Có 02 nhóm ổn định: nhóm Bưu chính viễn thông; nhóm Giáo dục. Có 04 nhóm giảm: nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,09%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04%; nhóm Văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,11%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,02%.

Trong các nhóm hàng hóa tăng, tăng cao ở các nhóm là: nhóm Thuốc và dịch vụ y tế (tăng 18,28%), nguyên nhân là do giá dịch vụ y tế tăng theo nội dung Văn bản số 7354/BYT-KH-TC ngày 07 tháng 10 năm 2016 của Bộ Y tế về việc thực hiện  giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế bao gồm cả chi phí tiền lương của 16 tỉnh, thành phố (đợt 2) trong đó có tỉnh Kon Tum; Nhóm Giao thông (tăng 2,19%), là do giá xăng, dầu tăng từ ngày 05/10/2016; Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 0,55%) là do giá ga tăng 5,19%.

d) Vận tải

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 10 năm 2016

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 10 năm 2016 đạt 106.425,13 triệu đồng, giảm 0,39% so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 41.102,65 triệu đồng, giảm      1,5%; Vận chuyển ước tính đạt 788,77 nghìn lượt khách, giảm 2,08%; Luân chuyển ước tính đạt 99.390,85 nghìn lượt khách.km, giảm 1,42% so với tháng trước.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 64.906,9 triệu đồng, tăng 0,32%; Vận chuyển ước tính đạt 779,38 nghìn tấn, tăng 0,3%; Luân chuyển ước tính đạt 38.209,78 nghìn tấn.km, tăng 0,24% so với tháng trước.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước tính đạt 415,58 triệu đồng, tăng 1,96%.

Hoạt động vận tải hành khách trong tháng giảm là do nhu cầu đi lại của người dân giảm, nhất là lượng học sinh, sinh viên đã ổn định việc đi lại. Doanh thu vận tải hàng hóa trong tháng có chiều hướng tăng nhẹ so với tháng trước là do hoạt động vận tải hàng hóa phục vụ ngành xây dựng tăng trở lại sau các tháng mùa mưa.

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính 10 tháng năm 2016

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 10 tháng năm 2016 đạt 1.084.561,42 triệu đồng, tăng 11,97 % so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 411.304,65 triệu đồng, tăng 13,04%; Vận chuyển ước tính đạt 7.974,04 nghìn lượt khách, tăng 11,55%; Luân chuyển ước tính đạt 1.009.814,07 nghìn lượt khách.km, tăng 9,65% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 669.130,58 triệu đồng, tăng  11,28%; Vận chuyển ước tính đạt 7.961,63 nghìn tấn, tăng 12,0%; Luân chuyển ước tính đạt 396.197,69 nghìn tấn.km, tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước tính đạt 4.126,19 triệu đồng, tăng 19,35% .

5. Một số vấn đề xã hội 

a) Y Tế tháng 9/2016

Bệnh tay - chân - miệng: Trong tháng, ghi nhận 51 ca mắc mới (Sa Thầy 34, Đắk Glei 11, Đắk Hà 02, Kon Tum 02, Kon Rẫy 01, Tu Mơ Rông 01), tăng 07 ca so với tháng trước và tăng 46 ca so với tháng 9/2015. Lũy tích đến 30/9/2016, ghi nhận 280 ca mắc, tăng 218 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng, ghi nhận 458 ca mắc mới (Tp. Kon Tum 200, Đắk Hà 77, Đắk Tô 67, Ngọc Hồi 55, Đắk Glei 24, Sa Thầy 24, Kon Rẫy 09, Kon Plong 02), giảm 351 ca so với tháng trước và tăng 427 ca so với tháng 9/2015, không có trường hợp tử vong. Lũy tích đến 30/9/2016, ghi nhận 2.844 ca mắc, tăng 2.755 ca (gấp 31,9 lần) so với cùng kỳ năm trước, 02 trường hợp tử vong.

Bệnh thủy đậu: Trong tháng, ghi nhận 11 ca mắc mới (Đắk Glei 06, Sa Thầy 03, Kon Rẫy 01, Đắk Hà 01), bằng với tháng trước và giảm 39 ca so với tháng 9/2015. Lũy tích đến 30/9/2016, ghi nhận 623 ca mắc, tăng 09 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Bệnh quai bị: Trong tháng, ghi nhận 14 ca mắc mới (Đắk Hà 05, Đắk Tô 05, Kon Tum 02, Tu Mơ Rông 02), giảm 1 ca so với tháng trước, giảm 88 ca so với 9/2015. Lũy tích đến 30/9/2016, ghi nhận 524 ca mắc, giảm 04 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Bệnh Viêm não Nhật Bản: Trong tháng, ghi nhận 01 ca mắc mới (thôn Pêng sal Pêng- xã Đắk Pét- huyện Đắk Glei), giảm 02 ca so với tháng trước. Lũy tích đến 30/9/2016, ghi nhận 05 ca mắc, tăng so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Sốt rét: Trong tháng, ghi nhận 20 ca mắc mới, bằng so với tháng trước và giảm 35 ca so với tháng 9/2015. Lũy tích đến 30/9/2016, toàn tỉnh ghi nhận 239 ca mắc, giảm 110 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Tổng số bệnh nhân lao mới phát hiện trong tháng 16 bệnh nhân (AFB (+): 10; AFB(-): 5; lao ngoài phổi: 1), tăng 6 bệnh nhân so với tháng trước. Tổng số bệnh nhân tâm thần mới phát hiện 15 người (tâm thần phân liệt: 5; động kinh: 10).

Nhìn chung, trong tháng tình hình mắc các bệnh sốt xuất huyết, tay - chân - miệng, viêm não Nhật Bản, thủy đậu, quai bị giảm so với tháng trước; không ghi nhận mắc mới các bệnh bạch hầu, cúm A (H5N1, H7N9, H1N1) ở người, Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona (MERS-CoV), bệnh do vi rút Zika.

Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng ghi nhận 02 trường hợp nhiễm HIV mới, 03 bệnh nhân AIDS, 01 bệnh nhân tử vong. Lũy tích nhiễm HIV/AIDS tính đến ngày 30/9/2016 là 423 người, trong đó bệnh nhân AIDS 238, tử vong 150. Tổng số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị thuốc ARV 89 người (người lớn: 85 và trẻ em: 4), đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone cho 69 bệnh nhân.

An toàn vệ sinh thực phẩm:

Trong tháng, không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm, tổng số ca mắc lẻ tẻ là 18 ca, chủ yếu do ăn uống không đảm bảo vệ sinh. Tính đến 30/9/2016 có 04 vụ ngộ độc thực phẩm với 25 người mắc; không có trường hợp tử vong.

Kiểm tra an toàn thực phẩm trong dịp tết Trung thu tại 749 cơ sở kinh doanh có 555 cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm chiếm tỷ lệ 74,1%; Xử phạt vi phạm hành chính 40 cơ sở vi phạm với số tiền là 41.650.000 đồng.

Khám chữa bệnh: Tình hình bệnh nhân đến khám, chữa bệnh trong tháng tăng so với tháng trước chủ yếu là ở Phòng khám Đa khoa khu vực và Trạm Y tế xã; tổng số lượt khám chữa bệnh trên toàn tỉnh 91.517 lượt người, tăng 0,5% so với tháng trước. Số lượt bệnh nhân điều trị nội trú 7.548 lượt người, giảm 8,6% so với tháng trước.

b) Giáo dục

Sở Giáo dục và Đào tạo thành lập đoàn công tác kiểm tra tình hình đầu năm học mới nhằm hướng dẫn, giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học (Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, phòng học, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn, bàn ghế học sinh; Tình hình đội ngũ giáo viên, nhân viên thừa, thiếu; Nhu cầu về nhân viên cấp dưỡng, y tế; Việc thực hiện chế độ chính sách cho giáo viên và học sinh...).

Hiện nay trường Trung cấp y tế Kon Tum và các trường Cao đẳng, Phân hiệu đại học trên địa bàn tỉnh đang gấp rút cho đợt tuyển sinh và chuẩn bị khai giảng năm học 2016-2017.

c) Hoạt động văn hóa, thể thao

Tiến tới chào mừng Đại hội Hội LHPN tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2016 -2021, ngày 27/9, Hội LHPN tỉnh tổ chức Hội diễn văn nghệ toàn tỉnh lần thứ III. Tham gia Hội diễn có 13 đơn vị đến từ Hội LHPN 10 huyện, thành phố; Phụ nữ Công an tỉnh; Phụ nữ Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh; Phụ nữ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh.

Ngày 7/10, tại Trung tâm Văn hóa tỉnh, UBND tỉnh Kon Tum phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”.Triển lãm lần này, nhiều tư liệu, văn bản, ấn phẩm và gần 100 bản đồ được trưng bày. Đây là tập hợp các nguồn tư liệu đã được công bố từ trước đến nay của các nhà nghiên cứu, học giả ở trong nước và quốc tế. Bản đồ và tư liệu được trưng bày tại triển lãm là một phần bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông. Các tư liệu cho thấy nhà nước Việt Nam từ thời kỳ phong kiến, đến thời kỳ xã hội chủ nghĩa ngày nay đã khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và nhiều vùng biển đảo khác thuộc lãnh thổ Việt Nam. Đó là một quá trình liên tục, lâu dài, diễn ra trong hòa bình, được ghi nhận trong nhiều nguồn sử liệu của Việt Nam và các nước, đặc biệt là những tư liệu, bản đồ được soạn vẽ, xuất bản từ thế kỷ XVI đến nay ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. 

d) Tình hình an ninh trật tự - an toàn giao thông

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 9/2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 38 vụ (tăng 07 vụ so với tháng trước). Trong đó: Giết người 01 vụ, trộm cắp tài sản 20 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cố ý gây thương tích 09 vụ, hiếp dâm 03 vụ, đánh bạc 01 vụ, cưỡng đoạt tài sản 01 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ 01 vụ. Hậu quả: Chết 01 người, bị thương 11 người. Thiệt hại: Mất 01 xe ô tô, 08 xe mô tô, 1.200 USD, 28.000.000 đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 246.000.000 đồng. Thu giữ 112.790.000 đồng tiền mặt.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 04 vụ (tăng 02 vụ so với tháng trước). Hậu quả: Chết 04 người (tăng 01 người), hư hỏng 03 xe ô tô, 05 xe mô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 1.843 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 538 phương tiện, 809 giấy tờ xe các loại; trong tháng đã xử phạt hành chính 2.019 trường hợp, thu 864.925.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Tình hình ANTT – ATGT 9 tháng năm 2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 307 vụ. Trong đó: Giết người 06 vụ, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ, cố ý gây thương tích 64 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 06 vụ, cố ý gây thương tích + cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản 131 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 03 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 05 vụ, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cưỡng đoạt tài sản 02 vụ, tàng trữ mua bán trái phép chất ma túy 16 vụ, đánh bạc 20 vụ, gây rối trật tự công cộng 05 vụ, vận chuyển buôn bán hàng cấm 04 vụ, cướp giật tài sản 02 vụ, cướp tài sản 05 vụ, cưỡng đoạt tài sản 02 vụ, trốn khỏi nơi giam giữ 01 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 04 vụ, hiếp dâm 13  vụ (trong đó hiếp dâm trẻ em 06 vụ), giao cấu với trẻ em 04 vụ, môi giới mại dâm 01 vụ, hủy hoại tài sản 07 vụ, tàng trữ  trái phép vũ khí quân dụng 01 vụ, vận chuyển lâm sản trái pháp luật 01 vụ, vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ 01 vụ. Hậu quả: Chết 07 người, bị thương 77 người. Thiệt hại: mất 02 xe ô tô, 49 xe mô tô, 01 ti vi, 30 ĐTDĐ, 02 bộ máy tính để bàn, 02 laptop, 1.200 USD, 4.305.320.000 đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 2.040.734.000 đồng. Thu giữ: 6,282m3 gỗ các loại, 13 xe mô tô, 23 ĐTDĐ, 01 mã tấu, 3,273 gam  ma túy tổng hợp, 20 gói ma túy, 1,534 gam heroin, 10,45 kg pháo nổ, 1.540 gói thuốc lá, 09 quả pháo, 01 hộp pháo (loại 36 ống) và 192.380.000 đồng tiền mặt.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 52 vụ. Hậu quả: Chết 54 người, bị thương 39 người, hư hỏng 31 xe ô tô, 61 xe mô tô, 01 máy cày, 01 máy kéo.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 14.920 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 6.449 phương tiện, 7.364 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 16.663 trường hợp, thu 6.091.789.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

e) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng xảy ra 03 vụ cháy, trong đó: cháy nhà dân 02 vụ, cháy lò sấy gỗ 01 vụ, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 65 triệu đồng, nguyên nhân do chập điện 02 vụ, vi phạm về an toàn PCCC trong quá trình sấy gỗ 01 vụ. Lũy kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 21 vụ cháy, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 2.522 triệu đồng.

G. TIN TỨC- SỰ KIỆN

I. TIN TRONG TỈNH

1. Từ ngày 7 đến ngày 11-10 tại Trung tâm Văn hóa tỉnh (số 68 Lê Hồng Phong, TP.Kon Tum), Bộ Thông tin – Truyền thông phối hợp với UBND tỉnh tổ chức Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý".

Dự Lễ khai mạc có các đồng chí: Nguyễn Văn Hùng – Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh; Y Mửi – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ; Nguyễn Văn Hoà – Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh; A Pớt – Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh uỷ; Trần Bình Trọng – Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh; Đoàn Công Huynh - Vụ trưởng Vụ Thông tin cơ sở, Trưởng Ban Tổ chức Triển lãm (Bộ Thông tin và Truyền thông); các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; đại diện một số cơ quan Trung ương; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể, huyện, thành phố và hơn 500 cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, sinh viên, học sinh và nhân dân trên địa bàn tỉnh.

Triển lãm với nhiều tư liệu, văn bản, hiện vật, ấn phẩm và gần 100 bản đồ - một phần bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển Đông, được tập hợp từ các nguồn tư liệu đã được công bố từ trước đến nay của các nhà nghiên cứu, học giả trong nước và quốc tế được chia thành 11 nhóm tư liệu chính.

11 nhóm tư liệu chính gồm phiên bản của các văn bản Hán – Nôm, văn bản Việt ngữ và Pháp ngữ do triều đình phong kiến Việt Nam và chính quyền Pháp ở Đông Dương ban hành từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, khẳng định quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đặc biệt là các châu bản triều Nguyễn (từ triều Gia Long đến triều Bảo Đại) ban hành liên quan trực tiếp đến vấn đề khai thác, quản lý, xác lập và thực thi chủ tuyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bên cạnh đó còn có phiên bản của các văn bản hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam ban hành trong thời kỳ 1954 – 1975; phiên bản của các văn bản hành chính của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành từ năm 1975 đến nay; một số tư liệu, ấn phẩm do các nước phương Tây biên soạn và xuất bản từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX; một số hình ảnh tư liệu về quán trình thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ những năm 1930 đến khi Trung Quốc xâm chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa bằng trận "hải chiến Hoàng Sa" ngày 19/1/1974.

Cùng với những tư liệu khẳng định thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và những vùng biển đảo khác thuộc lãnh thổ Việt Nam, triển lãm còn trưng bày bộ sưu tập 65 bản đồ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Việt Nam, phương Tây công bố từ thế kỷ XVII đến nay như: 4 tập bản đồ và 30 bản đồ cho nhà nước Trung Quốc xuất bản và phát hành chính thức qua các thời kỳ lịch sử cho thấy Trung Quốc không hề quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Xisha và Nansha và đòi hỏi chủ quyền đối với 2 quần đảo này. Trong đó, đáng chú ý là 4 cuốn bản đồ do nhà Thanh và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc xuất bản và cả tái bản sau này thì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn nằm ngoài cái gọi là "chủ quyền lịch sử của Trung Quốc" như họ vẫn tuyên bố hiện nay.

Cũng là bộ bản đồ, bộ bản đồ Universel do Philippe Vandermaelen (1795 – 1869), nhà địa lý học người Bỉ, người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ biên soạn gồm 6 tập. Trong đó có bản đồ Partie de la Cochinchine ở tập 2 khẳng định Paracels (quần đảo Hoàng Sa) là thuộc Việt Nam. Đây là tài liệu vô giá, không chỉ về mặt học thuật, mà còn là một tài liệu có giá trị pháp lý góp thêm vào bộ hồ sơ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngoài tư liệu, bản đồ, Triển lãm còn trưng bày các công trình nghiên cứu, ấn phẩm của các học giả Việt Nam và nước ngoài về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được xuất bản từ năm 1975 cho đến nay.

Triển lãm còn thể hiện sự quan tâm sâu sắc, tình cảm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, quân đội và các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân với các hoạt động hướng về Hoàng Sa, Trường Sa như: Nghĩa tình Hoàng Sa, Trường Sa; triệu trái tim hướng về biển đảo quê hương... thông qua việc trưng bày bộ tư liệu với chủ đề "Hoàng Sa, Trường Sa trong trái tim Việt Nam". Ngoài ra, người xem sẽ như đang sống tại huyện đảo Trường Sa với một số hình ảnh tư liệu về hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện đảo Trường Sa trơng thời kỳ CNH-HĐH đất nước.

Triển lãm còn trưng bày một số hình ảnh các bộ Tem về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; về khai thác dầu khí; phong cảnh quê hương đất nước Việt Nam và một số hình ảnh về quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh Kon Tum; hình ảnh về Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của tỉnh.

Bản đồ và tư liệu trưng bày tại Triển lãm là một phần bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển Đông. Các tư liệu cho thấy nhà nước Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến thời kỳ XHCN ngày nay, đã khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và nhiều vùng đảo khác thuộc lãnh thổ Việt Nam. Đó là một quá trình dài liên tục, lâu dài, diễn ra trong hòa bình, được ghi nhận trong nhiều nguồn sử liệu của Việt Nam và các nước, đặc biệt là những tư liệu, bản đồ được soạn vẽ, xuất bản từ thế kỷ XVI đến nay ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.

Phát biểu tại buổi Lễ khai mạc, đồng chí Lại Xuân Lâm - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban tổ chức triển lãm tỉnh Kon Tum khẳng định: Triển lãm là hoạt động thông tin, tuyên truyền quan trọng, góp phần cung cấp chứng cứ lịch sử, pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; bác bỏ những luận điệu xuyên tạc lịch sử, những yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam và các vùng biển đảo khác trên Biển Đông. Qua đó nâng cao nhận thức của nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum hướng về biển đảo, chung tay góp sức động viên kịp thời đối với chiến sĩ Hải quân, lực lượng chấp pháp trên biển, đảo vững niềm tin, vượt qua khó khăn bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Đồng chí đề nghị các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, doanh nghiêp, cơ quan thông tấn báo chí trên địa bàn tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền biển - đảo, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; đóng góp tinh thần và vật chất để xây dựng, bảo vệ chủ quyền biển - đảo của Tổ quốc.

Sau khi cắt băng khai mạc Triển lãm, các đồng chí lãnh đạo tỉnh và đông đảo cán bộ, chiến sĩ, học sinh, các tầng lớp nhân dân đã tham quan, tìm hiểu các hiện vật, tư liệu, bản đồ, hình ảnh trưng bày tại Triển lãm.

Đây là cuộc Triển lãm thứ 70 do Bộ Thông tin - Truyền thông phối hợp với các địa phương trên cả nước tổ chức và Kon Tum là tỉnh thứ 49/63 tỉnh, thành phố đã thực hiện. Triển lãm bản bồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam – Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tổ chức tại Kon Tum kéo dài từ ngày 07 đến 11/10/2016.

Thông qua triển lãm nhằm khẳng định lập trường chính nghĩa của Việt Nam, nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm của nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân tỉnh Kon Tum nói riêng trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn, phát huy tinh thần đoàn kết và nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân trong xã hội về vị trí, tầm quan trọng và sự cần thiết phải tổ chức, quản lý việc khai thác, sử dụng tài nguyên biển một cách hiệu quả, bền vững.

2. Sáng 12-10, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến Học tập, quán triệt Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" với 91 điểm cầu trong cả nước

Tham dự Hội nghị tại điểm cầu tỉnh Kon Tum có các đồng chí: Y Mửi – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Hòa – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; A Pớt – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy; các đồng chí trong BTV Tỉnh ủy, nguyên Ủy viên BTV Tỉnh ủy; các đồng chí Tỉnh ủy viên; trưởng, phó các phòng, ban của HĐND tỉnh, ban tham mưu Tỉnh ủy; các sở, ngành, Mặt trận và các đoàn thể của tỉnh; các huyện, thành phố; báo cáo viên Tỉnh ủy và các huyện, thành phố. Ngoài điểm cầu chính tại Hội trường Ngọc Linh, Hội nghị được kết nối với các huyện, thành phố trong tỉnh.

Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe GS.TS Hoàng Chí Bảo – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt chuyên đề "Những vấn đề cơ bản, cốt lõi về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương quán triệt Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03-KH/TW, ngày 25-7-2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đạt được kết quả bước đầu, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Tuy nhiên, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh còn có những hạn chế, chưa trở thành việc làm thường xuyên, chưa thành ý thức tự giác của không ít tổ chức đảng, cơ quan, địa phương, đơn vị và một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ngày 15-5-2016, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 05-CT/TW về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

Để thực hiện Chỉ thị này, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Kế hoạch 03-KH/TW ngày 25-7-2016 với 6 nội dung chủ yếu: Tổ chức học tập và xây dựng kế hoạch làm theo các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề bức xúc, nổi cộm của địa phương, cơ quan, đơn vị; Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng, đạo đức phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam; Tiếp tục chỉ đạo biên soạn chương trình, giáo trình về tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh; Công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và xác định nội dung đột phá nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

Nhân dịp này, nhiều tập thể, cá nhân trong toàn quốc được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2015; trong đó, tỉnh Kon Tum có 04 tập thể, 07 cá nhân.

3. Sáng 14-10, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh tổ chức Lễ phát động “Tháng cao điểm vì người nghèo” năm 2016.

Đến dự có các đồng chí: Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Trần Bình Trọng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; Nguyễn Thế Hải - Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Trần Thị Nga - Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang, các địa phương, cùng đông đảo các nhà tài trợ đóng chân trên địa bàn tỉnh. 

Tại buổi lễ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh cho biết, 9 tháng đầu năm nay, “Quỹ Vì người nghèo” tỉnh vận động được trên 25,5 tỷ đồng và đã hỗ trợ gần 23,5 tỷ đồng cho người nghèo bằng việc xây dựng và sửa chữa “Nhà đại đoàn kết”, khám chữa bệnh, đầu tư phát triển sản xuất, tặng đồ dùng học tập cho học sinh nghèo vượt khó, quà nhân các ngày lễ tết…

Trong thời gian tới, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia thực hiện mục tiêu giảm nghèo; tuyên truyền mục đích, ý nghĩa và kết quả huy động “Quỹ Vì người nghèo” tạo sự chuyển biến sâu rộng về nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội trong việc chăm lo cho người nghèo.

Bên cạnh đó, phổ biến kịp thời các chủ trương, chính sách giảm nghèo của Nhà nước đến với người nghèo; giới thiệu những mô hình giảm nghèo hiệu quả, những kinh nghiệm hay trong các hoạt động giảm nghèo để nhân ra diện rộng; đa dạng hóa việc huy động các nguồn lực vào mục đích giảm nghèo của tỉnh. Đặc biệt, tiếp tục kêu gọi, vận động các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh ủng hộ “Quỹ Vì người nghèo” các cấp trong tỉnh.

Nhân dịp này, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã tặng Bằng khen cho 13 tập thể, 7 cá nhân vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác chăm lo cho người nghèo năm 2016.

Tại buổi lễ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã tiếp nhận đăng ký ủng hộ, đăng ký vận động “Quỹ vì người nghèo” tỉnh, Chương trình An sinh xã hội tỉnh năm 2017 của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong tỉnh được trên 8,216 tỷ đồng. Trong đó có 111,9 triệu đồng tiền mặt được các đơn vị, tổ chức, cá nhân trao ngay trong buổi lễ phát động này.

4. Ngày 13 và 14-10, các đồng chí: Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Hòa - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; A Pớt - Phó Bí thư Tỉnh ủy đã đi thăm, tặng lẵng hoa chúc mừng Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy nhân Kỷ niệm ngày truyền thống.

Thăm và chúc mừng tập thể cán bộ Ban Tổ chức Tỉnh ủy nhân Kỷ niệm 86 năm Ngày truyền thống Ngành Tổ chức xây dựng Đảng (14/101930 – 14/10/2016), thay mặt Thường trực Tỉnh ủy, đồng chí Y Mửi chúc toàn thể cán bộ, công chức ngành Tổ chức xây dựng Đảng mạnh khỏe, hạnh phúc; ghi nhận, biểu dương những thành tích mà ngành đã đạt được trong công tác tổ chức, cán bộ thời gian qua, đặc biệt là trong cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp, đã thể hiện rõ vai trò, cái tâm, cái tầm của người lãnh đạo cũng như đội ngũ công chức của ngành.

Đề nghị thời gian tới, tập thể cán bộ, công chức trong ngành tiếp tục phát huy những thành tích đạt được, khắc phục tồn tại, khó khăn; rà soát lại tất cả công việc đã làm, chưa làm để chủ động phương hướng giải quyết, khắc phục; tiếp tục đoàn kết, đồng thuận; triển khai thực hiện đúng quy trình, quy định, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy về công tác tổ chức, cán bộ; chú trọng tới việc rà soát, tham mưu, giới thiệu bổ sung cán bộ trẻ, cán bộ nữ và cán bộ là người DTTS, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XV của tỉnh. 

Thăm và chúc mừng tập thể cán bộ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy nhân kỷ niệm 68 năm Ngày truyền thống Ngành Kiểm tra Đảng, đồng chí Y Mửi đánh giá cao nỗ lực của tập thể Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy và đội ngũ những cán bộ làm công tác kiểm tra Đảng các cấp nói chung đã làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng; đặc biệt là công tác chuẩn bị nhân sự kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra Đảng luôn phát huy truyền thống vẻ vang của ngành “Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, trung thực, liêm khiết, kỷ cương và tận tụy”.

Đồng chí đề nghị, để góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, trong thời gian tới ngoài việc tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho Tỉnh ủy về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy cần đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra Đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Thăm và chúc mừng tập thể cán bộ Ban Dân vận Tỉnh ủy nhân Kỷ niệm 86 năm Ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng, thay mặt Thường trực Tỉnh ủy, đồng chí Y Mửi ghi nhận những nỗ lực của Ban Dân vận Tỉnh ủy trong công tác tham mưu cho Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy về công tác vận động quần chúng, dân tộc, tôn giáo, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là tham mưu triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết của Tỉnh ủy về xây dựng xã kết nghĩa đặc biệt khó khăn, góp phần phát triển kinh tế, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đồng chí Y Mửi nhấn mạnh: Công tác dân vận là một mặt công tác cơ bản của Đảng, nhân tố quan trọng góp phần củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, vì vậy, trong thời gian tới, Ban Dân vận Tỉnh ủy vừa làm tốt công tác tham mưu cho Tỉnh ủy về công tác dân vận của Đảng; vừa phối hợp với các sở ngành, đơn vị, địa phương thực hiện tốt công tác dân vận cơ sở; bản thân mỗi cán bộ làm công tác dân vận phải khắc ghi lời Bác Hồ căn dặn “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

5. Ngày 19-10, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV tổ chức Hội nghị lần thứ 5. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì Hội nghị.

Hội nghị tập trung thảo luận, cho ý kiến đối với báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2017; báo cáo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; rà soát, bổ sung Quy hoạch Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và các chức danh chủ chốt nhiệm kỳ 2015 - 2020; báo cáo kết quả kiểm điểm, xử lý kỷ luật đối với tập thể, cá nhân có liên quan đến vụ phá rừng phòng hộ trái pháp luật tại đèo Măng Đen, huyện Kon Rẫy.

Sau 01 ngày làm việc khẩn trương, tích cực, Hội nghị đã hoàn thành nội dung, chương trình đề ra.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh cơ bản thống nhất các chỉ tiêu kinh tế, xã hội tại Tờ trình của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về các chỉ tiêu năm 2017: tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh khoảng 9%; cơ cấu kinh tế: nông-lâm-thủy sản đạt 28-29%, công nghiệp-xây dựng 24-25%, thương mại-dịch vụ 30-40%; thu nhập bình quân đầu người trên 34 triệu đồng; tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 1.831 triệu đồng; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 80 triệu USD; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 46%; tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2017 giảm 3-4% so với cuối năm 2016; có 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới vào cuối năm 2017; tỷ lệ bao phủ bao hiểm y tế đạt 86,8%; tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 62,84%; tỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường 100%.

Trên cơ sở Kết luận của Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh giao Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo Ban cán sự Đảng UBND tỉnh, Đảng đoàn HĐND tỉnh chỉ đạo việc trình và quyết định tại kỳ họp thứ 3 HĐND tỉnh khóa XI với quyết tâm chính trị cao nhất, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh.

Sau khi cho ý kiến về việc rà soát, bổ sung Quy hoạch Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và các chức danh chủ chốt nhiệm kỳ 2015-2020, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh giao Ban Thường vụ Tỉnh ủy triển khai các bước tiếp theo để quy hoạch sớm được phê duyệt, làm cơ sở để triển khai thực hiện trong thời gian tới.

Phát biểu bế mạc hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng đề nghị, ngay sau Hội nghị này, các cấp, các ngành, nhất là các đồng chí Tỉnh ủy viên phải nỗ lực hơn nữa, tăng cường bám, nắm tình hình cơ sở để chỉ đạo tháo gỡ, xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc; huy động mọi nguồn lực để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của năm 2016 đã đề ra; chú trọng bình ổn giá cả thị trường những tháng cuối năm 2016 và trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017; tăng cường thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu công; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để đẩy mạnh thu hút đầu tư; tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; đẩy mạnh đầu tư phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp; triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả các chính sách đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.

Để kết luận của Tỉnh ủy được quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện có kết quả, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đề nghị các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, các cấp, các ngành phát huy truyền thống đoàn kết, nhất trí, đồng lòng, tập trung quán triệt và triển khai thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các nhiệm vụ, kế hoạch công tác đã đề ra, phấn đấu thực hiện đạt và vượt các mục tiêu, kế hoạch của năm 2016 và năm 2017, tạo tiền đề căn bản, vững chắc cho các năm tiếp theo.

II. TIN TRONG NƯỚC

1. Một số kết quả quan trọng Hội nghi Trung ương 4 (khóa XII)

Từ ngày 09 đến 14/10/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã họp Hội nghị lần thứ tư để bàn và quyết định một số nội dung quan trọng.

Thứ nhất, ban hành Kết luận về tình hình kinh tế-xã hội, ngân sách Nhà nước năm 2016, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách Nhà nước năm 2017.

Năm 2016, nhờ có sự đổi mới mạnh mẽ, năng động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện và sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức, một số chỉ tiêu tăng trưởng quan trọng không đạt kế hoạch đề ra… Dự báo, đến cuối năm 2016, có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức 11/13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Mục tiêu tổng quát năm 2017 là: Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo chuyển biến rõ rệt về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế... Giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, tạo môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2017: (1) Ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; (2) Tập trung tháo gỡ khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; (3) Tái cơ cấu nền kinh tế một cách thực chất, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; (4) Phát triển văn hoá, xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; (5) Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên; (6) Xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương; (7) Giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; (8) Thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; (9) Đẩy mạnh thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội.

Thứ hai, ban hành Nghị quyết về Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thời gian qua, chủ trương của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng đã được cụ thể hoá, thực hiện đạt được kết quả bước đầu... Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng ở nước ta còn chậm được đổi mới, về cơ bản vẫn theo mô hình cũ; tăng trưởng vẫn dựa chủ yếu vào tăng đầu tư và tăng số lượng lao động, chưa dựa nhiều vào tăng năng suất lao động, ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới tổ chức sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế... Thời gian tới, cần nhận thức, quán triệt đầy đủ và sâu sắc hơn nữa quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng, coi đây là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu của nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Thứ ba, ban hành Nghị quyết về thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị-xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp và đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu; cần tập trung khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nhân, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam... Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế. Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân, nhận thức đầy đủ, đúng đắn về cơ hội và thách thức từ việc thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; không ảo tưởng, mất cảnh giác và cũng không lo lắng thái quá, dẫn đến thiếu sự chủ động, tự tin cần thiết.

Thứ tư, ban hành Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.

Đại hội XII của Đảng đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, đồng bộ, trong đó nhấn mạnh phải tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, với trọng tâm là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Điểm mới của lần này là Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân. Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Trung ương thống nhất phải tiến hành đồng bộ nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm về: giáo dục chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; cơ chế, chính sách; kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Để Nghị quyết Trung ương 4 đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến rõ rệt, cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện.

Thứ năm, ngoài các vấn đề nêu trên, tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, nhân dân, đất nước, đã xem xét kỹ lưỡng, toàn diện các vấn đề liên quan đến việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận; nhất trí cao với Tờ trình của Bộ Chính trị. Đồng thời, giao cho Bộ Chính trị chỉ đạo Ban Cán sự Đảng Chính phủ phối hợp với Đảng đoàn Quốc hội tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, hoàn thiện báo cáo trình Quốc hội xem xét, quyết định.

 Ban Chấp hành Trung ương kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tăng cường đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần này, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

2. Một số nét đáng chú ý về tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2016

- Tăng trưởng kinh tế: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2016 ước tính tăng 5,93% so với cùng kỳ năm 2015, tiếp tục xu hướng tăng trưởng GDP quý sau cao hơn quý trước (Quý I tăng 5,48%, quý II tăng 5,78% và ước tính quý III tăng 6,40%).

- Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 1006,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2015 và bằng 33,1% GDP.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 2,07% so với bình quân cùng kỳ năm 2015, cao hơn so với mức tăng 0,74% của bình quân cùng kỳ năm 2015, nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng CPI bình quân 9 tháng của một số năm gần đây.

Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2016 tăng 1,81% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

- Một số vấn đề xã hội: Cả nước có 251,2 nghìn lượt hộ thiếu đói, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2015, tương ứng với 1040,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 15,4%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 16,8 nghìn tấn lương thực, riêng tháng 9 hỗ trợ 775 tấn lương thực. Tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 9 tháng năm 2016 là 4.677 tỷ đồng.

Bên cạnh kết quả quan trọng đã đạt được, kinh tế - xã hội nước ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Tốc độ tăng trưởng chưa đạt như kỳ vọng, xuất nhập khẩu chưa có nhiều cải thiện. Đời sống nhân dân ở các vùng bị thiên tai, vùng bị ô nhiễm môi trường còn gặp nhiều khó khăn. Trong thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, kiểm soát lạm phát; điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế.

Hai là, tập trung thực hiện đẩy nhanh tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để thích nghi với biến đổi khí hậu. Tiếp tục đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước bảo đảm công khai, minh bạch.

Ba là, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Tiếp tục thực hiện hỗ trợ vùng bị thiệt hại do thiên tai. Khẩn trương triển khai thực hiện bồi thường, hỗ trợ người dân ở các tỉnh miền Trung bị thiệt hại do sự cố ô nhiễm môi trường biển.

3. Các cấp, các ngành tích cực triển khai nhiều giải pháp để sớm ổn định cuộc sống người dân 4 tỉnh miền Trung

Ngay sau khi sự cố môi trường biển do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Công ty Formosa Hà Tĩnh) gây ra, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành khẩn trương triển khai nhiều giải pháp nhằm ổn định cuộc sống cho người dân và khôi phục hệ sinh thái biển. Ngày 29/9/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1880/QÐ-TTg về việc định mức bồi thường cho các đối tượng bị thiệt hại do sự cố môi trường biển. Có bảy nhóm đối tượng tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế được xác định bồi thường, gồm: khai thác hải sản; nuôi trồng thủy sản; sản xuất muối; hoạt động kinh doanh thủy sản ven biển; dịch vụ hậu cần nghề cá; dịch vụ du lịch, thương mại ven biển; thu mua, tạm trữ thủy sản. Thời gian tính bồi thường thiệt hại tối đa là 6 tháng, từ tháng 4/2016 đến hết tháng 9/2016. Nguồn kinh phí hỗ trợ lấy từ nguồn do Công ty Formosa Hà Tĩnh đền bù. Ngoài các chính sách chung từ Chính phủ, các địa phương căn cứ tình hình cụ thể đã chủ động hỗ trợ giúp người dân sớm ổn định cuộc sống. Cụ thể là:

Tỉnh Hà Tĩnh, hỗ trợ gạo cho các ngư dân; hỗ trợ cho 5.012 chủ tàu, thuyền với số tiền hơn 23 tỷ đồng; cấp miễn phí 100% cho người dân trong vùng bị ảnh hưởng môi trường khi mua thẻ bảo hiểm y tế; thành lập 25 cửa hàng thu mua hải sản an toàn cho ngư dân; hỗ trợ 50% chi phí tiền điện cho các kho đông lạnh tạm trữ hải sản từ tháng 4 đến tháng 9-2016…

Tỉnh Quảng Bình, đã trích ngân sách hỗ trợ cho các tàu, thuyền phải ngừng đánh bắt trong vùng bị ô nhiễm; hỗ trợ 20% giá cho các doanh nghiệp, đại lý, hộ thu mua hải sản trong tỉnh; cấp 5.500 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cứu đói cho các gia đình ngư dân. Trong đó, đợt 01 đã cấp 3.000 tấn gạo, dự kiến đợt 02 sẽ cấp tiếp 2.500 tấn gạo vào tháng 11-2016.

Tỉnh Quảng Trị, trích gần 4 tỷ cho 1.700 hộ ngư dân vay vốn với lãi suất ưu đãi để ngư dân chuyển đổi nghề. Khuyến khích, hỗ trợ các địa phương đầu tư xây dựng các mô hình gia trại, nông trại vùng cát (điển hình như ở xã Triệu Vân, huyện Triệu Phong đến nay đã xây dựng được 90 mô hình gia trại trồng xen canh các loại dưa, xây dựng chuồng trại chăn nuôi lợn, cho thu nhập ổn định); miễn thu học phí năm học 2016 - 2017 đối với học sinh có hộ khẩu thường trú tại 16 xã vùng biển bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển (13.000 học sinh ở các bậc học mầm non, tiểu học, THCS và THPT) với tổng số tiền là 3,8 tỷ đồng.

Tỉnh Thừa Thiên - Huế, hỗ trợ 6 tháng lương thực (15 kg gạo/tháng/01người) cho người dân trong vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển (gồm 27 xã của 5 huyện, thị), với tổng số gạo là 2.800 tấn; hỗ trợ tiền cho các tàu đánh cá ven bờ, người nuôi trồng thủy sản với tổng số tiền hơn 14 tỷ đồng. Các ngân hàng thương mại cho vay để thu mua, tạm trữ hải sản an toàn với số tiền 6,4 tỷ đồng…

Để các chính sách hỗ trợ của Chính phủ và của các địa phương sớm được triển khai và phát huy hiệu quả, giúp người dân nhanh chóng ổn định cuộc sống, cấp ủy các cấp cần làm tốt một số nhiệm vụ sau:

Một là, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền về các chủ trương Đảng, chính sách của Chính phủ cũng như của các địa phương về việc khắc phục sự cố môi trường biển gây ra. Thực hiện việc đền bù cho các đối tượng bị thiệt hại; tiếp tục đôn đốc, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ. Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân.

Hai là, tuyên truyền trong các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết hậu quả do sự cố môi trường biển gây ra, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch đang lợi dụng triệt để sự cố này để kích động nhân dân đi khiếu kiện đông người, biểu tình, gây rối làm mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác các luận điểm và các thông tin xấu độc do các tổ chức tự nhận là “xã hội dân sự ở Việt Nam” tung tin.

Ba là, tiếp tục rà soát, xác định trách nhiệm của các bộ ngành, địa phương, đặc biệt là làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong quá trình quản lý, đầu tư xây dựng Dự án Khu liên hợp ngang thép và Cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh. Nếu có vi phạm xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, không bao che cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.

4. Một số vấn đề đáng quan tâm về tình hình phát triển kinh tế-xã hội vùng 53 dân tộc thiểu số

Vùng dân tộc thiểu số và miền núi chiếm gần 3/4 diện tích của cả nước, là địa bàn cư trú chủ yếu của 53 dân tộc thiểu số (DTTS) với 13,39 triệu người (tính đến ngày 1/7/2015), chiếm khoảng 14,6% dân số cả nước. Đây là vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, có nhiều tiềm năng lợi thế phát triển lâm nghiệp, thủy điện…Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế -xã hội đối với vùng DTTS đã được ban hành. Hệ thống chính sách thực hiện khá toàn diện, đối tượng thụ hưởng bao phủ các địa bàn, đến hộ gia đình và đến từng dân tộc thiểu số cụ thể. Nhờ đó, vùng dân tộc thiểu số đã có những thay đổi căn bản, nhất là vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Tuy nhiên, vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn: Về an sinh xã hội: Tỷ lệ hộ nghèo của DTTS là 23,1%, cao hơn 3,3 lần mức chung cả nước (7%). Một số dân tộc có tỷ lệ hộ nghèo cao như La Hủ 84%, Mảng 80%... Tỷ lệ cận nghèo cũng khá cao, như dân tộc La Chí 25,9%, Bố Y 24,5%, Phù Lá 22,1%...; số hộ DTTS ở nhà tạm chiếm 15,5%, cao hơn mức 9,6% của cả nước; 25% số hộ DTTS chưa được tiếp cận với nguồn nước hợp vệ sinh. Về văn hóa xã hội: có 44% số xã thuộc vùng dân tộc có nhà văn hóa xã và gần 3% số xã đang xây nhà văn hóa. Một số tỉnh có số xã thuộc vùng dân tộc chưa có nhà văn hóa xã chiếm tỷ lệ cao là Lạng Sơn (168 xã), Cao Bằng (156 xã), Hòa Bình (150 xã)…; tỷ lệ kết hôn là tảo hôn ở vùng dân tộc thiểu số là rất cao (tính riêng trong năm 2014 đã có 25% số vụ kết hôn là tảo hôn), chủ yếu là những dân tộc sinh sống ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, như dân tộc Ơ Đu 72,7%, Mông 59,7%, Xinh Mun 56,3%. Đáng chú ý là, tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào DTTS cao (6,5%o). Nổi cộm là ở dân tộc Mạ 44,1%o, Mảng 43,6%, Mnông 40,2%o. Về giáo dục, đào tạo: có 21% số người DTTS trên 15 tuổi không thể đọc, viết và hiểu bằng chữ phổ thông. Một số dân tộc có tỷ lệ cao như La Hủ 65,6%, Lự 57,2%, Mảng 56,2%... Về y tế: chỉ có 45,8% số xã có trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020 và khoảng 1/5 số xã có trạm y tế đạt chuẩn y tế giai đoạn 2001-2010. Điều đáng quan tâm là, cán bộ, nhân viên y tế là người dân tộc thiểu số chỉ chiếm 49,1% trong tổng số (26.557 người) cán bộ, nhân viên y tế tại các trạm y tế vùng dân tộc thiểu số.

Để các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đến với vùng dân tộc thiểu số đạt hiệu quả cao, đề nghị các cấp, ngành cần triển khai thực hiện tốt một số công việc sau:

Một là, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân tộc, nhất là đối với các dân tộc thiểu số đang gặp nhiều khó khăn.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các chính sách về công tác dân tộc đến đông đảo các đối tượng thụ hưởng. Đề cao sự giám sát của nhân dân, để người dân trực tiếp tham gia vào quá trình triển khai thực hiện chính sách, phát huy nội lực, tự vươn lên thoát nghèo của đồng bào.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc triển khai thực hiện các chính sách về phát triển kinh tế -xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số. Bố trí đủ nguồn lực để triển khai thực hiện các chính sách đã được ban hành.

5. Những điểm cần lưu ý khi triển khai Quyết định 1167/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh chỉ tiêu thực hiện bảo hiểm y tế giai đoạn 2016-2020

Ngày 28/6/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1167/QĐ-TTg về việc điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện Bảo hiểm y tế giai đoạn 2016 - 2020 (thay thế Quyết định số 1584/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu thực hiện bảo hiểm y tế giai đoạn 2015-2020), trong đó có một số điểm cần lưu ý sau: 

- Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

Căn cứ vào chỉ tiêu được giao, Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua chỉ tiêu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, 5 năm của địa phương; Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện đảm bảo chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm y tế tại địa phương đó.

Từng địa phương có trách nhiệm huy động mọi nguồn lực để hỗ trợ thêm cho người dân tham gia bảo hiểm y tế, cụ thể: Tập trung hỗ trợ người thuộc hộ gia đình cận nghèo, bảo đảm sớm đạt mục tiêu 100% người thuộc hộ gia đình cận nghèo được tham gia bảo hiểm y tế; hỗ trợ người thuộc hộ gia đình nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình; học sinh, sinh viên để tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của các nhóm đối tượng này.

Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế trên địa bàn. Chỉ đạo việc thực hiện chỉ tiêu phát triển bảo hiểm y tế của Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã.

- Đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam:

Chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ về công tác bảo hiểm y tế. Tăng cường công tác phối hợp với các bộ, ngành đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những giải pháp, cơ chế, chính sách liên quan đến việc phát triển đối tượng tham gia, đóng bảo hiểm y tế và tổ chức triển khai thực hiện.

Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, đổi mới hình thức, nội dung tuyên truyền dưới nhiều hình thức để cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể và mọi người dân nắm vững về ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo hiểm y tế và nghĩa vụ của mỗi người trong việc tham gia bảo hiểm y tế.

Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tham gia bảo hiểm y tế. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo hiểm y tế tại các đơn vị, tổ chức sử dụng lao động, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

- Ngoài ra, các Bộ: Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách tham gia bảo hiểm y tế đối với các đối tượng theo quy định.

III. TIN THẾ GIỚI

1. Quan hệ Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế

- Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm chính thức CHDCND Lào, Vương quốc Cam-pu-chia, CHLB Mi-an-ma và tham dự Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông - Nam Á lần thứ 37 (AIPA-37) từ ngày 27 đến 30/9/2016. Đây cũng là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân trên cương vị Chủ tịch Quốc hội khóa XIV. Tại Lào, hai bên nhất trí tăng cường giám sát về những thỏa thuận hợp tác đã được Chính phủ hai nước ký kết; xây dựng chương trình hợp tác, nhất là trao đổi kinh nghiệm của đại biểu nữ hai nước; đề xuất xây dựng một chương trình hợp tác trao đổi kinh nghiệm về hoạt động của Hội đồng nhân dân và đại biểu Quốc hội giữa các tỉnh cùng chung biên giới. Tại Cam-pu-chia, hai bên nhất trí sẽ giải quyết những vấn đề tồn đọng trên toàn tuyến biên giới hai nước để xây dựng một đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Việt Nam đề xuất với Cam-pu-chia đẩy mạnh ký kết hiệp định song phương, đặc biệt là sửa đổi, bổ sung Nghị định thư về chính sách khuyến khích và hỗ trợ đầu tư của Việt Nam, Cam-pu-chia, để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, kinh doanh. Tại Mi-an-ma, hai bên nhất trí thúc đẩy các cơ quan của hai Chính phủ triển khai các cơ chế hợp tác quan trọng, trong đó có việc tổ chức Kỳ họp lần thứ 9 Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương Việt Nam - Mi-an-ma trong năm 2016; tiếp tục tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa hai Quốc hội, nhất là trong việc xây dựng thể chế, hệ thống pháp luật và công tác giám sát triển khai thực hiện pháp luật.

- Tổng thống Cộng hòa Phi-lip-pin Rô-đờ-ri-gô Roa Đu-téc-tê thăm chính thức Việt Nam từ ngày 28-29/9/2016. Hai bên ra Tuyên bố chung nhất trí tăng cường trao đổi đoàn các cấp và giao lưu nhân dân; tổ chức kỳ họp lần thứ 9 của Uỷ ban hợp tác song phương cấp Bộ trưởng Ngoại giao tại Philippines trong năm 2017; tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước đầu tư vào các lĩnh vực nông nghiệp, chế biến thực phẩm, dịch vụ du lịch, cơ sở hạ tầng…; thúc đẩy các cơ chế hợp tác biển đã được thiết lập như đường dây nóng giữa cơ quan bảo vệ bờ biển của hai nước và áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn và an ninh cho ngư dân hai nước; khẳng định cam kết duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, cũng như thương mại không bị cản trở trong khu vực, đặc biệt là ở Biển Đông; kêu gọi các bên kiềm chế, không đe dọa vũ lực hoặc sử dụng vũ lực, tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao, pháp lý, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), đồng thời tái khẳng định lập trường của mỗi nước về Phán quyết của Toà Trọng tài về Biển Đông.

- Quan hệ Việt Nam và Liên minh kinh tế Á-Âu: Ngày 05/10/2016, Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Liên minh kinh tế Á-Âu (EAEU-gồm Nga, Bê-la-rút, Ca-dắc-xtan, Ác-mê-ni-a và Cư-gơ-xtan) và Việt Nam chính thức có hiệu lực. FTA giữa EAEU và Việt Nam được hai bên khởi động từ tháng 3/2013. Qua 2 năm đàm phán với 8 phiên chính thức và nhiều cuộc gặp gỡ giữa các kỳ họp, ngày 29/5/2015, Thủ tướng chính phủ các nước đã chính thức ký Hiệp định này tại Ca-dắc-xtan. Sau khi hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ áp dụng 0% thuế hải quan cho các nhà cung cấp từ EAEU đối với 59% các hàng hóa. Sau giai đoạn chuyển tiếp, hầu hết sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp xuất khẩu của các nước EAEU đến Việt Nam sẽ được miễn thuế trong 10 năm. Như vậy, Việt Nam sẽ được quyền tiếp cận có tính ưu đãi đối với một thị trường chung rộng lớn của EAEU, với tổng GDP gần 2,2 nghìn tỷ USD và EAEU được hưởng ưu đãi xúc tiến các sản phẩm của mình vào Việt Nam.

2. Một số tình hình thế giới đáng chú ý thời gian gần đây

- Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các hoạt động sai trái: Vừa qua, Trung Quốc tiến hành cái gọi là bầu cử đại biểu Đại hội hội đại biểu nhân dân khóa 2 “thành phố Tam Sa” (theo cách gọi của Trung Quốc) cũng như tiến hành tuần tra ở khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trước sự việc trên, ngày 03/10/2016, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ: “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc tổ chức bầu cử đại biểu Đại hội hội đại biểu nhân dân của cái gọi là “thành phố Tam Sa” là phi pháp và tiến hành tuần tra trái phép ở khu vực vùng biển quần đảo Hoàng Sa đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam. Những hành động phi pháp đó không thể thay đổi sự thực về chủ quyền của Việt Nam đối với 02 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt ngay các hoạt động sai trái nói trên, nghiêm túc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam – Trung Quốc”.

- Trung Quốc và Nga diễn tập quân sự: Từ ngày 12 đến 19/9/2016, Hải quân Trung Quốc và Nga đã phối hợp tổ chức cuộc diễn tập mang tên “Hợp tác biển -2016” (Joint Sea-2016) tại khu vực ngoài khơi tỉnh Quảng Đông, phía Đông Bắc đảo Hải Nam (Biển Đông), trong bối cảnh tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng, nhất là từ sau phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ngày 12/7/2016 về vụ kiện Phi-líp-pin - Trung Quốc.

Lực lượng Nga tham gia gồm: 90 binh sỹ hải quân đánh bộ, 02 tàu khu trục lớp Udaloy, 01 tàu đổ bộ Ropucha, 02 tàu cung cấp hậu cần, 02 trực thăng thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Nga. Đây là lần đầu tiên Nga cử lực lượng “hùng hậu” nhất tham gia diễn tập chung với Trung Quốc. Về phía Trung Quốc, huy động: 160 binh sỹ hải quân đánh bộ 01 táu khu trục, 03 tàu Figat đa năng, 01 tàu đổ bộ, 02 tàu hậu cần, 02 tàu ngầm, 11 máy bay, 8 trực thăng, 12 xe bọc thép.

Mục đích của cuộc diễn tập “Joint Sea-2016”: (1) Tăng cường quan hệ quân sự Trung-Nga; (2) Thể hiện sự ủng hộ của Nga đối với Trung Quốc ở Biển Đông, cũng như phản bác lại phán quyết của PCA; (3) Thách thức vị thế sức mạnh của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương; (4) Răn đe các nước có tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung Quốc.

Cuộc diễn tập “Joint Sea-2016” của Nga và Trung Quốc đã gây lo ngại đối với các nước trong khu vực về việc Trung Quốc có thể sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Trong khi các nước ASEAN đang nỗ lực tìm kiếm sự ủng hộ và giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, nhằm ngăn chặn âm mưu bành trướng trên biển của Trung Quốc, thì Nga tuyên bố ủng hộ lập trường của Trung Quốc đối với phán quyết của PCA và phản đối quốc tế hóa tranh chấp trên biển và tham gia diễn tập “Joint Sea-2016” với Trung Quốc trên Biển Đông, càng làm cho các nước ASEAN lo ngại và cảnh giác trong quan hệ với Nga.

3. Về “cuộc chiến” chống tham nhũng ở Trung Quốc thời gian gần đây

Kể từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền lãnh đạo đất nước, Trung Quốc đã phát động một “chiến dịch” chống tham nhũng lớn có tên gọi “đả hổ diệt ruồi” và sau thêm chữ “săn cáo”. Trong đó có những biện pháp chính sau:

Một là, nâng cao vai trò của các cơ quan thanh tra, kỷ luật, trong đó có Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của ông Vương Kỳ Sơn, Ủy ban này đã trở thành một cơ quan quyền lực lớn chưa từng có: Về nhân sự, Ủy ban có 39 ủy viên từ bộ trưởng trở lên, trong đó có 13 người trực tiếp tham gia các tiểu tổ cải cách toàn diện và trực tiếp tham gia vào hoạch định chính sách do Tập Cận Bình đứng đầu. Về nhiệm vụ, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc (kể từ năm 1949), Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương Trung Quốc không chỉ có chức năng thanh tra, kiểm tra và thực thi kỷ luật trong Đảng mà còn trực tiếp tham gia vào việc hoạch định chính sách và khi cần có thể điều động các Ủy viên của Ủy ban này tham gia làm lãnh đạo chủ chốt ở các địa phương.

Hai là, tăng cường công tác minh bạch tài sản của cán bộ công chức và lập riêng Ủy ban thu hồi tài sản đối với cán bộ chạy chốn ra nước ngoài. Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương Trung Quốc đã phát động chiến dịch “Lưới trời thiên la”, cử đặc vụ sang Mỹ và một số nước để truy bắt các quan chức chạy chốn. Theo thống kê, ở Trung Quốc có khoảng 1.900 quan chức nằm trong danh sách để bắt nhưng đã chạy ra nước ngoài (đến nay đã bắt và đưa về nước khoảng 1.000 người).

Ba là, tăng cường thanh tra các địa phương: Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương Trung Quốc đã thực hiện việc thanh tra tại 31 tỉnh, thành phố (tại tỉnh Vân Nam đã xử lý kỷ luật cả Bí thư và Chủ tịch tỉnh về tội tham nhũng).

Bốn là, đẩy mạnh thực thi tiết kiệm chống tham nhũng trên phạm vi toàn quốc. Năm 2016, chiến dịch chống tham nhũng của Trung Quốc tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước “cán bộ nào tham nhũng đến mức từ 3 triệu USD trở lên sẽ bị tử hình”. Từ đầu năm 2016 đến nay, 12 lãnh đạo của các tập đoàn lớn ở Trung Quốc đã bị bắt, trong đó có 2 tập đoàn viễn thông lớn của Trung Quốc là Chinacom và ChinaTelecom.

Sau hơn 3 năm thực hiện “chiến dịch” chống tham nhũng, đã có 3 Ủy viên Bộ Chính trị, 25 Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (chính thức và dự khuyết), 100 cán bộ từ cấp thứ trưởng trở lên, 53 sĩ quan từ cấp thiếu tướng trở lên đã bị bắt, bị điều tra hoặc truy tố (đã có 16 người tự tử). Tỉnh nào ở Trung Quốc cũng có ít nhất 01 quan chức cấp cao bị bắt. Hiện nay, Trung Quốc đang phát động “Chiến dịch Panama” lần thứ 2 để tiếp tục truy quét các đối tượng đang chốn ở nước ngoài.

Qua kết quả cụ thể của quá trình chống tham nhũng ở Trung Quốc cho thấy, mặc dù ông Tập Cận Bình đã kiểm soát được Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương nhưng trên thực tế ông đã tạo thêm nhiều kẻ thù từ bên trong bộ máy. Hiện nay, trong bộ máy lãnh đạo của Trung Quốc, những người nào không dính đến tham nhũng, ngại hành động, ngại ra quyết sách khiến bộ máy lãnh đạo trong toàn hệ thống chính trị thụ động, không ai dám nhận trách nhiệm, còn những người có “vết ố”, “vết chàm” tìm mọi cách che đậy.

 

 

________

Số lượt xem:1330
Bài viết trước:
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 09-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 08-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 07-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 06-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 05-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 04-2016
Icon  Tài liệu tập huấn công tác tuyên truyền miệng, tổ chức tại Đà Nẵng, tháng 3-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 03-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 02-2016
    LIÊN KẾT
Trang chủ   |   Liên hệ   
Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum; Điện thoại: 060.3862301; Email: thongtintuyengiaokontum@gmail.com hoặc phiemkt@gmail.com.
Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này