Thứ 3, ngày 27 tháng 6 năm 2017  TimKiem
  VĂN BẢN NGHIÊN CỨU
TÀI LIỆU TẬP HUẤN, BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CƠ SỞ
12/20/2013 6:14:30 AM

ĐỀ CƯƠNG TÀI LIỆU TẬP HUẤN, BỒI DƯỠNG

  NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CƠ SỞ

 

Biên soạn: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

 

 

CHUYÊN ĐỀ 1:

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG Ở CƠ SỞ.

 

Công tác tư tưởng ở cơ sở là một bộ phận hợp thành trong hoạt động lãnh đạo của tổ chức Đảng, là một nội dung công tác trọng yếu của hệ thống chính trị cơ sở. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng ở cơ sở là khâu cực kỳ quan trọng để phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, là hoạt động truyền bá và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, giá trị đạo đức đúng đắn, xây dựng niềm tin và lối sống lành mạnh, tiến bộ, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tính chủ động và sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phấn đấu“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ TƯ TƯỞNG VÀ HỆ TƯ TƯỞNG

1. Tư tưởng.

 - Tư tưởng, hệ tư tưởng phản ánh tồn tại xã hội, là sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn của cá nhân, cộng đồng, xã hội, là mặt biểu hiện cơ bản nhất của ý thức xã hội. Ý thức xã hội gồm các cấp độ: tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.

 - Mục đích của quá trình nhận thức của con người là nhằm phục vụ cho hoạt động thực tiễn, nên trong ý thức của mỗi người thực tiễn không hoàn toàn chỉ dừng lại ở các khái niệm, mà từ các khái niệm đó hình thành nên những chủ kiến, dự định chỉ đạo hành động của họ.

 - Như vậy, tư tưởng là phạm trù thuộc lĩnh vực ý thức, là kết quả của quá trình nhận thức hiện thực khách quan, trở thành kinh nghiệm và sự hiểu biết trong tâm trí mỗi con người, trở thành những chủ kiến, dự định, chương trình, kế hoạch, chi phối hành động của họ.

- Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng mang tính giai cấp. C.Mác, F.Ăngghen viết:" Mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị trước mình đều nhất thiết phải bảo vệ lợi ích của mọi thành viên trong xã hội, hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất có giá trị phổ biến "[1]. Trong hoạt động thực tiễn, con người có sự giao tiếp với nhau và do đó có tác động qua lại lẫn nhau về nhận thức và mục đích hoạt động. Vì vậy, trong xã hội tồn tại một cách khách quan quan hệ tư tưởng. Đó là sự tác động qua lại giữa người và người về tư tưởng.

Vì mục đích của mình, các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội đã chủ động tác động vào tư tưởng của các giai cấp, tầng lớp khác, để thuyết phục, lôi kéo họ đi theo mình trong hoạt động thực tiễn, hoạt động đó gọi là quá trình tư tưởng.

 Quá trình tư tưởng tồn tại một cách khách quan trong xã hội, bao gồm các hoạt động "sản xuất" ra hệ tư tưởng, truyền bá hệ tư tưởng trong xã hội và cổ vũ, động viên, lôi cuốn quần chúng đi theo mình. Sự tồn tại khách quan của quá trình tư tưởng trong xã hội là cơ sở để tiến hành công tác tư tưởng.

Tư tưởng có những đặc điểm chủ yếu là:

- Là phạm trù thuộc ý thức xã hội, do tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, nên tư tưởng phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Thực tiễn xã hội thay đổi, tư tưởng cũng bị thay đổi theo.

- Do con người có khả năng nắm bắt quy luật vận động của xã hội, định hướng được tương lai, nên có tư tưởng tiên tiến, vượt trước so với tồn tại xã hội, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển. Ngược lại, do gắn liền với lợi ích và sự lạc hậu tương đối của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, nên có tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển xã hội.

- Do con người luôn luôn hành động có mục đích, trước hết là vì lợi ích, nên tư tưởng con người gắn liền với lợi ích và đấu tranh tư tưởng gắn liền với đấu tranh giai cấp.F.Ăngghen viết:" Tất cả mọi cuộc đấu tranh trong lịch sử, không kể nó diễn ra trên địa hạt tôn giáo, triết học hay trên bất kỳ một địa hạt nào khác, thực ra chỉ là biểu hiện ít nhiều rõ rệt của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội".[2]

2. Hệ tư tưởng.

- Hệ tư tưởng là hệ thống các quan điểm của một giai cấp về quan hệ giữa người với người và con người với tự nhiên, phản ánh những vấn đề và những xung đột xã hội. Hệ tư tưởng là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng và xét cho cùng, nó phản ánh những quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội đang tồn tại.

Theo định nghĩa trên có thể nhấn mạnh mấy điểm chínhh của hệ tư tưởng là:

+ Trong xã hội có giai cấp, hệ tư tưởng là của một giai cấp nhất định, không có hệ tư tưởng chung của mọi giai cấp.

+ Hệ tư tưởng thể hiện thế giới quan, phương pháp luận và mục tiêu đấu tranh của giai cấp để giành hoặc giữ chính quyền.

+ Hệ tư tưởng phản ánh vị trí, lợi ích của một giai cấp, chiến lược, sách lược đấu tranh để giành lấy hoặc bảo vệ lợi ích của giai cấp đó trong xã hội.

+ Hệ tư tưởng mà chúng ta đang truyền bá, giáo dục và phát triển là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan, phương pháp luận, là hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại ngày nay; là nền tảng tư tưởng, lý luận của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối, chính sách của các Đảng Cộng sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện nước ta.

- Trong các xã hội có giai cấp, tất cả các giai cấp đều có tư tưởng riêng, nhưng chỉ có giai cấp nào đại diện cho một phương thức sản xuất mới có hệ tư tưởng riêng biệt, tư tưởng của họ mới có khả năng trở thành hệ tư tưởng.

Trong lịch sử xã hội loài người đã tồn tại 4 hệ tư tưởng, đó là:

+ Hệ tư tưởng của giai cấp chủ nô, đại diện cho phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ.

+ Hệ tư tưởng của giai cấp địa chủ, phong kiến đại diện cho phương thức sản xuất phong kiến.

+ Hệ tư tưởng của giai cấp tư sản đại diện cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

+ Hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, đại diện cho phương thức sản xuất Cộng sản tương lai.

- Quá trình hình thành hệ tư tưởng của một giai cấp gắn liền với sự trưởng thành của giai cấp đó, trước hết là sự ý thức được lợi ích của mình, qua đó mà tự giác, đoàn kết tham gia đấu tranh vì lợi ích chung. Nhưng tư tưởng của một giai cấp không tự động trở thành hệ tư tưởng, mà cần có những hoạt động về lý luận, thực tiễn của các vĩ nhân, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để xây dựng nên. Hệ tư tưởng của giai cấp chủ nô hình thành qua hoạt động của những nhà triết học cổ đại. Hệ tư tưởng phong kiến ở Trung Quốc hình thành qua các "nhà Nho". Ở Ấn Độ, qua các nhà hoạt động tôn giáo...Hệ tư tưởng tư sản hình thành qua các nhà " triết học ánh sáng" thế kỷ XVIII. Hệ tư tưởng vô sản hình thành qua các nhà cách mạng vĩ đại, như C.Mac, F.Ăngghen, V.I.Lênin. Hồ Chí Minh...

 Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống trị tìm mọi cách để làm cho hệ tư tưởng của họ chiếm địa vị thống trị trong tư tưởng xã hội. Các giai cấp bị trị có tư tưởng riêng biệt, nhưng chỉ với những giai cấp nhất định trong điều kiện nhất định mới có hệ tư tưởng. Giai cấp nô lệ, giai cấp nông dân có tư tưởng riêng của mình, nhưng không có hệ tư tưởng, do họ không đại diện cho một phương thức sản xuất. Chỉ có giai cấp vô sản, sinh ra từ quá trình công nghiệp hóa trong xã hội tư bản, đại diện cho một phương thức sản xuất mới đang xuất hiện những tiền đề cần thiết trong xã hội đó, nên họ là giai cấp bị trị duy nhất có hệ tư tưởng riêng biệt. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân là cơ sở vật chất để hình thành nên hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Hoạt động  lý luận và thực tiễn của những nhà tư tưởng của giai cấp vô sản, dù xuất thân từ thành phần giai cấp nào, tự nguyện đấu tranh vì lợi ích của giai cấp vô sản đã xây dựng nên hệ tư tưởng của giai cấp vô sản.

Công tác tuyên giáo là cụm từ chỉ các hoạt động tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra của tổ chức đảng về lĩnh vực tư tưởng, văn hoá và khoa giáo. Công tác tuyên giáo được tiến hành tại tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị, trường học, lực lượng vũ trang…, trong đó công tác tuyên giáo ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng bởi vai trò nền tảng của cơ sở trong hệ thống chính trị nước ta.

 

II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

1. Khái niệm.

Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm xây dựng, xác lập, phát triển, hoàn thiện hệ tư tưởng, phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp, chính đảng trong quần chúng, định hướng giá trị, tạo niềm tin và thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của mình.

Trong xã hội luôn luôn tồn tại quan hệ tư tưởng. Đó là sự tác động tự phát hay tự giác của người này, giai cấp này vào tư tưởng của người khác, giai cấp khác và ngược lại. Trong xã hội có phân chia giai cấp, các giai cấp đối kháng nhau về những lợi ích căn bản có yêu cầu "sản xuất " ra hệ tư tưởng để luận chứng cho sự tồn tại và lợi ích của giai cấp họ, truyền bá hệ tư tưởng đó trong xã hội để gây ảnh hưởng, lôi cuốn, thúc đẩy quần chúng hành động theo mình. Vì vậy, trong xã hội xuất hiện các quá trình tư tưởng: xây dựng, hoàn thiện, phát triển, phổ biến hệ tư tưởng.

Các giai cấp thống trị, thông qua đội ngũ những nhà tư tưởng và hệ thống các thiết chế tư tưởng luôn luôn tìm mọi cách tác động, chi phối các quan hệ tư tưởng và quá trình tư tưởng, nhằm biến hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong đời sống xã hội. Ngược lại, các giai cấp bị trị cũng có thể thông qua các nhà tư tưởng của giai cấp mình hình thành nên hệ tư tưởng và truyền bá hệ tư tưởng đó qua nhiều con đường khác nhau ( hợp pháp và không hợp pháp, công khai và bí mật) đến quần chúng.

* Các hình thái (bộ phận cấu thành) của công tác tư tưởng:

  Khi xem xét công tác tư tưởng như là một quá trình liên tục, V.I.Lênin xác định có ba hình thái chủ yếu là:

- Hình thái lý luận.

Đây là khâu đầu tiên của quá trình tư tưởng, nhằm "sản xuất" ra hệ tư tưởng, không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ tư tưởng để đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn. Hình thái lý luận bao gồm công tác nghiên cứu lý luận nhằm giải quyết những yêu cầu của thực tiễn, bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận đã có, chỉ đạo vận dụng vào trong thực tiễn phong phú và đa dạng, trở thành đường lối, quan điểm phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong mỗi thời kỳ. Nghiên cứu lý luận luôn luôn gắn liền với tổng kết thực tiễn, vì "thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý". Hình thái lý luận còn bao gồm giáo dục lý luận trong xã hội.

- Hình thái tuyên truyền.

Đây là hoạt động chủ yếu để phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng lý luận, đường lối, quan điểm của Đảng trong Đảng và trong xã hội. Mục đích của tuyên truyền là để hệ tư tưởng chiếm đị vị thống trị trong xã hội.

 - Hình thái cổ động.

 Đó là hoạt động cổ vũ, động viên quần chúng, lôi kéo quần chúng tham gia các phong trào hành động, biến tư tưởng, nhận thức của quần chúng thành hoạt động thực tiễn. Đây là khâu "chuyển hóa" nhận thức thành hành động của công tác tư tưởng.

* Các yếu tố trong công tác tư tưởng:

- Chủ thể công tác tư tưởng

Chủ thể công tác tư tưởng là những giai cấp, những tổ chức, những cộng đồng xã hội mà lợi ích của họ gắn liền với các hoạt động tư tưởng. Nó bao gồm chủ thể của hệ tư tưởng (một giai cấp, một chính đảng); các cơ quan và thiết chế tư tưởng được chủ thể hệ tư tưởng tổ chức ra, có chức năng sáng tạo, bảo quản, lưu giữ, truyền bá hệ tư tưởng (thường đồng nhất với hệ thống chính trị của giai cấp cầm quyền) và các nhà tư tưởng.

 Trong xã hội ta, chủ thể công tác tư tưởng là toàn Đảng (bao gồm toàn thể đảng viên trên các vị trí công tác của mình), toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó, ban tuyên giáo các cấp là một trong những lực lượng chuyên trách làm công tác tư tưởng.

 - Khách thể của công tác tư tưởng.

Khách thể của công tác tư tưởng là đối tượng chịu sự tác động về mặt tư tưởng của chủ thể. Khách thể của công tác tư tưởng theo ý nghĩa đó trước hết là nhận thức, thái độ, niềm tin và hành động của các cá nhân, tập thể, giai cấp, tầng lớp...trong toàn xã hội. Khách thể của công tác tư tưởng còn là ý thức xã hội, các quan hệ xã hội, quan hệ giữa người với người đang tồn tại trong xã hội.

Xét theo mối quan hệ của công tác tư tưởng trong Đảng và trong xã hội, cán bộ, đảng viên vừa là chủ thể, vừa là khách thể của công tác tư tưởng.

- Nội dung công tác tư tưởng.

Nội dung công tác tư tưởng là các mặt hoạt động mà chủ thể công tác tư tưởng phải tiến hành nhằm thực hiện mục đích đặt ra.

Tổng hợp các hình thái và xuất phát từ mục đích của công tác tư tưởng, nội dung của công tác tư tưởng bao gồm:

+ Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, hình thành và phát triển hệ tư tưởng, lý luận, vận dụng các quan điểm lý luận để xác định đường lối, quan điểm, chủ trương, giải pháp trong mỗi thời kỳ. (Ở cấp cơ sở chủ yếu là tổng kết thực tiễn).

+ Giáo dục lý luận chính trị, hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

+ Tuyên truyền và cổ động chính trị trong xã hội, vận động, thuyết phục, tổ chức, cổ vũ, động viên quần chúng, làm cho hệ tư tưởng vô sản chiếm địa vị thống trị trong tư tưởng xã hội.

+ Lãnh đạo và chỉ đạo hoạt động của các thiết chế công tác tư tưởng (các cơ quan nghiên cứu lý luận, các nhà trường, phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động văn hóa, văn nghệ...), thực hiện công tác tư tưởng.

+ Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

- Phương pháp công tác tư tưởng của Đảng.

Phương pháp công tác tư tưởng của Đảng là con đường, cách thức mà chủ thể sử dụng để truyền đạt và đối tượng sử dụng để lĩnh hội, tiếp nhận nội dung. Phương pháp công tác tư tưởng có nhiều loại, nhưng có thể khái quát thành 3 nhóm:

+ Nhóm phương pháp dùng lời nói.

+ Nhóm các phương pháp trực quan.

+ Nhóm các phương pháp thực tiễn

- Phương tiện công tác tư tưởng.

Phương tiện công tác tư tưởng là những công cụ công tác của chủ thể và công cụ mà nhờ nó đối tượng tiếp nhận, lĩnh hội nội dung. Ở nước ta, khi tiến hành công tác tư tưởng thường sử dụng 5 nhóm phương tiện ( kênh) sau đây:

+ Hệ thống trường, lớp của Đảng, các đoàn thể chính trị, giáo dục quốc dân và công tác giáo dục lý luận chính trị trong hệ thống đó.

+ Các phương tiện thông tin, tuyên truyền đại chúng.

+ Hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên do Đảng tổ chức, lãnh đạo, quản lý từ Trung ương đến cơ sở.

+ Các thiết chế văn hóa và hoạt động của các thiết chế đó, như nhà văn hoá...

+ Sinh hoạt, hội họp của các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể...

- Hiệu quả công tác tư tưởng.

Hiệu quả công tác tư tưởng được đánh giá thông qua những chuyển biến nhận thức tư tưởng  của các giai cấp, tầng lớp và toàn xã hội, thể hiện trong những kết quả kinh tế, chính trị, xã hội, phong trào...theo các mức độ sau: Hiệu quả lâu dài, hiệu quả trước mắt, hiệu quả trực tiếp...

Đánh giá hiệu quả của công tác tư tưởng được thực hiện bằng nhiều hình thức. Về nhận thức, có thể đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng qua điều tra dư luận xã hội. Về thực tiễn, hiệu quả công tác tư tưởng được đánhh giá qua các hành động cách mạng của quần chúng, các phong trào, sự chuyển biến trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội ,văn hóa...

2. Vị trí, vai trò của công tác tư tưởng ở cơ sở.

a. Vị trí: công tác tư tưởng ở cơ sở là một bộ phận hợp thành trong hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng, là một mặt công tác trọng yếu của chính quyền và các tổ chức, đoàn thể chính trị ở cơ sở. Công tác tư tưởng ở cơ sở có vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội ở cơ sở; xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.

b. Vai trò:

- Công tác tư tưởng ở cơ sở góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, có sức chiến đấu cao và không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.

- Có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với những người dân, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, phát huy tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhằm biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực, thành phong trào hành động cách mạng của quần chúng.

- Trong thời kỳ mới của cách mạng, công tác tư tưởng ở cơ sở có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vững mạnh, tạo nên sự nhất trí, tin tưởng cao trong toàn Đảng và nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa ở cơ sở (nhất là việc xây dựng nông thôn mới) .

* Vai trò của công tác tư tưởng trong đời sống xã hội:

 - Công tác tư tưởng thuộc lĩnh vực ý thức xã hội, sản xuất và hưởng thụ sản phẩm tinh thần. Theo chủ nghĩa Mac-Lênin, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với sản xuất và đời sống vật chất của xã hội. Vì vậy, nhận thức tư tưởng góp phần làm thay đổi hiện thực khách quan thông qua hoạt động vật chất của con người. C.Mác đã chỉ rõ: Vũ khí phê phán không thể thay thế sự phê phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất. Nhưng lý luận sẽ trở thành lực lượng vật chất khi đã xâm nhập vào quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Công tác tư tưởng có vị trí quan trọng hàng đầu.

- Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp đều chủ động tiến hành công tác tư tưởng với mục đích tác động vào ý thức xã hội nhằm phổ biến tư tưởng của họ, định hướng phát triển lĩnh vực tinh thần, đạo đức xã hội. Cuộc đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực tư tưởng lý luận là cuộc đấu tranh ai thắng ai rất quyết liệt, không khoan nhượng, nhằm" giành trái tim, khối óc của quần chúng". Sự sụp đổ đau xót của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu có một trong những nguyên nhân là do một số Đảng Cộng sản và công nhân cầm quyền đã coi nhẹ công tác tư tưởng, buông lỏng công tác quản lý và chỉ đạo báo chí, văn hóa, văn nghệ...

- Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản là hoạt động đa dạng và có chủ đích nhằm xây dựng, xác lập, phát triển hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, hình thành niềm tin, định hướng giá trị, xây dựng thế giới quan khoa học...để thực hiện thắng lợi lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Khi Đảng lãnh đạo chính quyền, công tác tư tưởng là một trong những phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng trong hệ thống chính trị.

- Vai trò nổi bật nhất của công tác tư tưởng trong xã hội là góp phần quan trọng để hình thành thế giới quan, phương pháp luận, định hướng cho sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, văn hóa, văn nghệ...Có thể nói công tác tư tưởng có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực nhạy cảm và thời điểm bước ngoặt của cách mạng, công tác tư tưởng có vai trò và tác dụng rất to lớn trong việc định hướng đối với tư tưởng xã hội.

3. Nội dung của công tác tư tưởng  ở cơ sở.

 Từ khái niệm công tác tư tưởng nêu trên, theo quan điểm "toàn Đảng làm công tác tư tưởng", công tác tư tưởng ở cơ sở cần được quán triệt trong toàn bộ các hoạt động của mọi tổ chức trong hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, đoàn viên các đoàn thể chính trị ở cơ sở. Xét theo những hoạt động chuyên môn đặc thù, có thể nêu các nội dung chủ yếu của công tác tư tưởng ở cơ sở gồm:

- Công tác giáo dục lý luận chính trị,  giáo dục truyền thống cách mạng: là nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm bồi dưỡng và nâng cao nhận thức lý luận chính trị, lòng yêu nước, tình cảm cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ở cơ sở, thông qua việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, thông tin, tuyên truyền các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tổ chức học tập lịch sử, truyền thống đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân địa phương. Trên cơ sở đó, tạo ra sự nhất trí, tin tưởng và quyết tâm thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội...

- Công tác tuyên truyền: nhằm phổ biến, truyền bá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiến thức khoa học,  kỹ thuật, công nghệ phục vụ sản xuất, đời sống, thông tin kịp thời tình hình thời sự, chính trị…định hướng tư tưởng trước các sự kiện tác động đến tư tưởng, tình cảm, tâm trạng của quần chúng ở cơ sở.

- Công tác cổ động quần chúng: nêu gương tốt, điển hình tiên tiến, thúc đẩy hành động của quần chúng qua các phong trào thi đua, nhằm biến nhận thức tư tưởng, lý luận của quần chúng thành hành động cách mạng của quần chúng một cách cụ thể,  rộng rãi...

- Công tác văn hóa, văn nghệ: giáo dục đạo đức, lối sống, phát huy truyền thống, xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương...

- Công tác nắm bắt tình hình tư tưởng: dư luận xã hội và định hướng tư tưởng, dư luận xã hội ở cơ sở...

- Đấu tranh tư tưởng: phê phán những quan điểm sai trái, phản động, tin đồn, tài liệu xấu, độc hại lan truyền tại cơ sở.

4. Nguyên tắc, phương châm công tác tư tưởng ở cơ sở.

a. Nguyên tắc công tác tư tưởng:

- Nguyên tắc tính Đảng

Tính Đảng là nguyên tắc cơ bản nhất của công tác tư tưởng, biểu hiện ở chỗ, công tác tư tưởng luôn luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, quan điểm, đường lối của Đảng; bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh không khoan nhượng với những trào lưu tư tưởng thù địch, phản khoa học, đi ngược lại với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc. Công tác tư tưởng là một bộ phận trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, liên tục, rộng khắp của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tư tưởng  “càng triệt để càng tốt" và "không trừ một ngoại lệ nào", vì như Lênin nói: Ở đâu không có tư tưởng vô sản thì ngay lập tức lấp vào đó là tư tưởng tư sản, không có tư tưởng trung gian nào.

- Nguyên tắc tính khoa học

Tính khoa học của công tác tư tưởng biểu hiện ở chỗ, công tác tư tưởng được tiến hành trên cơ sở khoa học, tuân theo các quy luật vận động, biến đổi của lĩnh vực tư tưởng. Nguyên tắc tính khoa học yêu cầu công tác tư tưởng được tiến hành theo quan điểm lịch sử - cụ thể, phù hợp với trình độ đối tượng và đáp ứng nhu cầu và định hướng thông tin của đối tượng. Công tác tư tưởng phải sử dụng các phương tiện công tác ngày càng hiện đại.

- Nguyên tắc tính thống nhất lý luận với thực tiễn

Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong công tác tư tưởng thể hiện ở chỗ công tác tư tưởng phải xuất phát từ thực tiễn và quay trở về phục vụ thực tiễn. Đồng thời, thực tiễn công tác tư tưởng phải được soi sáng, định hướng bằng lý luận, được chỉ đạo, tổ chức thực hiện một cách khoa học, gắn lý luận với thực tiễn cách mạng. Tổng kết thực triễn là phương pháp căn bản để thực hiện sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong công tác tư tưởng, khắc phục chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa giáo điều.

   Thực hiện đúng đắn và đầy đủ những nguyên tắc trên là yêu cầu chung của công tác tư tưởng và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng.

b. Phương châm công tác tư tưởng.

Phương châm công tác tư tưởng là những định hướng có tính chỉ đạo trong hoạt động công tác tư tưởng ở các cấp, các ngành.

Phương châm công tác tư tưởng  bao gồm 6 nội dung chủ yếu là:

- công tác tư tưởng phải gắn chặt với thực hiện nhiệm vụ chính trị, với phong trào cách mạng của quần chúng, với từng đối tượng.

- Kết hợp chặt chẽ ba nội dung giáo dục: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, phẩm chất và đạo đức cách mạng. Kết hợp giáo dục lý luận, quan điểm cơ bản với giáo dục tình hình và nhiệm vụ trước mắt.

- Kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác kiểm tra.

- Kết hợp giáo dục tư tưởng trong học tập với việc rèn luyện trong thực tiễn cách mạng.

- Kết hợp giáo dục tư tưởng trong nội dung sinh hoạt của tất cả các tổ chức; kết hợp công tác tư tưởng trong Đảng với công tác tư tưởng  trong xã hội.

- Kết hợp bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cách mạng với phê phán triệt để những biểu hiện tư tưởng phi vô sản; biểu dương ưu điểm đi đôi với phê bình nghiêm khắc khuyết điểm.

5. Nhiệm vụ công tác tư tưởng ở cơ sở.

Công tác tư tưởng ở cơ sở có sáu nhiệm vụ cơ bản:

Một là, giáo dục mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân có nhận thức đúng đắn, kiên định, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức. Kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch; ngăn ngừa ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc.

Hai là, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn ở cơ sở góp phần phát triển, hoàn thiện đường lối và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Tiến hành phổ biến, quán triệt sâu rộng các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ba là, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kiến thức và năng lực thực tiễn của cán bộ, đảng viên và nhân dân, khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa thực dụng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Bốn là, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của địa phương, cơ sở, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Năm là, xây dựng và phát huy nhân tố con người qua thực hiện tốt các lĩnh vực khoa giáo ở cơ sở. Chỉ đạo, hướng dẫn, cổ vũ thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước và các phong trào xã hội khác ở cơ sở, coi trọng việc bồi dưỡng, nhân rộng các điển hình, nhân tố mới, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương trong từng giai đoạn.

Sáu là, giáo dục ý thức cảnh giác, chống các hoạt động "Diễn biến hòa bình", cơ hội chính trị, lôi kéo, chia rẽ sự đoàn kết toàn dân ở cơ sở. Kịp thời giải quyết các mâu thuẫn nội bộ nhân dân, không để xảy ra khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện tập thể, không có điểm nóng ở cơ sở.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 2: 

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA

VÀ CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO.

 

I. KHÁI NIỆM

Trong thực tiễn, hoạt động tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, chúng ta gặp cụm từ "Công tác tư tưởng - văn hóa”. Cụm từ này được sử dụng phổ biến khi thành lập Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương trên cơ sở hợp nhất Ban Tuyên huấn Trung ương và Ban Văn hóa - Văn nghệ Trung ương năm 1989.

Lĩnh vực văn hóa ở đây được hiểu chủ yếu là khía cạnh tư tưởng, chính trị của văn hóa; sự chỉ đạo, định hướng của cấp ủy đảng đối các hoạt động văn hóa - văn nghệ. Hệ tư tưởng bao giờ cũng là cốt lõi của một nền văn hóa trong xã hội có giai cấp. Đảng đã ta khẳng định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy của sự phát triển kinh tế - xã hội”3. Đảng lãnh đạo và chỉ đạo lĩnh vực văn hóa. Nhà nước quản lý các hoạt động văn hóa theo đường lối, quan điểm của Đảng, được thể chế hóa thành pháp luật.

Tuyên giáo là một ngành, một lĩnh vực công tác của Đảng. Các ban tuyên giáo là cơ quan tham mưu của cấp ủy đảng, thực hiện chức năng do cấp ủy giao cho, giúp cấp ủy trong việc thực hiện các nhiệm vụ của công tác tư tưởng - văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác...

Các cơ quan tuyên giáo là lực lượng chủ yếu giúp cấp ủy thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và trực tiếp tác chiến trong lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác.

 

II. LỰC LƯỢNG LÀM CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG Ở CƠ SỞ.

Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, đồng thời phải có lực lượng chuyên trách, có nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác. Ngay từ khi thành lập Đảng ta đã thành lập Ban Tuyên giáo - cơ quan tham mưu và giúp việc cấp uỷ thực hiện công tác tư tưởng của Đảng.

1. Thành lập ban tuyên giáo đảng uỷ cơ sở.

Ban tuyên giáo cơ sở do cấp uỷ cử ra, nhằm giúp cấp uỷ thực hiện công tác tuyên giáo trên địa bàn.

a. Chức năng của ban tuyên giáo cơ sở, gồm:

+ Tham mưu và giúp việc cho cấp uỷ về các mặt công tác tư tưởng, văn hoá, khoa giáo, biên soạn, bổ sung lịch sử đảng bộ địa phương.

+ Trực tiếp tổ chức thực hiện các hoạt động tuyên giáo trên địa bàn.

b. Nhiệm vụ các thành viên:

- Ban tuyên giáo cơ sở nên có số lượng từ 5 đến 7 người. Cơ cấu tổ chức bao gồm: Trưởng ban, Phó trưởng ban và một số ủy viên.

Có thể cơ cấu và nhiệm vụ như sau:

+ Trưởng ban là đồng chí bí thư, hoặc phó bí thư thường trực cấp ủy. Nhiệm vụ của trưởng ban: Phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước cấp ủy về mọi hoạt động của ban tuyên giáo và có nhiệm vụ cụ thể: xây dựng kế hoạch hoạt động của ban tuyên giáo sau mỗi nhiệm kỳ đại hội chi bộ, đảng bộ cơ sở. Chủ trì các cuộc họp của ban, nắm tình hình hoạt động của ban về công tác tư tưởng - văn hóa, khoa giáo, sưu tầm lịch sử địa phương. Báo cáo thường xuyên và định kỳ với cấp ủy và ban tuyên giáo cấp huyện. Chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu cho cấp ủy triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng và chínhh sách, pháp luật của Nhà nước trong tổ chức cơ sở đảng. Phụ trách các bộ phận, các ngành trong khối tư tưởng - văn hóa và một số chi bộ hoặc tổ đảng.

+ Phó trưởng ban là đồng chí phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (phó chủ tịch phụ trách văn hóa - xã hội). Nhiệm vụ của Phó trưởng ban: Giúp việc cho Trưởng ban, điều hành công việc khi trưởng ban đi vắng hoặc được ủy quyền. Phụ trách các bộ phận, các ngành thuộc khối Khoa giáo. Phụ trách một số chi bộ hoặc tổ đảng.

+ Các thành viên là đồng chí chủ tịch, hoặc phó chủ tịch Uỷ ban mặt trân Tổ quốc cùng cấp; Bí thư đoàn thanh niên, cán bộ phụ trách văn hóa, Chủ tịch hội Cựu chiến binh, hiệu trưởng trường trung học, tiểu học tại xã...Các thành viên có nhiệm vụ: Căn cứ vào công tác của mỗi người mà phân công công việc cụ thể. Mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm trước Trưởng ban về công việc được giao.

Nhiệm vụ cụ thể: 4 nhiệm vụ đã nêu trong tài liệu

2. Phối hợp lực lượng làm công tác tư tưởng ở cơ sở.

a. các lực lượng chủ yếu làm công tác tư tưởng ở cơ sở.

b. Các hình thức phối hợp lực lượng.

 

III. ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG Ở CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI.

Thực trạng tư tưởng và công tác tư tưởng ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.

Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" với 3 nội dung trọng yếu : (1) Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. (3) Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất.

1. Cơ sở và vai trò của cơ sở.

Hệ thống hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm 4 cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn. Vị trí, vai trò quan trọng của cơ sở đã được quy định trong nhiều nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Liên quan đến công tác tư tưởng, cơ sở có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng bởi các yếu tố sau :

- Cơ sở là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt vật chất và tinh thần, thực hiện các quan hệ xã hội của toàn thể nhân dân. Mọi sự biến động ở cơ sở, một khi đã trở thành phong trào trên phạm vi rộng lớn đều có tác động to lớn đến toàn xã hội, kể cả những tác động tích cực và tiêu cực.

- Cơ sở là nền tảng của tổ chức, bộ máy hành chính nhà nước, là nơi thể hiện trực tiếp quyền lực của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân. Đó là nơi các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện thông qua những hoạt động cụ thể của chính quyền và nhân dân.

- Cơ sở là nơi các cơ quan đảng và nhà nước, đoàn thể có quan hệ trực tiếp với dân, hàng ngày nhận được những phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, trực tiếp giải quyết những khúc mắc về tư tưởng của nhân dân.

- Tổ chức đảng ở cơ sở, như Điều lệ Đảng quy định, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Xây dựng đảng về chínhh trị, tư tưởng và tổ chức trước hết phải quan tâm đến xây dựng Đảng về tư tưởng ngay từ cơ sở.

Từ vị trí, vai trò và đặc điểm của cơ sở trên đây, công tác tư tưởng ở cơ sở, một trong  3 lĩnh vực chủ yếu trong công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng nói chung và trong công tác tư tưởng của Đảng  nói riêng. Hướng về cơ sở, tăng cường công tác tư tưởng ở cơ sở luôn luôn là một trọng tâm trong chương trình công tác của ngành tuyên giáo và các ngành, các cấp khác trong hệ thống chính trị.

* Hướng về cơ sở, tăng cường công tác tuyên giáo ở cơ sở là yêu cầu của công tác tuyên giáo của Đảng hiện nay.

- Đảng ta luôn luôn coi trọng công tác tư tưởng trong Đảng và toàn xã hội. Những năm gần đây, cùng với những thắng lợi chung của sự nghiệp đổi mới. Với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào công cuộc đổi mới. Đó là kết quả quan trọng của sự nghiệp đổi mới, có sự đống góp của ngành tuyên giáo.

Với những tác động tự phát của cơ chế kinh tế thị trường, cùng với những yếu kém của công tác tư tưởng đã được chỉ ra trong Văn kiện Đại hội XI, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa X, tình hình tư tưởng ở cơ sở có những biến động phức tạp. Tăng cường công tác tư tưởng, đặc biệt là ở cơ sở, là một yêu cầu cấp bách nhằm tăng cường sự thống nhất về chínhh trị trong toàn Đảng, toàn dân, giữ vững ổn định chính trị. Đại hội XI với tiêu đề là "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

- Trong những năm tới, đất nước ta sẽ có những chuyển biến rất cơ bản và quan trọng, có tác động sâu sắc đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đó là quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có các quá trình xã hội hóa nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội...sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống và tư tưởng mỗi người. Do đó, đòi hỏi phải tăng cường công tác tư tưởng ở cơ sở.

- Coi trọng cơ sở, coi cơ sở là điểm xuất phát, là nội dung chính của mọi hoạt động và là mục đích của các hoạt động tư tưởng của Đảng theo định hướng sau:

+ Hướng mạnh về cơ sở phải tăng cường tiềm lực vật chất, cán bộ cho cơ sở.

+ Nội dung tuyên truyền của hệ thống thông tin đại chúng, văn hóa, văn nghệ phải hướng về cơ sở, phục vụ cho yêu cầu của cơ sở.

+ Các tổ chức đảng và chính quyền cấp trên có quy định và có kế hoạch giúp đỡ cơ sở gải quyết kịp thời các vấn đề tư tưởng nảy sinh tại cơ sở.

+ Tăng cường cung cấp thông tin, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ tuyên giáo cơ sở.

2. Một số kinh nghiệm trong tổ chức và hoạt động công tác tư tưởng ở cơ sở.

a. Tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp uỷ và ban tuyên giáo các cấp đối với công tác tư tưởng ở cơ sở.

b. Phát huy vai trò của cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể nhân dân trong hệ thống chính trị ở cơ sở để tiến hành công tác tư tưởng

c. Bám sát thực tiễn cuộc sống ở cơ sở, kịp thời giải đáp những đòi hỏi củ thực tiễn làm cho công tác tư tưởng có sức sống và hiệu quả cao.

d. Phát huy nhân tố tích cực trong nhân dân, dựa vào nhân dân để tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân

3. Đổi mới công tác tư tưởng ở cơ sở.

a. Đổi mới nhận thức của cấp uỷ và nhận thức của cán bộ, đảng viên đói với công tác tư tưởng ở cơ sở.

b. Đổi mới nội dung công tác tư tưởng ở cơ sở

c. Đổi mới phương thức tiến hành công tác tư tưởng ở cơ ở.

d. Đổi mới cơ chế, chính sách đối với công tác tư tưởng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 3:

CÔNG TÁC GIÁO DỤC LUẬN CHÍNH TRỊ

Ở CƠ SỞ

 

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ.

1. Khái niệm.

a. Một số khái niệm liên quan:

- Lý luận: là các khái niệm, phạm trù, quy luật được khái quát từ hoạt động thực tiễn của con người.

- Lý luận chính trị: những vấn đề lý luận gắn liền với đời sống chính trị của xã hội (cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội có giai cấp xung quanh vấn đề giành và giữ chính quyền).

- Công tác lý luận chính trị: là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm hình thành, phát triển, hoàn thiện hệ tư tưởng, xây dựng, hoàn thiện cương lĩnh, đường lối chính trị, chủ trương, chính sách của đảng trong mỗi giai đoạn cách mạng. Công tác lý luận gồm:

+ Nghiên cứu lý luận chính trị: là quá trình sản xuất tri thức chính trị, gồm nghiên cứu lý thuyết, tổng kết thực tiễn để hình thành các khái niệm, phạm trù, quy luật phản ánh sự vận động của thực tiễn phục vụ đấu tranh chính trị.

+ Giáo dục lý luận chính trị: là hoạt động phổ biến, truyền bá lý luận chính trị đến các đối tượng xác định.

 b. Công tác giáo dục lý luận chính trị của Đảng:

 Là một bộ phận cơ bản trong công tác tư tưởng của Đảng, thực hiện việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị, niềm tin và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển của đất nước.

- Nội dung: Thực hiện truyền bá: Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Đối tượng: Cán bộ, đảng viên và nhân dân. Theo từng loại chương trình có đối tượng học tương ứng.

- Mục đích:

Hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học; tư tưởng, bản lĩnh chính trị, niềm tin; năng lực hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

2. Vai trò công tác giáo dục lý luận chính trị.

Công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, xuất phát từ những yếu tố sau:

- Công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng trong việc truyền bá lý luận cách mạng vào phong trào công nhân và quần chúng.

- Công tác giáo dục lý luận chính trị giữ vai trò quan trọng trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

- Công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng, xây dựng con người mới.

3. Yêu cầu, nhiệm vụ công tác giáo dục lý luận chính trị trong thời kỳ mới.

a. Bối cảnh mới của công tác giáo dục lý luận chính trị:

- Thuận lợi.

+ Công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, thế và lực của nước ta mạnh lên rất nhiều, chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển, quốc phòng - an ninh được bảo đảm, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.

+ Mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã hình thành trên những nét cơ bản.

- Khó khăn.

+ Tình hình trong nước và thế giới có những biến động rất phức tạp.

+ Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quá trình đổi mới chưa được tổng kết kịp thời hoặc chưa được làm sáng tỏ, còn những ý kiến khác nhau cả trên những vấn đề cụ thể và một số vấn đề cơ bản.

+ Các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng trên cả lĩnh vực lý luận và thực tiễn.

b. Yêu cầu của công tác giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới:

- Tạo ra sự nhất trí cao đối với đường lối của Đảng, có ý chí nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Xây dựng con người Việt Nam đủ khí phách, bản lĩnh, phẩm chất đạo đức và kiến thức trong thời kỳ mới.

- Phát huy tinh thần cách mạng tiến công, giữ vững và tăng cường trận địa tư tưởng, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn và hành động "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá.

c. Nhiệm vụ công tác giáo dục lý luận chính trị trong thời kỳ mới:

- Tiếp tục giáo dục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng.

- Giáo dục sâu rộng trong Đảng và trong nhân dân đường lối, chủ trương của Đảng (thể hiện trong Cương lĩnh, Chiến lược, nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kết luận … của Đảng), chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kiến thức và năng lực thực tiễn của cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

- Giáo dục nâng cao cảnh giác, chống âm mưu, thủ đoạn và hành động "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch.

 

II. CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ.

1. Đối tượng, nội dung công tác giáo dục lý luận chính trị ở cơ sở.

- Đối tượng:

+ Đảng viên, cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cơ sở (ngoài diện đào tạo, bồi dưỡng của Trường Chính trị tỉnh).

+ Đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân ở cơ sở.

+ Mọi đối tượng ở cơ sở.

- Nội dung:

Những vấn đề thiết thực nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giáo dục truyền thống, bồi dưỡng nghiệp vụ … (theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương).

2. Tổ chức lực lượng làm công tác giáo dục lý luận chính trị ở cơ sở.

- Ban Tuyên giáo, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện có nhiệm vụ mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng.

- Cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác giáo dục lý luận chính trị ở cơ sở.

- Ban Tuyên giáo cơ sở tham mưu cấp uỷ tổ chức học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

- Lãnh đạo các đoàn thể nhân dân tổ chức học tập chính trị cho đoàn viên, hội viên của mình.

- Giáo viên các trường học ở cơ sở tuyên truyền, giáo dục chính trị cho học sinh theo các chương trình thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

3. Một số vấn đề về nghiệp vụ công tác giáo dục lý luận chính trị ở cơ sở.

a. Về giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sâu rộng trong nhân dân; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác cho cán bộ, đảng viên:

- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm cho các đối tượng.

+ Căn cứ yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng của cơ sở, cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể cơ sở dự kiến số lượng người học theo từng loại chương trình để đưa vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của cơ sở.

+ Khi có thông báo mở lớp, cấp uỷ cơ sở có trách nhiệm cử cán bộ, đảng viên đi học; tạo điều kiện thuận lợi cho người được cử đi học.

+ Phối hợp với đơn vị mở lớp theo dõi, nắm tình hình học tập của cán bộ, đảng viên được cử đi học.

+ Sau khi học xong chương trình, cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể tạo điều kiện, khuyến khích cán bộ, đảng viên vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế công tác của mình.

- Thực hiện các hình thức tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị sinh động ở cơ sở: thi tìm hiểu lịch sử truyền thống dân tộc, về Đảng, Bác Hồ, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thi về nghiệp vụ công tác đảng, chính quyền, đoàn thể…

- Tổ chức cho cán bộ chủ chốt học tập các chương trình chuyên đề nhân các ngày lễ, kỷ niệm.

b. Về triển khai học tập nghị quyết của Đảng:

- Công tác chỉ đạo học tập, quán triệt và thực hiện nghị quyết:

+ Xây dựng kế hoạch học tập.

Trên cơ sở kế hoạch của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cơ sở phải chỉ đạo xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai học tập, quán triệt ở đơn vị mình, bảo đảm đúng thời gian, tiến độ theo yêu cầu của cấp trên.

+ Xây dựng chương trình hành động.

Khi xây dựng chương trình hành động phải gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương: xác định, lựa chọn những vấn đề bức xúc, trọng tâm để đưa vào chương trình; giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân phụ trách từng công việc, thời gian hoàn thành từng phần việc.

+ Lựa chọn, bố trí báo cáo viên.

Báo cáo viên trước hết phải là những cán bộ chủ chốt của cấp uỷ; phải có trình độ lý luận, kinh nghiệm thực tiễn, có khả năng truyền thụ kiến thức, giải đáp vấn đề, có tâm huyết, trách nhiệm với nhiệm vụ báo cáo viên. Cấp uỷ căn cứ nội dung của từng nghị quyết để phân công báo cáo viên truyền đạt đúng với chuyên môn, sở trường của báo cáo viên.

Báo cáo viên có thể do cấp uỷ cấp trên phân công về truyền đạt nghị quyết nhưng cấp uỷ cơ sở phải là người chủ trì tổ chức thảo luận, tiếp thu ý kiến để hoàn chỉnh chương trình hành động của đơn vị mình.

- Tổ chức quán triệt, học tập:

+ Hình thức tổ chức:

Đối với những cơ sở số lượng đảng viên ít, cấp uỷ có thể tổ chức quán triệt cho toàn thể đảng viên, cán bộ, công chức xã (phường, thị trấn), cán bộ thôn (làng, tổ dân phố). Sau lớp học ở xã, cấp uỷ lựa chọn, phân công cấp uỷ viên phụ trách phối hợp với chi bộ thôn (làng, tổ dân phố) để phổ biến nghị quyết cho nhân dân.

Đối với những cơ sở đông đảng viên, cấp uỷ có thể mở 2-3 lớp nối tiếp nhau. Hoặc có thể tổ chức học tập kỹ cho cán bộ, công chức xã, cấp uỷ viên, bí thư chi bộ trực thuộc; sau đó giao chi bộ thôn tổ chức quán triệt cho số đảng viên không giữ chức vụ và nhân dân.

+ Chương trình quán triệt, học tập: Mỗi lớp học nghị quyết ở cơ sở nhất thiết phải bảo đảm 3 nội dung: Quán triệt những nội dung cơ bản của nghị quyết; báo cáo chương trình hành động của cấp uỷ thực hiện nghị quyết; thảo luận, trao đổi, giải đáp. Cần bố trí thời gian phù hợp cho mỗi nội dung.

- Một số yêu cầu đổi mới việc học tập nghị quyết ở cơ sở:

+ Việc học tập nghị quyết không phải một lần là xong; cấp uỷ phải chỉ đạo cán bộ, đảng viên tiếp tục tự nghiên cứu, học tập nghị quyết để phục vụ nhiệm vụ chính trị theo chức danh.

+ Cấp uỷ tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên tự nghiên cứu, học tập nghị quyết.

+ Đổi mới phương thức quán triệt, học tập nghị quyết ở cơ sở: việc quán triệt nghị quyết phải làm nổi bật được tinh thần nghị quyết, chuyển tải những nội dung cơ bản của nghị quyết đến người học; phân tích sâu những khái niệm mới, những chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp mới; gợi ý những vấn đề liên hệ thực tiễn địa phương để người học suy nghĩ vận dụng và đề xuất ý kiến; đối với với những nghị quyết chuyên đề, nội dung nghị quyết liên quan đến lĩnh vực thuộc đối tượng nào thì đối tượng đó phải được nghiên cứu sâu để vận dụng thực hiện.

- Một số vấn đề cần lưu ý khi truyền đạt nghị quyết ở cơ sở:

+ Bố cục, kết cấu bài truyền đạt phải rõ ràng, súc tích, có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải.

+ Khi truyền đạt cần đi sâu phân tích, làm rõ từng nội dung của nghị quyết, nhất là những khái niệm, nội dung mới. Truyền đạt tuần tự từng nội dung, khi nội dung này được sang tỏ mới chuyển sang nội dung khác, tránh lối truyền đạt luyên thuyên, quanh co, xa rời trọng tâm nghị quyết.

+ Phải có nghệ thuật truyền đạt phù hợp với đối tượng; có gắng sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu nhất đối với người học; có thể sử dụng tiếng nói địa phương để truyền đạt nghị quyết.

+ Kết thúc buổi truyền đạt phải hệ thống lại những nội dung, chốt gọn vấn đề. Dành thời gian để người học trao đổi, giải thích thêm những nội dung người học chưa hiểu.

c. Về giáo dục chính sách, pháp luật của Nhà nước:

- Mọi đảng viên, cán bộ, công chức có trách nhiệm học tập, nghiên cứu đẻ nắm vững, thực hiện nghiêm túc và phổ biến, vận động nhân dân chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Cấp uỷ, chính quyền cơ sở có kế hoạch cho cán bộ, đảng viên, nhân dân nghiên cứu các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khơi dậy phong trào tìm hiểu, học tập, nghiên cứu và chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Hình thức giáo dục pháp luật.

+ Thông qua sinh hoạt chi bộ đảng, sinh hoạt đoàn thể, các cuộc họp thôn, làng, tổ dân phố.

+ Thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, các phong trào xây dựng đời sống văn hoá, các quy ước, hương ước ở khu dân cư.

+ Sử dụng có hiệu quả tủ sách pháp luật của xã (phường, thị trấn). Tạo điều kiện cho đông đảo nhân dân có tài liệu tự nghiên cứu, học tập.

d. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra công tác giáo dục lý luận chính trị  ở cơ sở:

- Kiểm tra việc học tập nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Kiểm tra đảng viên, cán bộ học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị theo Quy định 54-QĐ/TW ngày 12-5-1999 của Bộ Chính trị.

- Kiểm tra công tác giáo dục lý luận chính trị trong các trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn.

e. Tổ chức lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước:

Cấp uỷ cơ sở phải tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân ở cơ sở tham gia xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Hình thức lấy ý kiến: phát phiếu trưng cầu ý kiến; gửi văn bản dự thảo xin ý kiến; tổ chức họp lấy ý kiến tham gia trực tiếp…

Việc tổ chức lấy ý kiến phải bảo đảm thật sự dân chủ; tạo điều kiện để mọi người chuẩn bị ý kiến có chất lượng; khơi dậy được không khí thảo luận, tranh luận, xây dựng thẳng thắn, không áp đặt. Khắc phục tình trạng làm hình thức, chiếu lệ cho xong công việc trên giao.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 4:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN VIỆC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH Ở CƠ SỞ THEO CHỈ THỊ 03-CT/TW.

 

Nhằm phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Cuộc vận động ( theo Chỉ thị 06 của Bộ Chính trị khóa X), tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, ngày 14 - 5 - 2011, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ thị coi việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là công việc thường xuyên hằng ngày, là trách nhiệm cụ thể thiết thân của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân (không gọi là Cuộc vận động nữa).

Theo chuyên đề năm 2011 và 2012 "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị". Nội dung học tập và liên hệ bao gồm cả việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách của Bác, thể hiện cụ thể trong công việc thường ngày, trong quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp... Đây là chuyên đề mang nội dung chính của chủ đề toàn khóa, được đặt ra từ năm đầu tiên và sẽ được thể hiện xuyên suốt trong nội dung học tập của các chuyên đề trong những năm tiếp theo; là tiêu chí để tổng kết nhiệm kỳ 5 năm thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và là cơ sở để tiếp tục xây dựng nội dung học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh trong những nhiệm kỳ sau. Tập trung nghiên cứu, thảo luận, liên hệ một số nội dung chính sau đây:

1. Sự cần, kiệm, liêm, chính của từng cán bộ lãnh đạo, quản lý và từng công chức, viên chức; nâng cao đạo đức công vụ, không tham nhũng, không hối lộ và nhận hối lộ, phòng và chống tiêu cực trong sử dụng các nguồn tài chính công, trong công tác quản lý và triển khai các dự án đầu tư, đất đai, xây dựng...

2. Sự khiêm tốn, chí công vô tư, tận tụy, hết lòng phục vụ nhân dân, trách nhiệm cao với công việc; không gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân; luôn gần gũi, gắn bó với nhân dân, không quan liêu xa dân.

3. Mọi thành viên trong xã hội chăm lo xây dựng môi trường đạo đức xã hội, ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức, nhân cách, văn hóa.

4. Có tinh thần và hành động cụ thể đấu tranh chống lại mọi biểu hiện thoái hóa, xuống cấp về đạo đức xã hội.

5. Giữ cho đời tư và cuộc sống riêng của gia đình, của bản thân mỗi người trong sáng, giản dị.

Trong năm 2012, triển khai các kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy (14 đảng bộ) đã xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề năm 2012, thành lập và ban hành quy chế hoạt động của bộ phận giúp việc cấp ủy; chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng xây dựng kế hoạch, tổ chức học tập và giới thiệu một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; các chi bộ đảng xây dựng chương trình thực hiện chuyên đề năm 2012; các cơ quan, đơn vị rà soát, bổ sung và ban hành chuẩn mực đạo đức mới theo Hướng dẫn số 25-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương và hướng dẫn của ngành dọc cấp trên; tổ chức cho cán bộ, đảng viên viết bản đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đưa nội dung chuyên đề năm 2012 và một số tác phẩm của Hồ Chí Minh vào sinh hoạt chi bộ thường kỳ.

 Theo chuyên đề năm 2013 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", tiếp tục tổ chức học tập và làm theo tác phong, phong cách của Bác, thể hiện cụ thể trong công việc thường ngày, trong quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp,  tập trung vào việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Việc tổ chức học tập phong cách Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng, là cơ sở để cho bản thân mỗi cán bộ, đảng viên có được nhận thức đúng đắn về yêu cầu phải giữ gìn, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đề cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, tính kỷ luật, dân chủ trong tập thể, tinh thần đó phải luôn thể hiện đối với cấp dưới, với quần chúng nhân dân; luôn có ý thức trau dồi phẩm chất chính trị, tư tưởng, phải thật sự là công bộc của dân, có quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân; đồng thời, có ý thức nghiêm túc khắc phục những khuyết điểm trong phong cách làm việc, phong cách sống, lối sống, thói quen làm việc, thói quen sinh hoạt... làm ảnh hưởng đến tổ chức, cơ quan, đơn vị cũng như đối với người khác. Trong công việc, người cán bộ, đảng viên phải nêu gương, thể hiện rõ thái độ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp dưới, biết tự chỉ trích để tiến bộ; đây là cơ sở để cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức và tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của người cán bộ cách mạng, thực sự xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao cho.

 

I. DỐI VỚI VIỆC TỔ CHỨC CHO ĐẢNG VIÊN LIÊN HỆ, BÁO CÁO TRONG SINH HOẠT CHI BỘ ĐỊNH KỲ

Các chi bộ tiến hành như sau:

- Trong mỗi kỳ sinh hoạt hằng tháng, tùy theo số lượng đảng viên, chi bộ phân công từ 01 đến 02 đảng viên (có thể để các đảng viên tự đăng ký từ kỳ sinh hoạt chi bộ tháng trước) liên hệ, báo cáo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo các nội dung mà đảng viên đó đã đăng ký.

- Chi bộ thảo luận, tham gia ý kiến với những nội dung mà đảng viên tự liên hệ báo cáo.

- Chủ trì hội nghị chi bộ kết luận, đánh giá việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của đảng viên đó. Nêu gương những hành động, việc làm tốt của đảng viên để các đảng viên khác trong chi bộ học tập và làm theo, đồng thời nhắc nhở những hạn chế, yếu kém để đảng viên kịp thời khắc phục.

Để việc liên hệ, báo cáo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của đảng viên có hiệu quả, cần nêu cao vai trò tự giác của từng cá nhân, nội dung báo cáo cần gắn với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương theo Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Trong triển khai thực hiện có thể kết hợp với việc kiểm điểm đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng; việc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4“ Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Kinh nghiệm cho thấy muốn triển khai thực hiện tốt việc cán bộ, đảng viên liên hệ, báo cáo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, người chủ trì hội nghị phải tôn trọng nguyên tắc dân chủ, phải tạo không khí thân thiện trong sinh hoạt; phải biết động viên, khuyến khích “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, tức là phải làm cho cán bộ, đảng viên của chi bộ không sợ nói ra sự thật về những yếu kém khuyết điểm của mình cũng như của đồng chí, đồng nghiệp. Cán bộ chủ chốt của chi bộ, cơ quan phải là những tấm gương trong việc liên hệ, báo cáo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Một vấn đề cần lưu ý đó là phải xác định cán bộ, đảng viên liên hệ, báo cáo cũng như trong việc góp ý với đồng chí đồng nghiệp trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không phải là kiểm điểm, phê bình lẫn nhau mà qua các góp ý mỗi người tự nhắc nhủ mình phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thiện lối sống của bản thân, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

 

II. ĐỐI VỚI TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ VỀ HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TRONG CHI BỘ

Mỗi kỳ sinh hoạt tháng đầu mỗi quý, chi bộ dành ít nhất 30 phút để sinh hoạt chuyên đề về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

+ Các bước tiến hành:

* Bước 1: Công tác chuẩn bị.

Trong buổi họp chi ủy để chuẩn bị nội dung sinh hoạt chi bộ, chi ủy bàn thống nhất chủ đề học tập của quý, phân công chuẩn bị nội dung, tài liệu và điều hành việc học tập chuyên đề tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trong trường hợp chi bộ không có chi ủy viên, đồng chí bí thư chi bộ trực tiếp nghiên cứu chuẩn bị nội dung sinh hoạt.

 Nội dung trong mỗi kỳ sinh hoạt có thể lựa chọn: việc học tập một trong những nội dung cụ thể từ những điều Bác Hồ dạy, từ các tài liệu trong Bản tin Thông báo nội bộ (tài liệu sinh hoạt chi bộ) và tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương. Phát hiện, thảo luận, trao đổi, học tập gương người tốt, việc tốt ở đơn vị mình, đơn vị bạn; tự phê bình, phê bình những biểu hiện tiêu cực, thói hư tật xấu ở đơn vị, địa phương mình; việc nêu gương của cán bộ chủ chốt; tập hợp những ý kiến, dư luận của nhân dân phê bình cán bộ, đảng viên của đơn vị mình, để cảnh báo, nhắc nhở, tiếp thu, sửa chữa; về kinh nghiệm làm tốt trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…hoặc lựa chọn một số vấn đề bức xúc, nổi cộm trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức để chi bộ bàn biện pháp phấn đấu, khắc phục, tạo chuyển biến, đẩy lùi, tiến tới giải quyết dứt điểm trong một thời hạn nhất định. Mỗi kỳ sinh hoạt chuyên đề có thể chuẩn bị bàn về một hoặc vài vấn đề cụ thể nêu trên cho thực sự sâu sắc và thiết thực.

* Bước 2: Tổ chức học tập.

Tại phần học tập chuyên đề, đồng chí chủ trì điều hành thực hiện các nội dung sau:

 - Đánh giá việc học tập chuyên đề tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và kết quả việc làm theo của chi bộ và đảng viên trong chi bộ trong quý trước (chỉ rõ những việc đã làm tốt và những hạn chế, thiếu sót, những việc chưa làm được, những việc cần rút kinh nghiệm).

- Nêu chủ đề học tập trong quý do chi ủy chi bộ đã thống nhất, đồng thời giới thiệu, quán triệt, phân tích những nội dung cơ bản của chuyên đề.

- Tiến hành thảo luận, làm rõ những nội dung trong chuyên đề học tập; liên hệ với tình hình thực tế của chi bộ và cán bộ, đảng viên trong chi bộ; tập trung đề ra các giải pháp thực hiện làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của chi bộ và của đảng viên trong chi bộ. 

* Bước 3: Thống nhất việc làm theo.

- Đồng chí chủ trì hội nghị kết luận và cho biểu quyết thống nhất các nội dung làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chủ đề đã được học tập; đồng thời phân công chỉ đạo, đôn đốc và giám sát việc làm theo của đảng viên trong chi bộ.

- Dự kiến chủ đề học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của quý kế tiếp.

 

III. ĐƯA VÀO NỘI DUNG SINH HOẠT TRONG CƠ QUAN, MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

- Đối với loại hình chi bộ cơ quan, doanh nghiệp:

Có thể giao cho công đoàn cơ sở chủ trì, hằng tháng phối hợp với các đoàn thể tổ chức cho cán bộ, công nhân viên chức (không phải là đảng viên) liên hệ, báo cáo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng như trong việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo từng quý trong năm.

- Đối với loại hình chi bộ nông thôn:

Có thể giao cho Ban công tác mặt trận thôn (tổ dân phố) tổ chức cho cán bộ mặt trận và các đoàn thể (không phải là đảng viên) liên hệ, báo cáo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ đạo các đoàn thể đưa nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt chi hội, chi đoàn, các hoạt động giao lưu, tọa đàm, thi tìm hiểu, các hoạt động văn hóa, văn nghệ... sao cho thiết thực, phù hợp và hiệu quả.

 

IV. NỘI DUNG LIÊN HỆ LÀM THEO

1. Về việc viết bản đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Chủ đề xuyên suốt của toàn khóa là: “Suốt đời phấn đầu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị”; trong năm 2012, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đã xây dựng bản đăng ký phấn đấu, rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, do đó cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức không phải viết bản đăng ký mới. Các chi bộ rà soát các bản đăng ký của các cá nhân và nếu thấy cần thiết hướng dẫn các cá nhân bổ sung nội dung bản đăng ký.

Đối với cán bộ chủ chốt thuộc đối tượng theo Hướng dẫn số 05-HD/TU, ngày ngày 10 - 01- 2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cán bộ chủ chốt  lựa chọn nội dung, tập trung vào 03 nội dung của chuyên đề năm 2013 (phong cách quần chúng, phong cách dân chủ, phong cách nêu gương), lưu ý chọn một hoặc một số vấn đề cụ thể còn hạn chế của cá nhân trong quan hệ với dân, trong quan hệ của cấp trên với cấp dưới, của cán bộ lãnh đạo với cán bộ, đảng viên bình thường để đăng ký khắc phục.

2. Về làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Các chi bộ, cơ quan, đơn vị căn cứ tình hình, đặc điểm của cơ quan, đơn vị, địa phương, căn cứ 3 nội dung chuyên đề 2013 để liên hệ việc làm theo, với phương châm mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong mọi hoạt động phải luôn dựa vào sức mạnh của dân, với phương châm gần dân, vì dân, tôn trọng dân, xuất phát từ lợi ích của nhân dân để thực sự là người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân mà chủ đề trọng tâm của tỉnh trong năm 2013 đã lựa chọn.

Một số gợi ý trong việc làm theo như sau:

- Đối với từng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức khối cơ quan làm theo phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương thể hiện bằng sự gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể và của nhân dân; mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chọn một hoặc một số vấn đề cụ thể còn hạn chế của cá nhân trong quan hệ với dân để tìm biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công việc được giao.

- Đối với các đơn vị lực lượng vũ trang làm theo phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương bằng việc xây dựng bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm, tính chủ động khắc phục khó khăn, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm của cán bộ, chiến sỹ trong quản lý, bảo vệ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn;  triển khai thực hiện các công trình, phần việc giúp dân, góp phần tạo mối đoàn kết quân - dân ngày càng bền chặt.

- Đối với các đơn vị trường học: cán bộ, đảng viên, viên chức  học tập phong cách quần chúng thể hiện cụ thể trong công tác, trong quan hệ hằng ngày với cán bộ, học sinh, sinh viên; trong mối quan hệ với nhân dân ở địa phương và các bậc phụ huynh học sinh; mỗi thầy, cô giáo là tấm gương tốt cho học sinh noi theo.

- Đối với mặt trận và các đoàn thể và các chi bộ nông thôn: cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng thể hiện bằng việc phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát và góp ý việc rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; biết tổ chức lắng nghe nhân dân, tập hợp nhân dân, phát huy dân chủ và sức mạnh của nhân dân, lãnh đạo nhân dân tham gia vào các phong trào hành động cách mạng ở khu dân cư, trong xây dựng nông thôn mới…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 5:

CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN,  CỔ ĐỘNG Ở CƠ SỞ

 

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, CỔ ĐỘNG

1. Khái niệm.

Tuyên truyền, cổ động là hoạt động có mục đích của một chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm, cổ vũ đối tượng hành động theo những định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra.

Cổ động là thông qua những hình thức, công cụ riêng, chủ yếu là các biện pháp trực quan, tác động trực tiếp vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của quần chúng nhân dân, lôi cuốn họ vào những hoạt động theo mục tiêu đã định.

2. Vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền, cổ động.

- Là phương tiện quan trọng để phổ biến, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn đề thời sự lớn của đất nước, của quốc tế và của địa phương; qua đó, nâng cao nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, động viên mọi người thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ.

- Là công cụ để định hướng tư tưởng, hướng dẫn suy nghĩ và hành động của toàn xã hội.

- Góp phần quan trọng xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

- Góp phần tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội.

- Là công cụ sắc bén đấu tranh bảo vệ chân lý, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch và bọn phản động, cơ hội.

3. Những hình thức tuyên truyền, cổ động.

a. Tuyên truyền:

1- Tuyên truyền miệng: là một hình thức đặc biệt của tuyên truyền, được tiến hành thông qua sự giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền với đối tượng tuyên truyền, chủ yếu bằng lời nói trực tiếp. Tuyên truyền miệng được thực hiện chủ yếu thông qua các hình thức như nói chuyện thời sự, tọa đàm, hội thảo, kể chuyện gương người tốt, việc tốt…

2- Tuyên truyền thông qua các ấn phẩm viết như sách, báo, bản tin, khẩu hiệu, biểu ngữ, truyền đơn.

3- Tuyên truyền qua nghe, nhìn như: phát thanh, truyền hình, phim ảnh, triển lãm, tham quan…

4- Tuyên truyền bằng các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông qua các hoạt động của ngành văn hóa, nghệ thuật…

5- Tuyên truyền tổng hợp: kết hợp cổ động, tuyên truyền miệng, phim ảnh, thơ ca, hò vè…

b.  Cổ động:

1- Cổ động miệng qua hệ thống phát thanh, truyền thanh…

2- Cổ động bằng panô, áp phích, các khẩu hiệu.

3- Cổ động bằng các phương tiện thông tin đại chúng.

4- Cổ động bằng tuần hành, mít tinh…

4. Nguyên tắc cơ bản của công tác tuyên truyền, cổ động.

a. Tính đảng:

Việc xem xét lý giải mọi hiện tượng, sự kiện của đời sống xã hội đều phải dựa trên lập trường quan điểm của Đảng, vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

b. Tính khoa học, thực tiễn:

Công tác tuyên truyền, cổ động phải phân tích đánh giá tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng và lý giải đúng bản chất sự việc, hiện tượng trên cơ sở khoa học. Công tác tuyên truyền, cổ động phải gắn với thực tiễn, tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. 

c. Tính chân thực:

Thông tin cho quần chúng một cách đúng đắn, bằng sự thật và những tấm gương gần gũi, dể hiểu, dễ chứng minh.

d. Tính chiến đấu:

Trước mỗi sự kiện, hiện tượng cần phân biệt đúng - sai, phải - trái, biểu dương hoặc phê phán kịp thời. Kiên quyết phê phán các luận điệu tuyên truyền phản động, phản khoa học, trái với quan điểm, đường lối của Đảng.

e. Tính phổ thông đại chúng:

Cách nói, cách làm trong tuyên truyền phải bám sát từng đối tượng để có phương pháp phù hợp.

5. Phương châm công tác tuyên truyền, cổ động trong giai đoạn hiện nay.

- Bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, phát huy tinh thần cách mạng của các tầng lớp nhân dân.

- Tuyên truyền, cổ động phải kịp thời, nhạy bén, nội dung chính xác, có tính chiến đấu cao.

- Kết hợp tuyên truyền, cổ động nâng cao nhận thức tư tưởng với hướng dẫn hành động và cổ vũ phong trào.

- Kết hợp giữa biểu dương và phê phán.

- Tuyên truyền, cổ động phải cụ thể, thiết thực, sinh động.

- Phối hợp tốt các mặt hoạt động của công tác tuyên truyền, cổ động.

 

II. NHIỆM VỤ, NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN, CỔ ĐỘNG Ở CƠ SỞ.

1. Nhiệm vụ của công tác tuyên truyền, cổ động ở cơ sở.

- Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; những kiến thức khoa học... tạo sự thống nhất cao trong Đảng và đồng thuận trong nhân dân.

- Cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào và hành động cách mạng, thực hiện thắng lợi nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và góp phần xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh.

- Đấu tranh chống mọi thủ đoạn tuyên truyền của các thế lực thù địch, chống những quan điểm sai trái, lệch lạc, phản động, bài trừ các loại hủ tục lạc hậu, văn hoá đồi trụy trong nội bộ nhân dân.

2. Nội dung công tác tuyên truyền, cổ động ở cơ sở.

- Tuyên truyền, cổ động về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của địa phương.

- Thông tin có định hướng tình hình thời sự địa phương, trong nước và quốc tế.

- Tiến hành các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhân các ngày kỷ niệm và các đợt sinh hoạt chính trị lớn của đất nước và địa phương. Tuyên truyền giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống đấu tranh cách mạng của đất nước và của địa phương.

- Tuyên truyền, phổ biến kiến thức mới, quy trình công nghệ mới trong sản xuất, đời sống và bảo vệ môi trường.

- Tuyên truyền, cổ động về những thành tựu chính trị, kinh tế, xã hội...của đất nước và của địa phương, những thuận lợi và khó khăn, những kinh nghiệm và bài học trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của địa phương.

- Tuyên truyền, giáo dục về người tốt, việc tốt và các điển hình tiên tiến, thúc đẩy các phong trào thi đua ở cơ sở.

- Tuyên truyền, cổ động về đạo đức, lối sống, nếp sống....góp phần xây dựng con người mới và nền văn hoá mới ở địa phương.

- Tuyên truyền đấu tranh chống âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; chống quan liêu, tham nhũng, tệ nạn xã hội; phê phán những thói hư, tật xấu… tại cơ sở. 

 

III. NGHIỆP VỤ TUYÊN TRUYỀN, CỔ ĐỘNG Ở CƠ SỞ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN.

1. Nắm tình hình tư tưởng, tâm trạng, dư luận xã hội.

- Nắm bắt chính xác tình hình tư tưởng để định hướng nội dung tuyên truyền, cổ động và lựa chọn phương pháp tuyên truyền, cổ động cho phù hợp.

- Thông qua nắm bắt để kiểm tra, đánh giá sự tiếp nhận của quần chúng đối với các nội dung tuyên truyền, từ đó có sự điều chỉnh nội dung, phương pháp tuyên truyền cho hiệu quả.

- Thông qua nắm bắt để dự báo các khuynh hướng tư tưởng, tham mưu cho cấp uỷ có các giải pháp về chính sách, chỉ đạo công tác tuyên truyền ở cơ sở.

2. Xây dựng đề cương tuyên truyền, cổ động.

- Xác định mục đích, yêu cầu cần đạt được về mặt nhận thức và tạo chuyển biến về tư tưởng.

- Thu thập thông tin từ các nguồn.

- Phân tích xử lý thông tin.

- Xác định dạng và bố cục đề cương, xây dựng dàn ý chi tiết, xác định vấn đề trọng tâm và kết cấu.

- Xác định ngôn ngữ và phong cách thể hiện trong đề cương.

3. Chuẩn bị lực lượng, phương tiện, phương thức cho công tác tuyên truyền, cổ động ở cơ sở.

a. Xây dựng lực lượng tuyên truyền, cổ động ở cơ sở:

- Lực lượng tham gia tuyên truyền, cổ động ở cơ sở, bao gồm: cấp ủy viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên của cơ sở, cán bộ của các ngành, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, trưởng thôn, già làng…

- Cấp ủy cơ sở phải chăm lo xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, tạo điều kiện cho họ hoạt động có hiệu quả.

Báo cáo viên, tuyên truyền là chức danh để chỉ những người làm công tác tuyên truyền miệng đến các đối tượng là cán bộ, đảng viên và nhân dân dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy đảng và cơ quan nhà nước.

b. Trang bị phương tiện phục vụ công tác tuyên truyền, cổ động:

- Sử dụng có hiệu quả các phương tiện hiện có như sách, báo, tài liệu tuyên truyền, các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, hệ thống giáo dục…

- Bảo quản và sử dụng có hiệu quả hệ thống đài truyền thanh xã, phường, thị trấn, hệ thống thư viện, các phương tiện trực quan, các di tính lịch sử, văn hóa, tượng đài…

- Từng bước hiện đại hóa các phương tiện tuyên truyền, cổ động.

c. Chọn thời gian, không gian, địa điểm tuyên truyền, cổ động phù hợp:

- Thời gian tuyên truyền phải phù hợp với điều kiện sinh hoạt của quần chúng nhân dân ở cơ sở.

- Địa điểm tuyên truyền phải thuận tiện.

- Nội dung tuyên truyền cần ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của cơ sở.

4. Phối hợp các lực lượng tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động trên các lĩnh vực.

a. Về chính trị:

Tuyên truyền các nghị quyết của Đảng, các chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuyên truyền, cổ động về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quê hương…

Cách thức tiến hành:

Cấp uỷ tổ chức thông báo, nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật... Đề ra nhiệm vụ tuyên truyền cho các tổ chức trong hệ thống chính trị và các tổ chức kinh tế, văn hoá, giáo dục.

Mặt trận và đoàn thể tổ chức cho các thành viên học tập nâng cao nhận thức.

Tổ chức các phong trào cách mạng, các hoạt động sinh hoạt chính trị. Giới thiệu truyền thống của đảng bộ và nhân dân

Tổ chức cho nhân dân góp ý xây dựng đảng bộ, chính quyền.

b. Về kinh tế:

Tuyên truyền các nhiệm vụ kinh tế, nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, cách làm giàu...Phổ biến khoa học kỹ thuật, chính sách, chế độ kinh tế, kiến thức kỹ thuật.

Cách tiến hành:

Cấp uỷ có kế hoạch tuyên truyền cổ động trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Đoàn thể tổ chức vận động thành viên, nhân dân học tập. Giới thiệu sách báo, tập huấn kỹ thuật. Trao đổi kinh nghiệm đầu bờ, thi tay nghề....

Đưa thông tin kinh tế trên đài truyền thanh, bản tin của địa phương.

Chính quyền tham gia tổ chức sơ, tổng kết, giới thiệu điển hình.

c. Về đạo đức, lối sống:

Tuyên truyền cổ động đạo đức truyền thống, đạo đức cách mạng, nhất là đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nêu gương người tốt, việc tốt. Nêu gương cán bộ đảng viên, nhân dân gương mẫu về đạo đức lối sống. Phê phán các hiện tượng tiêu cực, tạo dư luận rộng rãi ủng hộ cái tốt, phê phán cái xấu.

Cách thức tiến hành:

Phối hợp giữa tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội để tuyên truyền. Đi sâu tuyên truyền trong các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh thiếu niên.

Cấp uỷ, đoàn thể tổ chức tuyên truyền trong đảng viên, hội. Tổ chức cho nhân dân thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng gia đình, làng văn hoá. Tổ chức thường xuyên các hoạt động xoá đói giảm nghèo, giúp nhau làm kinh tế, lập thân lập nghiệp.

Kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội để giáo dục thanh thiếu niên, kết hợp giữa học tập, lao động và tham gia công tác xã hội.

5. Tổ chức hoạt động truyền thanh ở xã, phường, thị trấn.

- Hoạt động truyền thanh ở xã, phường, thị trấn cần có chương trình phong phú, đa dạng, hấp dẫn, đáp ứng yêu cầu thông tin của nhân dân và nhiệm vụ tuyên truyền trong từng thời điểm.

- Cán bộ phụ trách đài truyền thanh phải được bồi dưỡng tri thức và chuyên môn nghiệp vụ cần thiết, có trình độ lý luận chính trị nhất định.

- Cần tăng cường công tác chỉ đạo truyền thanh xã, phường, thị trấn, nhất là việc định hướng nội dung tuyên truyền: Tin bài của buổi phát thanh cần ngắn gọn, dễ hiểu, sát với thực tế địa phương và phải được duyệt trước khi phát. Cần khắc phục khuynh hướng buông lỏng, khoán trắng cho cán bộ thông tin, văn hóa, làm cho hiệu quả tuyên truyền không cao. Cần cảnh giác các lực lượng xấu lợi dụng đài truyền thanh để tuyên truyền kích động quần chúng dưới các chiêu bài chống quan liêu, tham nhũng...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 6:

CÔNG TÁC VĂN HOÁ, VĂN NGHỆ

 

Văn hóa, văn nghệ có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến hoạt động văn hóa, văn nghệ, Người chỉ rõ: Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa... Văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Đề cương văn hóa 1943 và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII là hai văn kiện của Đảng đã chỉ ra vai trò to lớn của văn hóa văn hóa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII nêu rõ văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội; sau khi đánh giá thực trạng ưu, khuyết điểm, nguyên nhân hạn chế của văn hóa nước nhà, Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản, 10 nhiệm vụ, nhiệm vụ cấp bách đến năm 2000 và 4 nhóm giải pháp lớn nhằm  xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc quan trọng hàng đầu là chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân, nhất là ở cơ sở. Công tác văn hoá - văn nghệ ở cơ sở là một bộ phận quan trọng của công tác tuyên giáo dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ và chính quyền cơ sở. Làm tốt công tác này sẽ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân, nâng cao trình độ nhận thức; bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, lòng vị tha, trọng nghĩa tình; năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất của mỗi người dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

 

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA - VĂN NGHỆ.

1. Khái niệm văn hoá - văn nghệ.

1.1. Văn hoá:

- Theo nghĩa rộng: Văn hoá là toàn bộ hoạt động sáng tạo của con người, cộng đồng, dân tộc và loài người để tạo ra, bảo tồn, giao lưu và hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một định nghĩa rất đầy đủ về văn hoá. Người cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với yêu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”

- Theo nghĩa hẹp: Văn hoá là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm: tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hoá, các thể chế và thiết chế văn hoá, hợp thành đời sống văn hoá.

1.2. Văn nghệ:

Văn nghệ là một bộ phận của văn hoá, bao gồm các hoạt động văn học - nghệ thuật và một số loại hình của văn hoá.

Công tác văn hoá - văn nghệ ở cơ sở là công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức và kiểm tra các hoạt động văn hoá - văn nghệ trên địa bàn cơ quan, đơn vị cơ sở của cấp uỷ và chính quyền cơ sở.

2. Vị trí, vai trò của công tác văn hoá ở cơ sở

2.1. Vị trí, vai trò của văn hoá trong đời sống xã hội:

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội.

Văn hoá biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức phát triển, sức mạnh tiềm tàng, bản sắc và bản lĩnh dân tộc; phong cách và lối sống đã được thấm nhuần trong từng con người, từng cộng động và cả dân tộc, được chắt lọc, kế thừa và phát huy, phát triển qua các thế hệ; được vật chất hoá trong các cấu trúc, thiết chế chính trị, kinh tế, xã hội và trong đời sống của cả dân tộc.

Văn hoá chứa đựng sức sống, tiềm năng, bản lĩnh, sức sáng tạo và bản sắc của một dân tộc qua hệ thống các giá trị đặc trưng của dân tộc.

- Văn hoá là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Văn hóa có chức năng khơi dậy và nhân lên tiềm năng sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội sinh chủ yếu nhất cho mọi sự phát triển.

- Văn hoá là mục tiêu của sự phát triển.

Văn hoá thể hiện trình độ phát triển chung của con người, cộng đồng và xã hội. Tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá một con người, một xã hội là trình độ phát triển về văn hoá. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, phải hướng đến một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, con người được tự do, hạnh phúc và phát triển toàn diện cá nhân.

2.2. Vai trò, vị trí của văn nghệ:

Văn nghệ là một bộ phận của văn hoá, bao gồm các hoạt động văn học, nghệ thuật và một số loại hình của văn hoá.

- Văn học, nghệ thuật có vai trò nắm bắt dòng mạch chính là chủ nghĩa yêu nước và nhân văn, gắn bó với dân tộc; khơi dậy sức sáng tạo, quảng bá nghệ thuật dân gian truyền thống và nghệ thuật hiện đại; sản xuất ra nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật.

- Phản ánh chân thật cuộc sống đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo của nhân dân, có nhiều tác phẩm trên các loại hình nghệ thuật từ văn học, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật đến nhiếp ảnh,, múa, kiến trúc… thể hiện qua các đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng và những vấn đề thời sự của đất nước.

- Phát hiện, bồi dưỡng tài năng trẻ, các nhân tố mới, xây dựng, phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ; lên án cái xấu, cái ác, sự thoái hóa, biến chất về nhân cách, đạo đức lối sống trong một bộ phận xã hội.

- Phát triển phong trào văn nghệ quần chúng; thành lập các câu lạc bộ văn học, nghệ thuật, góp phần cổ vũ, động viên nhân dân sáng tạo, khai thác, truyền bá các giá trị nghệ thuật truyền thống và thưởng thức văn học, nghệ thuật, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân ở cơ sở.

2.3. Vai trò, vị trí của công tác văn hoá, văn nghệ ở cơ sở:

- Với phương châm “Hướng về cơ sở”, mọi họat động của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, xã hội đều đặc biệt quan tâm đến cơ sở. Cơ sở là nơi gần dân nhất và cũng là nơi trực tiếp tổ chức cho nhân dân thực hiện mọi nhiệm vụ chính trị, nghĩa vụ công dân và là nơi tổ chức đời sống trực tiếp cho nhân dân.

- Công tác văn hóa, văn nghệ ở cơ sở vừa bảo đảm tổ chức tốt các hoạt động văn hóa theo định hướng chung, vừa biết khơi dậy những sáng tạo văn hóa, văn nghệ ở cơ sở, phát huy truyền thống văn hóa ở địa phương, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc.

- Công tác văn hóa - văn nghệ góp phần xây dựng con người mới, cuộc sống mới, đấu tranh chống thói hư, tật xấu, hủ tục lạc hậu; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, trong lành, tạo sự phát triển toàn diện của con người.

- Động viên tính năng động, sáng tạo của nhân dân trong lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần giữ gìn, phát huy các giá trị và bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc; sáng tạo ra các giá trị mới làm phong phú thêm nền văn hoá Việt Nam.

3. Mục tiêu, phương châm công tác văn hóa, văn nghệ ở cơ sở.

3.1. Mục tiêu:

- Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, tập thể và cộng đồng, địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực hoạt động và quan hệ con người, tạo ra đời sống tốt đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng đề ra: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, thuân thủ pháp luật”.

- Công tác văn hóa - văn nghệ ở cơ sở phát huy truyền thống văn hóa quê hương, dân tộc, xây dựng con người mới, đời sống văn hóa mới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội; thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.

3.2. Phương châm:

- Phát huy dân chủ, xã hội hóa các hoạt động văn hóa - văn nghệ. Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia sáng tạo, bảo tồn, phát huy, phát triển, giao lưu, quảng bá và hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

- Gắn công tác xây dựng đời sống văn hóa với việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Văn hóa và kinh tế có mối quan hệ gắn bó, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển.

- Sử dụng sức mạnh tổng hợp để làm công tác văn hóa - văn nghệ ở cơ sở. công tác văn hóa cơ sở là của toàn dân, nhưng phải có lực lượng nòng cốt, chủ lực.

- Xây dựng đời sống văn hóa mới phải đi đôi với việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bài trừ các tệ nạn xã hội, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu; ngăn chặn các hoạt động kinh doanh văn hóa trái pháp luật, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội.

 

II. NHIỆM VỤ CÔNG TÁC VĂN HÓA - VĂN NGHỆ.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII đề ra 5 quan điểm, 10 nhiệm vụ, nhiệm vụ cấp bách đến năm 2000 và 4 nhóm giải pháp, nhằm “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Nội dung yêu cầu của bài này chỉ nêu lên 6 nhiệm vụ, cơ bản sát và phù hợp với công tác văn hóa - văn nghệ ở cơ sở.

1. Xây dựng con người mới.

 Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới với 5 đức tính là:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

- Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung.

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường văn hoá, sinh thái.

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật sáng tạo, năng suất cao, vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực. 

2. Xây dựng môi trường văn hoá ở cơ sở.

- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị, xã hội; trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên.

- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” (theo 5 nội dung của của Cuộc vận động).

- Xây dựng gia đình văn hoá; làng, bản, thôn, ấp, xã, phường văn hoá; cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học văn hoá gắn với việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; triển khai nhân rộng mô hình xây dựng nông thôn mới.

- Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; đấu tranh loại bỏ các hoạt động kinh doanh văn hóa thiếu lành mạnh, phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại.  

3. Phát triển văn học - nghệ thuật.

- Động viên, khuyến khích  nhân dân sáng tạo văn học - nghệ thuật, sáng tác nhiều tác phẩm văn học - nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thâm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người.

- Bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận, phê bình văn học - nghệ thuật. Đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của Đảng.

- Lãnh đạo, quản lý, tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động văn học, nghệ thuật. 

- Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và trình độ thưởng thức nghệ thuật của công chúng, đặc biệt là thế hệ thanh, thiếu niên.

4. Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa.

- Sưu tầm và xử lý hiện vật lịch sử - văn hoá, điều tra, thám sát khảo cổ, trùng ru, khai thác tác dụng di tích lịc sử - văn hóa.

- Bảo tồn văn hoá vật thể và phi vật thể, sưu tầm, bảo quản, biên dịch, xuất bản văn hóa dân gian.

- Tổ chức nghệ thuật diễn xướng sử thi, diễn tấu cồng chiêng và các loại nhạc cụ dân tộc, trình diễn các thể loại dân ca dân vũ của đồng bào các dân tộc thiểu số; phát hiện, thống kê, bồi dưỡng nghệ nhân.

5. Công tác bảo tồn, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.

- Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể.

- Tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình, như: khôi phục, sửa chữa nhà rông, lưu giữ cồng chiêng, truyền dạy văn hóa dân gian, nghề truyền thống; giới thiệu, quảng bá bản sắc văn hóa các dân tộc.

- Bảo tồn và phát triển, sử dụng ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc; tổ chức nghiên cứu, sưu tầm văn hóa, văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số.

- Phát hiện, khuyến khích bồi dưỡng tài năng trẻ, năng khiếu văn học, nghệ thuật là người dân tộc thiểu số.  

- Sưu tầm, nghiên cứu, biên dịch, ghi âm văn hóa dân gian, như: khôi phục nghệ thuật diễn xướng sử thi, diễn tấu, cồng chiêng và các loại nhạc cụ dân tộc; phục dựng lễ  hội dân gian truyền thống.

- Tổ chức Ngày hội văn hoá - thể thao các dân tộc; liên hoan nhạc cụ dân tộc, liên hoan dân ca dân vũ và trình diễn trang phục dân tộc; nhằm khơi dậy phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng; đặc biệt là thực hiện công tác bảo tồn, phát huy, phát triển bản sắc văn hóa dân gian của dân tộc trong tỉnh.

- Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số, đưa chương trình giảng dạy song ngữ vào trong trường học.

6. Xây dựng thiết chế, thể chế văn hoá.

- Thiết chế văn hoá bao gồm: Nhà văn hoá, hội trường (phòng họp), nhà truyền thống, thư viện, bưu điện văn hoá, sân thể thao, câu lạc bộ, đội văn nghệ quần chúng, tổ đội tuyên truyền lưu động, các thiết bị cho tuyên truyền, cổ động.

- Thể chế văn hoá là hệ thống các quy định, chính sách về quản lý, xây dựng, phát triển văn hoá, văn nghệ ở cơ sở. Bao gồm:

+ Tổ chức cán bộ, bộ máy làm công tác văn hoá ở cơ sở.

+ Cơ chế phối hợp hoạt động giữa các bộ phận làm công tác văn hoá và các bộ phận làm công tác khác.

+ Các quy tắc, chuẩn mực, nội quy, quy định hoạt động văn hoá. Ví dụ như quy định (hương ước, quy ước ở khu dân cư), nội quy về việc khai thác sách báo ở thư viện, phòng đọc, điều lệ của câu lạc bộ…

+ Các chính sách chế độ trong hoạt động văn hoá, các điều kiện, phương tiện làm việc, tiêu chuẩn về khen thưởng, kỷ luật...

 

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC VĂN HÓA -VĂN NGHỆ Ở CƠ SỞ.

1. Sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng đối với công tác văn hoá - văn nghệ ở cơ sở.

- Lãnh đạo, định hướng các hoạt động tuyên truyền, thông tin, cổ động văn hoá.

- Chỉ đạo tổ chức các hoạt động phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng.

- Lãnh đạo việc xây dựng và củng cố thư viện, phòng đọc sách, bưu điện văn hoá; triển khai công tác quản lý, khai thác sử dụng hệ thống sách trang bị cho xã, phường, thị trấn.

- Lãnh đạo việc bảo tồn và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, văn hoá, tổ chức quản lý tốt các lễ hội ở cơ sở.

- Lãnh đạo việc hình thành trung tâm văn hoá - thể thao.

2. Sự quản lý của chính quyền đối với công tác văn hoá, văn nghệ ở cơ sở.

- Cụ thể hoá các chủ trương của cấp uỷ thành các chương trình, kế hoạch công tác văn hoá, văn nghệ phù hợp với đặc điểm riêng của địa bàn, đối tượng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của quần chúng nhân dân.

- Hướng dẫn việc triển khai kế hoạch và tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ trên địa bàn. Triển khai phong trào xây dựng môi trường văn hóa, vệ sinh xanh, sạch, đẹp và thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.

- Dành tỷ lệ ngân sách hợp lý cho công tác văn hoá, văn nghệ. Huy động xã hội hoá hoạt động văn hoá, văn nghệ; thực hiện công tác thi đua khen thưởng, nhân rộng điển hình tiên tiến trên lĩnh vực văn hóa - văn nghệ.

3. Nhiệm vụ của cán bộ chuyên trách công tác Tuyên giáo đối với công tác văn hoá - văn nghệ ở cơ sở.

Với chức năng tham mưu cho cấp uỷ đảng lãnh đạo công tác văn hoá - văn nghệ ở cơ sở, cán bộ chuyên trách công tác tuyên giáo có nhiệm vụ:

- Nắm vững quy định của Đảng và Nhà nước về văn hoá - văn nghệ.

- Nắm bắt đầy đủ tình hình hoạt động của các thiết chế văn hoá, bảo đảm sự hoạt động văn hoá ở cơ sở đúng quan điểm định hướng và nội dung chỉ đạo của cấp uỷ.

- Nắm chắc tình hình hoạt động văn hoá và nhu cầu văn hoá - văn nghệ của dân cư trên địa bàn; xây dựng các câu lạc bộ văn hóa - văn nghệ, thể thao theo lứa tuổi, địa bàn. Dự báo những nhu cầu, thị hiếu của công chúng trong sáng tạo và tiếp nhận văn hoá - văn nghệ.

- Xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng, chương trình liên hoan, hội thi biểu diễn văn nghệ quần chúng, khơi dậy phong trào văn hóa - văn nghệ, thể thao quần chúng, phát huy tính sáng tạo nghệ thuật của nhân dân.

- Tổ chức điều tra, sưu tầm, quản lý, bảo tồn di sản văn hóa, giá trị bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số, di tích lịch sử, văn hóa, nghề truyền thống, nghệ nhân dân gian. Dự trù kinh phí hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể thao hàng năm trình lên cấp ủy và chính quyền thông qua.

- Phát hiện những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc, hoạt động kinh doanh, dịch vụ văn hóa thiếu lành mạnh, các sản phẩm văn hóa độc hại, tham mưu cấp uỷ đảng chỉ đạo chấn chỉnh kịp thời.

- Tổng kết và rút ra những bài học về mô hình thiết chế văn hoá phù hợp với tình hình điều kiện ở cơ sở. Phát hiện, biểu dương, nhân rộng mô hình, nêu gương điển hình tiên tiến trong phong trào văn hóa - văn nghệ.

 

 

 

* ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC TỈNH KON TUM

Kon Tum là một tỉnh miền núi, biên giới, có diện tích tự nhiên 9.690,5 km2, gồm 8 huyện và 1 thành phố (thành phố Kon Tum), với 97 xã, phường, thị trấn, trong đó có 10 xã biên giới giáp với hai nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Campuchia, chiều dài biên giới hơn 280,7km, có 51 xã và 36 thôn đặc biệt khó khăn; dân số gần 50 vạn người, dân tộc thiểu số trên 53%; hơn 30 dân tộc (trong đó 06  tộc người bản địa: Xơ Đăng, BaNa, Gia Rai, Giẻ - Triêng, B’Râu và Rơmăm); là vùng đất giàu truyền thống cách mạng và đa dạng, phong phú về bản sắc văn hóa.

Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyếtt Trung ương 5 khóa VIII của tỉnh đánh giá: Trong những năm qua, công tác văn hóa, văn nghệ ở cơ sở đã có nhiều khởi sắc, đời sống văn hóa tinh thần ngày càng được nâng lên; trình độ dân trí có sự phát triển; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” được đẩy mạnh và đi vào chiều sâu;  công trình văn hóa, thể thao, di tích lịch sử được đầu tư xây dựng; các thiết chế văn hóa ở cơ sở được quan tâm quy hoạch và từng bước xây dựng; nhà rông, cồng chiêng, nghề truyền thống, văn hóa dân gian được bảo tồn, phát huy; hệ thống thông tin đại chúng cơ bản đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân; hoạt động văn hóa - văn nghệ có bước phát triển và mở rộng giao lưu, hợp tác với bên ngoài; cơ chế chính sách cho văn hóa, văn học, nghệ thuật đã có sự quan tâm, cơ bản  đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển văn hóa - văn nghệ của tỉnh.

Tuy nhiên, mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân còn thấp; nhân dân vùng sâu, vùng xa còn đói thông tin; bản sắc văn hóa ngày càng bị mai một; lớp trẻ ít quan tâm đến việc phát huy văn hóa truyền thống; văn hóa phẩm độc hại xâm nhập đến tận vùng sâu, vùng xa; năng lực cán bộ văn hóa chưa ngang tầm; đầu tư của chính quyền cho hoạt động văn hóa - văn nghệ còn rất hạn chế.

Trên cơ sở đánh giá đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những yếu kém khuyết điểm, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, Hội nghị đa đề ra một số giải pháp thực hiện xây dựng và phát triển văn hóa, văn nghệ trong của tỉnh trong thời gian tới như sau: 

- Tiếp tục quán triệt nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của văn hóa Việt Nam. Phát triển văn hóa - văn nghệ chính là xây dựng con người Việt nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống lành mạnh, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

- Tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo, định hướng của các cấp uỷ đảng; sự quản lý của chính quyền; chủ động triển khai của ngành chức năng trong việc triển khai, thực hiện xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

- Nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp của các ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển văn hóa và đấu tranh chống tiêu cực, kịp thời phản bác các luận điệu xuyên tạc sai trái, âm mưu hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; chủ động đấu tranh phòng, chống sự xâm nhập văn hóa độc hại; kiểm soát và quản lý  mạng internet...

- Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động văn hoá - văn nghệ quần chúng ở cơ sở; rà soát quy hoạch và xây dựng, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa bảo đảm tính lịch sử, khoa học, phục vụ công tác giáo dục truyền thống, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

- Ban hành Quy định về chính sách trọng dụng, đãi ngộ tài năng văn học, nghệ thuật và đặt hàng sáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật tỉnh Kon Tum; định kỳ tổ chức xét và trao giải thưởng sáng tạo nghệ thuật về tỉnh Kon Tum. 

- Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, như: ngày hội văn hoá -  thể thao các dân tộc, liên hoan ca múa nhạc dân gian; khơi dậy không gian văn hóa cồng chiêng. Xây dựng và khôi phục nhà rông truyền thống; mở rộng địa bàn, lực lượng truyền dạy nghề truyền thống; phát triển nghệ nhân.

- Có biện pháp giúp đồng bào bảo tồn các di sản văn hoá (cồng chiêng, nhà rông, nhạc khí dân tộc...), giữ gìn sắc phục của dân tộc, khuyến khích đồng bào mặc trang phục dân tộc mình vào các ngày lễ, tết...

- Có định hướng trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức các lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian, hạn chế, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan.

- Củng cố đội thông tin lưu động và thường xuyên hoạt động tới các thôn làng, chuyển tải những nội dung và lượng thông tin thiết thực cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, biên giới.

- Quy hoạch, xây dựng khu sinh giải trí, sân thể thao, thư viện, phòng đọc sách, báo, thông tin điện tử, phủ sóng phát thanh - truyền hình vùng lõm; trang bị loa truyền thanh không dây... phục vụ nhu cầu thông tin cho nhân dân ở cơ sở.

* Công tác văn hoá, văn nghệ ở cơ sở là một bộ phận quan trọng của công tác tuyên giáo dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ và chính quyền cơ sở, đó là những hoạt động tinh thần của nhân dân. Làm tốt công tác này sẽ tạo điều kiện cho nhân dân nâng cao trình độ nhận thức, bồi dưỡng tình cảm cách mạng và tạo khí thế hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng; quản lý, hỗ trợ của chính quyền; phối hợp của các đoàn thể chính trị xã hội; động viên cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tham gia công tác phát triển văn hoá, văn nghệ, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 7:

CÔNG TÁC KHOA GIÁO Ở CƠ SỞ

 

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KHOA GIÁO.

1. Khái niệm.

Khoa giáo là tên gọi tắt các hoạt động trên lĩnh vực khoa học, giáo dục và xã hội nói chung. Các lĩnh vực khoa giáo bao gồm: khoa học - công nghệ, kỹ thuật, giáo dục, đào tạo, dạy nghề và các vấn đề xã hội liên quan đến việc bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người bao gồm vấn đề sức khỏe, dân số, gia đình, trẻ em, thể dục - thể thao, việc làm, môi trường, bảo hiểm và các tệ nạn xã hội.

Công tác khoa giáo là hoạt động lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng về các lĩnh vực khoa giáo. Công tác khoa giáo ở cơ sở là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ (chi bộ) cơ sở về các lĩnh vực khoa giáo.

Hệ thống tổ chức công tác khoa giáo của Đảng bao gồm: Ban Tuyên giáo Trung ương; ban tuyên giáo tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; ban tuyên giáo huyện ủy, thành ủy, quận ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy và Tuyên giáo đảng ủy xã, phường, thị trấn. Về quản lý Nhà nước, các lĩnh vực khoa giáo do một cơ quan Trung ương đảm tránh, có các tổ chức tương ứng ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở.

2. Vai trò của công tác khoa giáo.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định: Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp...". Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm.

Công tác khoa giáo tập trung chăm lo phát triển nhân tố con người, khoa học - công nghệ, phát triển nguồn lực, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hoá và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đảng ta xác định các lĩnh vực khoa giáo có vị trí quan trọng hàng đầu trong hệ thống chính sách và nhiệm vụ trọng tâm của các ngành, các cấp, là đòn bẩy chủ yếu, tạo ra nền tảng vững chắc cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa học - công nghệ là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020.

Công tác khoa giáo ở cơ sở tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển sự nghiệp giáo dục & đào tạo; tuyên truyền, vận động lao động nông thôn tham gia học nghề; tiếp nhận chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật mới vào lao động, sản xuất, nâng cao hiệu quả, năng suất lao động; giáo dục, chăm lo bảo vệ sức khỏe nhân dân; chuẩn bị tốt nguồn lực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

 

II. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CÔNG TÁC KHOA GIÁO.

1. Nhiệm vụ chuyên môn.

1.1. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng của các lĩnh vực khoa giáo, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ trong giai đoạn hiện nay:

Quán triệt sâu sắc những quan điểm của Đảng về mục tiêu, giải pháp nêu trong Nghị quyết Đại hội XI, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 về phát triển các lĩnh vực khoa giáo. Trong đó, phát triển giáo dục & đào tạo, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp; thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế; đồng thời xác định đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa học - công nghệ là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020". Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI xác định nhiệm vụ trọng tâm là: Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức. Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Bảo vệ môi trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với tình trạng biến đổi khí hậu.

1.2. Lãnh đạo thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về giáo dục,  đào tạo và dạy nghề:

 a. Quan điểm:

- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay[3]. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập. Trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp.

- Công tác dạy nghề, nâng cao chất lượng lao động ở nông thôn, tạo việc làm, chuyển nghề, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống là tạo nguồn nhân lực thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn và xây dựng nông thôn mới; xác định việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác dạy nghề cho lao động nông thôn là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp. 

b. Mục tiêu:

- Đến năm 2015, hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 45%, lao động sau học nghề có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ có hiệu quả cao đạt ít nhất 70%.

- Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện[4]. Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Tỷ lệ đi học đúng tuổi ở tiểu học là 99%, trung học cơ sở là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ khả năng tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở. Tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên là 98% và tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 35 là 99% đối với cả nam và nữ. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt khoảng 70%[5]; tỷ lệ sinh viên đạt 450 trên một vạn dân. Lao động sau học nghề có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ có hiệu quả cao đạt ít nhất 80%.

c. Nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới:

- Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt[6].

- Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp; chú trọng phát triển, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học; khắc phục những mặt yếu kém và tiêu cực trong giáo dục hiện nay. Rà soát, đánh giá, phân loại đội ngũ giáo viên, giảng viên theo chuẩn nghề nghiệp do Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định; trên cơ sở đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đối với đội ngũ giáo viên, giảng viên.

- Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục; phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục; tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ quản lý giáo dục làm cơ sở đánh giá, nhận xét, điều động, luân chuyển cán bộ. Đổi mới hoạt động dạy nghề theo hướng tăng cường dạy thực hành gắn với các cơ sở sản xuất. Kế hoạch dạy nghề cho lao động nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phù hợp với quy hoạch sản xuất và xây dựng nông thôn mới.

- Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các ngành học, bậc học. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động dạy nghề.

- Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; huy động nguồn vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục, đào tạo.

- Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, đào tạo; rà soát, đầu tư, sửa chữa các trường học xuống cấp, nhà công vụ của giáo viên vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở dạy nghề.

1.3. Lãnh đạo thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về  khoa học, công nghệ và môi trường:

a. Quan điểm [7]:

Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; làm chủ, ứng dụng và phát triển các công nghệ có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, tạo ra các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao. Đầu tư cho phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển khoa học và công nghệ[8].

Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế; vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững và phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của toàn xã hội; phương châm là lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính kết hợp với xử lý, khắc phục và cải thiện môi trường kịp thời, hiệu quả.

b. Mục tiêu:

Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, tạo động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Mục tiêu cụ thể:

Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Xây dựng được nền tảng khoa học hiện đại, đạt trình độ hàng đầu của khu vực và thứ hạng cao trên thế giới ở một số lĩnh vực. Số cán bộ khoa học và công nghệ nghiên cứu và phát triển đạt mức 11/1vạn dân; tăng nhanh số lượng các công trình được công bố quốc tế và số lượng các sáng chế được bảo hộ trong nước và ở nước ngoài. Phát triển mạnh các doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Đến năm 2020, khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; hoạt động khoa học và công nghệ đóng góp khoảng 35% tăng trưởng kinh tế. Xây dựng được một số sản phẩm quốc gia mang thương hiệu Việt Nam. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp; tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt khoảng 20% /năm; giá trị giao dịch của thị trường khoa học và công nghệ tăng trung bình khoảng 15%/năm. Đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới; tiềm lực khoa học và công nghệ đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên; nâng độ che phủ rừng lên 45%. Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh. Các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn. Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng. Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng.

c. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu trong  thời gian tới là:

- Đổi mới tư duy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ[9]. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học và công nghệ; sử dụng, trọng dụng người làm công tác khoa học - công nghệ[10].

- Triển khai các định hướng nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu[11]. Nâng cao chất lượng các đề tài, dự án khoa học và công nghệ; chuyển giao, ứng dụng vào thực tế; đẩy mạnh phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Phát huy và tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia; phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ.

- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường; thế chế hóa yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội.

- Tăng cường nguồn lực tài chính, đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kinh tế, tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư bảo vệ môi trường; đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường và hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu về môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế.

- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho bảo vệ môi trường.

- Kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thái, xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ môi trường đô thị, vùng ven đô thị và vùng nông thôn. Khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

1.4. Một số nội dung về các vấn đề xã hội liên quan:

a. Về chăm sóc sức khỏe nhân dân:

a1. Quan điểm, mục tiêu:

- Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ[12].

- Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng và chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt, từng bước xã hội hóa sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân và mở rộng hợp tác quốc tế.

- Phấn đấu đến năm 2020 tất cả các xã, phường có bác sĩ; giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng nòi giống; tăng cường thể lực cho thanh niên. Từng bước khắc phục cơ bản về các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng[13]. Phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu; thực hiện công bằng xã hội[14]. Hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, bảo đảm đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho mọi địa bàn dân cư; phấn dấu đạt 9 bác sĩ và 26 giường bệnh trên một vạn dân, đổi mới cơ chế và chính sách viện phí, tiến hành bảo hiểm y tế toàn dân; kết hợp chặt chẽ y học hiện đại và y học cổ truyền; ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi nạn dịch HIV/AIDS bằng các biện pháp mạnh mẽ, kiên trì và có hiệu quả.

a2. Nhiệm vụ và giải pháp thời gian tới:

- Tổ chức sắp xếp hệ thống y tế công, đặc biệt là y tế cơ sở. Đổi mới cơ chế hoạt động, quản lý về tài chính, nhân lực của các cơ sở y tế công, từng bước áp dụng các công nghệ hiện đại để khám chữa bệnh. Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhằm khuyến khích phát triển và mở rộng các cơ sở y tế tư nhân.

- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về y tế và bảo hiểm y tế; cải cách mạnh mẽ thủ tục khám bệnh, chữa bệnh nhằm giảm phiền hà cho nhân dân; tổ chức thực hiện quy định về quản lý giá thuốc, quản lý hành nghề y dược tư nhân; quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao y đức và trách nhiệm của cán bộ y tế, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về y tế.

- Chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách y tế đối với người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người già, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội; vận động và hỗ trợ người cận nghèo mua thẻ bảo hiểm y tế; quan tâm đến sức khỏe người lao động, học sinh, sinh viên.

- Cơ cấu lại nguồn tài chính cho y tế để tiến đến nguồn tài chính công chiếm một tỷ trọng cao (ít nhất là trên 50%) trong tổng ngân sách chi tiêu y tế[15].

- Triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả trong công tác thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi về chăm sóc sức khỏe, chính sách pháp luật, các chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân cho nhân dân trên địa bàn. 

b. Về dân số - kế hoạch hóa gia đình:

b1. Quan điểm, mục tiêu:

- Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

- Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ, tinh thần, cơ cấu nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; từng bước nâng cao chỉ số phát triển con người của nước ta lên mức tương đương với các nước công nghiệp có trình độ phát triển trung bình trên thế giới. Tăng cường sức khỏe, giảm tỉ lệ bệnh tật; tăng tuổi thọ và số năm trung bình sống khỏe mạnh.

- Mục tiêu đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; quy mô dân số nước ta không quá 100 triệu người vào năm 2020, tạo cơ sở vững chắc để ổn định quy mô dân số ở mức 115-120 triệu người vào giữa thế kỷ XXI; kiên trì thực hiện mục tiêu gia đình ít con để nuôi dạy cho tốt, mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con để duy trì vững chắc mức sinh thay thế. 

b2. Nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới:

- Tập trung nguồn lực, thực hiện mạnh mẽ các giải pháp, mở rộng chính sách khuyến khích để tiếp tục giảm sinh ở vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa. Có chính sách và biện pháp cụ thể để ổn định mức sinh, bảo đảm sự bền vững của chính sách dân số.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược tổng thể nâng cao toàn diện các thành tố của chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần; tiến hành các giải pháp can thiệp về kỹ thuật và xã hội nhằm giảm thiểu các yếu tố gây ảnh hưởng, làm suy thoái chất lượng giống nòi.

- Chủ động kiểm soát và giải quyết các nguyên nhân sâu xa làm mất cân bằng giới tính của trẻ sơ sinh; xử lý nghiêm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi.

- Phát triển các dịch vụ xã hội thích ứng với giai đoạn cơ cấu dân số già ở nước ta từ năm 2015; từng bước hoàn thiện chế độ an sinh tuổi già.

- Cải tiến quản lý dân số theo phương thức quản lý dịch vụ công, ứng dụng công nghệ hiện đại xây dựng cơ sở dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình thống nhất trong toàn quốc.

- Tiếp tục hoàn thiện chính sách về dân số; đầu tư đủ kinh phí, trang thiết bị, cơ sở vật chất và điều kiện đảm bảo thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án, dự án về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình.

- Thành lập Ban Chỉ đạo các cấp, kiện toàn cơ quan chuyên trách làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; tăng cường tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn thực hiện tốt chính sách dân số.

c. Về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: 

c1. Quan điểm, mục tiêu:

- Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng cho việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đầu tư cho trẻ em là đầu tư cho tương lai của đất nước. Làm tốt công tác này là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

- Năm 2015, tỷ lệ trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi trên 95 %; tỷ lệ trẻ em <1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ trên 90%; giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi 14%, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi 19,3%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (cân nặng/tuổi) 15%, tỷ số giới tính khi sinh (trai/100 gái) là 113.

- Năm 2020, tỉ lệ trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi trên 95 %; tỷ lệ trẻ em <1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ trên 90%; giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi 11%, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi 16%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (cân nặng/tuổi) 10%, tỷ số giới tính khi sinh (trai/100 gái) là 115; có ít nhất 30% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non.

c2. Nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới:

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động để mọi người dân thấy được tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; quan tâm giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; phê phán, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại quyền trẻ em.

- Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng mở rộng chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho trẻ em, đặc biệt là những trẻ em thuộc gia đình nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số gắn với thực hiện các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cần xác định các mục tiêu chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là một trong những nội dung trọng tâm của mục tiêu xã hội.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình, đề án chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Khi lập các dự án xây dựng khu dân cư, khu nhà ở phải dành diện tích thích hợp để xây dựng trường học, công trình vui chơi, giải trí cho trẻ em. Từng bước bố trí tăng nguồn ngân sách cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; trong đó ưu tiên kinh phí đầu tư các công trình cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, trẻ em các gia đình chính sách, gia đình nghèo và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

- Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị - xã hội. Khuyến khích sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân cho các hoạt động và công trình dành cho trẻ em.

- Tăng cường quản lý nhà nước, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp; có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với đội ngũ cộng tác viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới ở thôn, ấp, bản. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật, chính sách liên quan đến trẻ em và thực hiện các quyền của trẻ em.

- Tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, giữa các ban, ngành, đoàn thể trong hoạt động chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Tăng cường giám sát và phản biện xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến trẻ em; phát hiện, ngăn chặn, lên án các hành vi bạo lực, vi phạm pháp luật, vi phạm quyền trẻ em.

d. Công tác bảo hiểm xã hội:

d1. Quan điểm, mục tiêu:

- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa các thành viên, bảo đảm công bằng và bền vững. Thực hiện tốt các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân. 

- Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội tự nguyện; thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân. Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Sử dụng an toàn và bảo đảm cân đối Quỹ bảo hiểm xã hội trong dài hạn; quản lý, sử dụng có hiệu quả và bảo đảm cân đối Quỹ bảo hiểm y tế. Xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. 

d2. Nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới: 

- Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội; quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi tham gia bảo hiểm. 

- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Rà soát, bổ sung quy định buộc người sử dụng lao động phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; có chính sách khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia bảo hiểm y tế.

- Tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Nâng cao chất lượng dịch vụ và thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Kiện toàn tổ chức bộ máy bảo hiểm xã hội các cấp; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ, giảm phiền hà cho người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. 

- Củng cố và tăng cường quản lý quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế bảo đảm thu chi, đầu tư tăng trưởng hiệu quả và an toàn theo quy định của pháp luật. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. 

e. Về thể dục, thể thao:

e1. Quan điểm, mục tiêu:

- Phát triển thể dục, thể thao là một yêu cầu khách quan của xã hội, nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đầu tư cho thể dục thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước. Phát triển thể dục, thể thao là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân.

- Đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyện của nhân dân; trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao ngang tầm Châu Á và thế giới; bảo đảm các điều kiện để sẵn sàng đăng cai tổ chức thành công các sự kiện thể thao lớn của Châu Á và thế giới.

e2. Nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới:

- Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục thể thao quần chúng, quan tâm phát triển thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang, nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bảo tồn, phát triển các môn thể thao dân tộc và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong các hoạt động thể dục, thể thao.

- Đầu tư, nâng cấp các trung tâm huấn luyện thể thao của quốc gia, các ngành, các địa phương, đáp ứng yêu cầu huấn luyện thể thao hiện đại, khuyến khích phát triển câu lạc bộ thể thao; kiên quyết đấu tranh khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong thể thao; quan tâm quy hoạch đất dành cho thể dục, thể thao; bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

- Đổi mới tổ chức, quản lý thể thao thành tích cao theo hướng chuyên nghiệp, hỗ trợ cho đào tạo vận động viên các môn thể thao trọng điểm; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, bảo đảm tính kế cận, liên tục và phát triển; coi trọng giáo dục đạo đức, ý chí, lòng tự hào dân tộc cho vận động viên; tôn vinh và đãi ngộ xứng đáng các vận động viên xuất sắc. Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học.

- Đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát triển các tổ chức xã hội về thể dục thể thao; tăng cường hợp tác quốc tế.

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác thể dục, thể thao. Quan tâm chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội đối với công tác thể dục, thể thao.

2. Giúp cấp uỷ chỉ đạo công tác chính trị, tư tưởng trong đội ngũ trí thức, các nhà khoa học và trong sinh viên, học sinh ở địa phương; nghiên cứu đề xuất về chủ trương đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý và đãi ngộ nhân tài.

Để nâng cao chất lượng hiệu quả công tác chính trị tư tưởng, Ban Tuyên giáo chủ động tham mưu cho cấp ủy xây dựng và thông qua phương hướng, nội dung, nhiệm vụ công tác tư tưởng trong các cơ quan thuộc khối khoa giáo trên địa bàn. Cần căn cứ đường lối, chủ trương của đảng và yêu cầu của từng lĩnh vực công tác khoa giáo, căn cứ tình hình tư tưởng của đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, giáo viên, y, bác sỹ, của cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn để quyết định phương hướng, nhiệm vụ, nội dung, biện pháp tiến hành công tác tư tưởng trong từng thời kỳ. Trong công tác chính trị tư tưởng thuộc khối khoa giáo, cần quan tâm đội ngũ trí thức ở địa phương, động viên họ tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội. Trong các lĩnh vực, cần phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín ở địa phương.

3. Tham gia ý kiến về công tác cán bộ đối với đội ngũ cán bộ các ngành trong khối theo phân cấp quản lý.

Phối hợp với các cơ quan hữu quan đề xuất về cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, quản lý và đãi ngộ nhân tài và đội ngũ trí thức khoa học.

Căn cứ vào tình hình và yêu cầu về tổ chức bộ máy và về công tác cán bộ cụ thể ở từng ngành khoa giáo ở địa phương. Ban tuyên giáo tham gia cùng các cơ quan khác tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo phương hướng, biện pháp tiến hành công tác tổ chức cán bộ của cơ quan khoa giáo và tham gia với các ngành, các cấp trong việc bổ nhiệm và bố trí cán bộ cho các cơ sở khoa giáo ở địa phương.

Trong công tác cán bộ, ban tuyên giáo chủ động tham mưu cho cấp ủy về kế hoạch đào tạo nguồn cán bộ trong lĩnh vực khoa giáo của địa phương. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, có trình độ chuyên môn sâu các lĩnh vực khoa giáo bằng các hình thức chọn lựa, cấp kinh phí cho cán bộ là người địa phương đi học trung cấp, cao đẳng, đại học, gắn với những chính sách đầu tư, thu hút sinh viên tốt nghiệp các loại hình đào tạo về địa phương công tác.

Công tác cán bộ cần quan tâm đến việc xây dựng mạng lưới và hình thành đội ngũ cán bộ chuyên trách, hoặc cán bộ kiêm nhiệm theo dõi các mặt công tác khoa giáo. Phân công một đồng chí thường vụ cấp ủy phụ trách công tác khoa giáo. Lãnh đạo chính quyền, các ngành, các tổ chức xã hội và nhân dân tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của từng lĩnh vực công tác khoa giáo.

4. Tham gia công tác xây dựng đảng đối với các đảng bộ, chi bộ thuộc khối khoa giáo.

Tăng cường công tác phát triển đảng trong các trường học, trạm y tế... Phân công, bố trí đảng viên có năng lực, uy tín vào công tác lãnh đạo và tham mưu giúp cấp ủy về các lĩnh vực công tác khoa giáo.

Để làm tốt việc này, trong những năm trước mắt, cấp ủy các cấp cần có chủ trương, biện pháp cụ thể, quy chế phối hợp để ban tuyên giáo các cấp chủ động và tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng ở các cơ quan thuộc ngành khoa giáo trên địa bàn.

Căn cứ vào tình hình cụ thể của các đoàn thể nhân dân trong khối khoa giáo để xác định phương hướng, biện pháp tiến hành công tác quần chúng cho phù hợp. Tăng cường lãnh đạo các đoàn thể xã hội như Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ, Công đoàn... trong các trường học, trạm y tế... nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng chuyên môn ở các cơ quan, đơn vị thuộc khối khoa giáo. Có cơ chế để huy động các lực lượng xã hội như Hội Phụ lão, Hội Cựu chiến binh, Hội Chữ thập đỏ, Hội Nông dân, Hội cha mẹ học sinh cùng các đoàn thể chính trị xã hội vào việc chăm lo các mặt công tác khoa giáo.

Hằng năm, ban tuyên giáo có chương trình công tác quần chúng, có kế hoạch làm việc với lãnh đạo các đoàn thể để nghe báo cáo và định hướng, nội dung, biện pháp hoạt động, đồng thời xử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh trong từng đoàn thể quần chúng thuộc cơ quan trong khối khoa giáo.

 

III. NỘI DUNG CÔNG TÁC KHOA GIÁO Ở CƠ SỞ.

1. Tham mưu cấp ủy Đảng cơ sở tổ chức các hội nghị phổ biến, quán triệt, xây dựng các chương trình, kế hoạch và biện pháp triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng trên các lĩnh vực khoa giáo, bảo đảm phù hợp với điều kiện địa phương và có tính khả thi cao; đề ra chủ trương, quy định đúng đắn, tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa giáo ở cơ sở hoàn thành tốt nhiệm vụ.

2. Phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở hoạch định các nhiệm vụ, mục tiêu thực hiện các lĩnh vực khoa giáo vào chương trình, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Chú trọng quy hoạch nguồn lực, đất đai để thực hiện nhiệm vụ chuyển giao khoa học, công nghệ và kỹ thuật; xây dựng cơ sở trường học, trạm y tế, sự nghiệp thể dục thể thao và khu vui chơi, giải trí phục vụ việc giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em.

3. Tham mưu chỉ đạo công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực khoa giáo sát với mục tiêu, chương trình, kế hoạch của địa phương. Chú trọng tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng ụng khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời sông theo Chỉ thị 15 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; vận động lao động nông thôn tham gia học nghề, tạo việc làm, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động, học sinh ra trường, ra lớp; thực hiện các chương trình, kế hoạch, mục tiêu về y tế như vệ sinh, phòng trừ dịch bệnh, tiêm chủng mở rộng, sinh đẻ, bệnh tật phải đến cơ sở y tế để khám bệnh; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em...

4. Tham mưu đánh giá sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, chương trình, kế hoạch của Đảng trên lĩnh vực khoa giáo; đề ra các giải pháp tích cực để thực hiện tốt hơn các chủ trương, chính sách của Đảng ở địa phương cơ sở.

5. Giúp cấp ủy cơ sở chỉ đạo, định hướng tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ phụ trách khoa học, công nghệ và kỹ thuật; cán bộ, giáo viên và học sinh, y, bác sỹ, y tế thôn, cán bộ làm công tác dân số, gia đình, trẻ em và thể dục, thể thao ở địa phương.

 

IV. PHƯƠNG THỨC, CƠ CHẾ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC KHOA GIÁO Ở CƠ SỞ.

1. Phương thức lãnh đạo.

Một là: Đảng ủy (chi ủy) họp bàn, ra quyết định về công tác khoa giáo cũng như từng lĩnh vực trong công tác khoa giáo; đồng chí cấp uỷ phụ trách công tác tuyên giáo cơ sở chỉ đạo từng ngành, bộ phận liên quan chuẩn bị nội dung.

Hai là: Đảng bộ xã, phường lãnh đạo bằng cách chăm lo công tác tổ chức cán bộ, bồi dưỡng, lựa chọn cán bộ chính quyền bổ nhiệm lãnh đạo của các ngành, bộ phận phụ trách các lĩnh vực khoa giáo. Thông qua vai trò của đảng viên trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể bảo đảm nghị quyết về công tác khoa giáo được thực hiện tốt.

Ba là: Lãnh đạo bằng việc giám sát, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, kịp thời uốn nắn lệch lạc, sớm phát hiện nhân tố mới, các điển hình tiên tiến… để nhân rộng và phổ biến kinh nghiệm tốt, cách làm hay.

Bốn là: Lãnh đạo bằng sự gương mẫu của từng đảng viên trong từng tổ chức, cộng đồng dân cư. Phải nắm bắt và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của quần chúng với tổ chức đảng cơ sở, để chỉ đạo định hướng tư tưởng chính trị cho quần chúng ở cơ sở.

2. Cơ chế lãnh đạo của đảng bộ cơ sở.

Lãnh đạo công tác khoa giáo chủ yếu thông qua hệ thống chính trị, xây dựng cơ chế phối hợp để triển khai thực hiện.

+ Về tổ chức: Có thể xây dựng hội đồng công tác khoa giáo, gồm đại diện Thường trực cấp ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân, cấp ủy viên phụ trách công tác tuyên giáo cấp ủy và các ban ngành, đoàn thể ở cấp xã lãnh đạo, chỉ đạo công tác khoa giáo (hoặc do cấp ủy cơ sở trực tiếp lãnh đạo).

+ Về mục tiêu, kế hoạch, biện pháp thực hiện: Sau khi có nghị quyết của cấp uỷ, hội đồng họp để cụ thể hoá, xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện, xác định mục tiêu, biện pháp và phân công trách nhiệm triển khai nghị quyết của đảng bộ. Từng thành viên trong hội đồng phải đưa ra các mục tiêu, giải pháp có liên quan vào chương trình, kế hoạch công tác, cụ thể:

- Hội đồng nhân dân cấp xã đưa nội dung công tác khoa giáo cần thiết vào nội dung để bàn trong các kỳ họp và quyết định định chủ trương của chính quyền địa phương, đồng thời giám sát Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện.

- Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, quản lý, phối hợp điều hành công việc hàng ngày, giải quyết các điều kiện và chế độ chính sách cụ thể để triển khai từng mặt công tác sau khi có chủ trương của đảng bộ và Hội đồng nhân dân.

- Các ngành, bộ phận thuộc lĩnh vực khoa giáo thực hiện công việc cụ thể theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của ngành dọc, đồng thời cụ thể hóa triển khai thực hiện nghị quyết của cấp uỷ, chính quyền địa phương.

- Cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể cơ sở, làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia thực hiện công tác khoa giáo.

- Hội đồng công tác khoa giáo (hoặc cấp ủy) tổ chức giao ban định kỳ để nắm tình hình, đôn đốc, động viên cán bộ phụ trách các lĩnh vực khoa giá và giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh, tạo điều kiện để công tác khoa giáo triển khai đến từng thôn, làng, tổ dân phố và gia đình. Tiến hành kiểm tra, giám sát định kỳ nhằm phát hiện những thiếu sót, khuyết điểm để chấn chỉnh, bổ sung kịp thời.

 

V. TÁC NGHIỆP TRÊN LĨNH VỰC KHOA GIÁO.

Bộ phận phụ trách công tác tuyên giáo tham mưu cho cấp uỷ trong việc lãnh đạo công tác khoa giáo; căn cứ quan điểm, nội dung, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của đảng và chính quyền đối với công tác khoa giáo, Bộ phận phụ trách công tác tuyên giáo cấp ủy cơ sở giúp cấp ủy kế hoạch cụ thể cho từng lĩnh vực của công tác khoa giáo để lãnh đạo, chỉ đạo. Tuyên truyền sâu rộng về vị trí, vai trò quan trọng hàng đầu của công tác khoa giáo.

1. Chuẩn bị dự thảo nghị quyết của cấp uỷ về công tác khoa giáo.

Tổ chức lực lượng xây dựng nghị quyết của cấp uỷ: Bộ phận chỉ đạo: Đồng chí cấp ủy phụ trách tuyên giáo cơ sở, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân phụ trách văn hóa - xã hội. Bộ phận thực hiện, khảo sát, điều tra, nghiên cứu, soạn thảo: Đồng chí cấp ủy phụ trách tuyên giáo cơ sở và các ngành, bộ phận phụ trách từng lĩnh vực khoa giáo. Xây dựng chương trình, kế hoạch, phân công trách nhiệm giữa các bộ phận và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chuẩn bị dự thảo.

- Đồng chí trong cấp ủy phụ trách tuyên giáo nghiên cứu, biên tập dự thảo, lấy ý kiến các ban, ngành, đoàn thể có liên quan; sau đó tổng hợp báo cáo cấp ủy để thảo luận, ra nghị quyết về toàn bộ hay từng mặt công tác khoa giáo. Trong nghị quyết cần nêu rõ thực trạng, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp… xác định rõ trách nhiệm cho từng tổ chức, ngành, đoàn thể chịu trách nhiệm triển khai từng công việc cụ thể. Sau đó, các ban ngành, đoàn thể đưa vào nội dung công tác để thực hiện hằng năm.

2. Tổ chức hướng dẫn thực hiện nghị quyết.

Sau khi có nghị quyết về công tác khoa giáo, bộ phận tuyên giáo cơ sở giúp cấp uỷ tổ chức, hướng dẫn và triển khai thực hiện, theo các bước sau:

- Bước một: Chuẩn bị tổ chức triển khai: Nắm bắt các đối tượng cần triển khai; xác định hình thức, phương pháp truyền đạt cho phù hợp; nắm các thông tin về tình hình kinh tế - xã hội về các lĩnh vực khoa giáo có liên quan để gắn với việc truyền đạt nghị quyết; chuẩn bị tài liệu, đề cương dành cho báo cáo viên, câu hỏi thảo luận, chương trình hành động và hướng dẫn thực hiện; phối với các bộ phận thông tin tuyên truyền; báo cáo với cấp uỷ về kế hoạch triển khai.

- Bước hai: Tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai nghị quyết. Cần làm rõ mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và nội dung nghị quyết. Nghị quyết nhằm giải quyết vấn đề gì, cần làm gì và làm như thế nào, ai làm, làm ở đâu, thời gian nào, ai chịu trách nhiệm, công tác phối hợp, việc tổ chức thực hiện; tổ chức thảo luận.

- Bước ba: Hoàn thiện dự thảo chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết trình cấp ủy quyết định. Chương trình, kế hoạch phải gắn với nội dung của nghị quyết và tình hình thực tiễn của địa phương, phải giải quyết được những vấn đề trọng tâm, bức xúc của nội dung nghị quyết ban hành.

- Bước bốn: Căn cứ vào các nội dung, mục tiêu của chương trình, kế hoạch hành động của cấp ủy, bộ phận phụ trách công tác tuyên giáo cơ sở chỉ đạo các ngành, bộ phận liên quan cụ thể hóa để triển khai thực hiện. Định kỳ, tổ chức đánh giá sơ kết, tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm từ những mô hình hay để phổ biến rộng rãi, đề ra giải pháp thực hiện tốt hơn và có biện pháp khắc phục những khuyết điểm, yếu kém trong thời gian tới.

3. Tổ chức kiểm tra việc thực hiện nghị quyết.

- Xác định vấn đề cần kiểm tra, mục tiêu, yêu cầu và địa chỉ kiểm tra. Thành lập đoàn kiểm tra; xây dựng kế hoạch và thông báo về lịch trình kiểm tra; tổ chức hoạt động kiểm tra, tuỳ theo đối tượng, nội dung, mục đích, yêu cầu của kiểm tra để xác định hình thức kiểm tra cho phù hợp.

- Phương pháp kiểm tra, nghe báo cáo của đơn vị được kiểm tra; kiểm tra hồ sơ, sổ sách; quan sát trực tiếp các công việc, hoạt động của đối tượng được kiểm tra; trắc nghiệm. Tham khảo ý kiến, nhận xét, đánh giá của các bộ phận, lĩnh vực có liên quan tới nội dung kiểm tra; thăm dò dư luận theo nhiều phía…nhằm thu thập được các thông tin chính xác, trung thực, khách quan.

- Xử lý và tổng hợp thông tin trong suốt quá trình kiểm tra để rút ra được kết luận từng vấn đề. Tổ chức cuộc họp nội bộ của đoàn kiểm tra để thảo luận các vấn đề và đi đến nhận định, kết luận. Nếu có vấn đề lớn có ý kiến trái ngược nhau phải tổ chức toạ đàm, trao đổi để đi đến thống nhất.

- Báo cáo kết luận kiểm tra cần phải ngắn gọn, rõ ràng, đánh giá kết quả đạt được, hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân, những giải pháp trong thời gian tới; gửi cho cấp uỷ và các đồng chí có trách nhiệm chính trong đoàn kiểm tra cho ý kiến rồi báo cáo với cấp ủy quyết định; thông báo kết quả kiểm tra đến đối tượng kiểm tra; xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với từng ưu điểm, khuyết điểm trong lãnh đạo, tổ chức triển khai thực hiện.

- Các đơn vị trực tiếp thực hiện nội dung xây dựng kế hoạch phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm để triển khai thực hiện có hiệu quả nghị quyết của đảng ở địa phương.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 8:

LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG VÀ QUY TRÌNH TỔ  CHỨC                    NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG

 

I. LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG.

1. Khái niệm lịch sử địa phương.

- Địa phương là khái niệm chỉ những vùng, khu vực có ranh giới tự nhiên nhất định. Theo nghĩa đó: địa phương là đơn vị hành chính từ tỉnh đến cơ sở.

- Lịch sử địa phương: Là lịch sử của các địa phương, bao gồm lịch sử của làng, xã, huyện tỉnh, vùng, miền. Ngoài ra, lịch sử địa phương còn đề cập đến các đơn vị sản xuất, đơn vị chiến đấu, các trường học, cơ quan, xí nghiệp (doanh nghiệp). Do vậy, khái niệm “lịch sử địa phương” rất đa dạng về nội dung và thể loại.

2. Đối tượng nghiên cứu của lịch sử địa phương.

Lịch sử địa phương là một bộ phận của lịch sử dân tộc. Do đó, đối tượng nghiên cứu của nó bao gồm các vấn đề sau:

- Lịch sử địa phương nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử các đơn vị hành chính của một quốc gia như thôn, xã, huyện, tỉnh, thành phố,…trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng (quân sự),…một cách toàn diện ở một địa phương cụ thể. Nó có thể nghiên cứu toàn bộ lịch sử quá trình hình thành và phát triển của địa phương, cũng như trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.

Nghiên cứu về đối tượng này có nhiều thể loại phong phú như:

+ Lịch sử Đảng bộ, các đoàn thể cách mạng địa phương,

+ Lịch sử các phong trào cách mạng địa phương,

+ Lịch sử phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục,…của địa phương,

+ Những đóng góp và truyền thống trong lịch sử của địa phương,

+ Lịch sử hình thành và phát triển của làng, xã, thành phố, chợ, chùa, nhà thờ,…

- Lịch sử địa phương nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng lịch sử ở một địa phương có liên quan tới những sự kiện, hiện tượng lịch sử dân tộc.

- Lịch sử địa phương nghiên cứu các cơ quan, ban, ngành, trường học, các tổ chức quần chúng.

Vấn đề quan trọng là khi tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử địa phương phải đặt nó trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử chung, chỉ ra được sự tác động, ảnh hưởng của hoàn cảnh chung, từ đó rút ra những đặc điểm của địa phương.

3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương.

- Lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc, là một bộ phận của lịch sử dân tộc.

- Lịch sử địa phương góp phần làm sáng tỏ, phong phú thêm lịch sử dân tộc. Thông qua đó, giúp người đọc không những tìm hiểu rộng hơn, sâu hơn lịch sử dân tộc mà còn nhận thức sâu sắc hơn về lịch sử của địa phương mình.

- Việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương là một tài liệu quan trọng, bổ ích trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng tình yêu quê hương, lòng tự hào về truyền thống địa phương; từ đó nâng cao nhận thức cho mỗi người trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy truyền thống quê hương trong hiện tại.

 

II. SỰ QUAN TÂM CHỈ ĐẠO CỦA CÁC CẤP ỦY ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THỜI GIAN QUA.

- Việc quan tâm chỉ đạo nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương: tập trung từ sau khi tách tỉnh (8-1991), đặc biệt là từ khi có Chỉ thị 15-CT/TW ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư Trung ương về "Tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam", Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã chỉ đạo các cấp nghiêm túc quán triệt Chỉ thị. Đồng thời, cụ thể hoá tinh thần Chỉ thị bằng việc ban hành Thông tri số 03-TT/TU ngày 08-5-2006 về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW trên địa bàn tỉnh. Để đôn đốc các đơn vị triển khai thực hiện, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tiếp tục có Công văn 663-CV/TU ngày 02-7-2009; Công văn 809-CV/VPTU ngày 7-10-2011 về đẩy mạnh nghiên cứu, biên soạn lịch sử trên địa bàn tỉnh.

- Một số kết quả đạt được:

+ Đối với cấp tỉnh: Đã biên soạn, xuất bản 2 tập sách lịch sử Đảng bộ tỉnh (1930-1975) và (1975-2000); sách “Kon Tum đất nước, con người”, sách “Kon Tum-100 năm lịch sử và phát triển”, Đề tài “Biên niên sự kiện lịch sử tỉnh Kon Tum (1471-2009),…

+ Đối với cấp huyện, thành phố: Đã biên soạn, xuất bản lịch sử Đảng bộ các huyện, thành phố,….

+ Đối với các sở, ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang….

+ Đối với cấp xã, phường, thị trấn: Hiện tại có một số đơn vị đang triển khai nghiên cứu, biên soạn,…

- Một số hạn chế và nguyên nhân:

* Hạn chế:

+ Một số cấp ủy đảng chưa quan tâm chú ý triển khai quán triệt nội dung Chỉ thị 15 của Ban Bí thư, Thông tri 03 và Công văn 663 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

+ Việc triển khai nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, lịch sử truyền thống của các ngành, đoàn thể chưa tích cực, đồng bộ. Còn nhiều ngành chưa tiến hành nghiên cứu, biên soạn lịch sử truyền thống, nhất là một số ngành có bề dày truyền thống tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Y tế, Giao thông vận tải, các ban xây dựng Đảng ...các đơn vị này chỉ mới dừng lại ở việc phát động cán bộ, công chức hưởng ứng các cuộc thi tìm hiểu lịch sử, các cuộc tọa đàm, gặp mặt nhân các ngày kỷ niệm truyền thống ngành.

+ Việc biên soạn lịch sử truyền thống các xã, phường, thị trấn chưa được chú ý triển khai.

+ Một số huyện, ngành chưa nghiêm túc tiếp thu ý kiến thẩm định của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và tìm cách xin giấy phép in ấn, xuất bản, nên một số sách lịch sử đảng bộ huyện và lịch sử truyền thống ngành, đoàn thể đã xuất bản chất lượng chưa cao, nội dung dàn trải, liệt kê sự kiện, phản ánh sai chủ thể nghiên cứu, biên soạn. Vấn đề này Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phát hiện nhưng chưa có biện pháp chấn chỉnh.

- Một số sách và ấn phẩm lịch sử đã xuất bản song còn nhiều sự kiện sai, chưa bổ sung, tái bản, nên việc biên soạn các giáo trình phục vụ giảng dạy trong các hệ thống trường học cũng theo đó chưa được chính xác.

- Đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn lịch còn thiếu rất nhiều (các huyện, thành hầu như không có, chỉ kiêm nhiệm)

* Nguyên nhân:

- Do thiếu sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền trong công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ và lịch sử truyền thống cũng như việc tổng kết đánh giá những vấn đề thuộc về lịch sử đảng bộ, lịch sử cách mạng địa phương.

- Tư liệu còn thiếu rất nhiều, chưa đảm bảo tính hệ thống, nên rất khó khăn trong quá trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh, huyện, thành; lịch sử truyền thống các ngành, đoàn thể và các xã, phường, thị trấn. Trong khi đó nguồn kinh phí hàng năm (theo tinh thần chỉ đạo của Thông tri) cho công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh, huyện, thành chưa được Uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện, thành quan tâm thực hiện đúng mức. Do đó kinh phí phục vụ công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ các cấp còn khó khăn. Hầu như chưa tiến hành thu thập được những cứ liệu lịch sử có giá trị ở các kho lưu trữ Trung ương, nên còn rất khó khăn cho quá trình xác minh, đối chiếu, tham mưu thẩm định tính chính xác, khoa học các sự kiện lịch sử.

- Chưa sưu tầm bổ sung được nguồn tài liệu cần thiết phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn và thẩm định. Hầu hết các ngành, địa phương chưa bố trí được nguồn kinh phí đặc thù cho công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử.

- Việc tiếp thu ý kiến thẩm định của cơ quan chức năng (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy) của các Ban chỉ đạo trước khi hoàn chỉnh, in ấn, xuất bản chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến nhiều công trình Lịch sử đảng bộ sa vào lịch sử phong trào và báo cáo lại hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các cấp chính quyền, chưa làm rõ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ đối với tiến trình cách mạng, do đó chưa đảm bảo tính Đảng, tính khoa học.

- Các cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đến việc bố trí cán bộ chuyên môn làm công tác nghiên cứu, biên soạn và tổng kết lịch sử từ tỉnh đến huyện.

- Đa số các ngành, đoàn thể, huyện, thành chưa nắm vững quy trình nghiên cứu, biên soạn một công trình lịch sử, nên triển khai còn lúng túng.

III. QUY TRÌNH TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG.

1. Xin chủ trương.

Để tiến hành nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương, trước hết phải có chủ trương của cấp ủy. Chủ trương này được bàn bạc, thống nhất trong cấp ủy và được thể hiện bằng các văn bản chỉ đạo: nghị quyết, chỉ thị, thông tri,…. Nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy được gửi lên cấp trên và gửi cho các ban, ngành (tỉnh, huyện) để thực hiện hoặc tạo điều kiện giúp đỡ, phối hợp.

2. Các bước nghiên cứu, biên soạn.

2.1. Xây dựng kế hoạch nghiên cứu, biên soạn:

- Thành lập Ban Chỉ đạo:

Gồm trưởng ban, phó trưởng ban và các thành viên. Tùy theo mỗi thể loại nghiên cứu, gắn với tình hình triển khai thực hiện ở mỗi địa phương, ban ngành, đơn vị…để quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phù hợp (thường từ 3-7 người). Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức thực hiện quá trình nghiên cứu, biên soạn.

- Thành lập Ban biên tập, biên soạn:

Số lượng thành viên (tỉnh: 4-5 người; huyện, xã: 2-3 người).

Ban biên tập, biên soạn chịu trách nhiệm trước Ban Chỉ đạo về tổ chức nghiên cứu, biên soạn, bao gồm: sưu tầm và hệ thống tư liệu, xây dựng đề cương, viết bản thảo, tham mưu tổ chức các cuộc họp, hội thảo (tư liệu, bản thảo).

3. Các bước tiến hành cụ thể.

3.1. Lập kế hoạch nghiên cứu, biên soạn:

Trong kế hoạch nêu rõ:

- Mục đích, yêu cầu

- Xác định tư tưởng, công tác chỉ đạo nghiên cứu, biên soạn

- Xác định nội dung công việc, tiến độ thực hiện, lực lượng tham gia.

- Tổ chức thực hiện

* Lưu ý: Nêu rõ yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của từng công việc:

+ Sưu tầm, xác minh, hệ thống hóa tư liệu.

+ Xây dựng đề cương biên soạn.

+ Các cuộc tọa đàm, hội thảo (tư liệu, bản thảo)

3.2. Dự trù kinh phí (căn cứ kế hoạch):

Nên dự trù kinh phí cho từng loại công việc; càng chi tiết càng tốt; tách kinh phí biên soạn, biên tập và kinh phí xuất bản.

3.3. Sưu tầm tư liệu:

Yêu cầu của công tác sưu tầm tư liệu là có đủ tư liệu cần thiết và chính xác. Những tư liệu cần thiết bao gồm:

+ Một tác phẩm Lịch sử Đảng, đánh giá thành công hay không là ở chỗ nó phản ánh lịch sử chân thực đến mức nào, tổng kết được kinh nghiệm lịch sử gì. Nói cách khác tác phẩm Lịch sử Đảng thành công ở mức độ nào, điều đó phụ thuộc vào sự thể hiện tính đảng và tính khoa học của nó.

- Muốn có được tác phẩm lịch sử Đảng trước hết phải có đầy đủ tư liệu lịch sử có giá trị cao.

Nghị quyết Bộ chính trị năm 1962 về việc thành lập Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương đã xác định rõ hai nhiệm vụ cơ bản cho Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương và toàn ngành Lịch sử Đảng:

- Tổ chức sưu tầm, xác minh tư liệu và bảo quản tư liệu Lịch sử Đảng.

- Tổ chức biên, soạn Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.

Do vậy nhiệm vụ hàng đầu trong công tỏc giáo dục tư tưởng nhận thức của cán bộ nghiên cứu Lịch sử Đảng là nắm chắc đối tượng, chức năng của công tác sưu tầm, xác minh tư liệu Lịch sử Đảng.

* Các loại tài liệu:

a. Tài liệu thành văn.

- Gồm các nghị quyết, báo cáo, chỉ thị, thông tri, công văn, mật điện,…của các cấp ủy đảng và chính quyền, các sở, ban ngành, đơn vị; thư của các đồng chí lãnh đạo...Đó là tài liệu thành văn. Đây là nguồn tài liệu chính phục vụ cho công tác nghiên cứu biên soạn.

- Trong điều kiện Đảng hoạt động bí mật, chiến tranh ác liệt, nhiều tài liệu thành văn: các loại văn bản nghị quyết, báo cáo, chỉ thị, thông tư ... Bị thiêu huỷ hay thất lạc. Việc tìm lại những tài liệu này thường gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù vậy chúng ta vẫn phải tiến hành sưu tầm, xác minh lạ những tư liệu thành văn quý giá này, đó là nguồn tư liệu cần thiết, thậm chí phải phục chế lại. Nếu thiếu những tài liệu thành văn thì không thể khôi phục được quá trình chân thực của lịch sử.

b. Tài liệu sống (hồi ký):

- Hồi ký, sổ tay chi tiết của các đồng chí lãnh đạo, những tác phẩm tự thuật của các đồng chí cách mạng lão thành đã tham gia trong những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến lĩnh vực cần nghiên cứu biên soạn...Sở dĩ đặt vấn đề quan trọng như vậy vì tài liệu sống bổ sung phong phú cho tư liệu thành văn những chi tiết lịch sử, những nhận định cụ thể thường không có trong văn kiện, nghị quyết, báo cáo v.v…hoặc những ý kiến khác nhau trong việc nhận định tình hình cách mạng lúc đó của Trung ương Đảng, của đảng bộ. Có được những nguồn tư liệu sống làm cơ sở tác phẩm lịch sử của chúng ta sẽ có bối cảnh lịch sử phong phú, sinh động, giúp người đọc có cảm hứng lịch sử, dễ hiểu, tác dụng tuyên truyền rất lớn.

- Tài liệu sống bao gồm hồi ký, tác phẩm tự thuật, giúp cho các đồng chí cán bộ sưu tầm, nghiên cứu thấy được thực tiễn cách mạng sinh động, tạo nguồn cảm hứng công tác.

- Hồi ký góp phần xác minh tư liệu lịch sử, thời điểm lịch sử, bao gồm những ai, xảy ra trong điều kiện lịch sử như thế nào. Hồi ký lịch sử không chỉ bao gồm những đồng chí tham gia trực tiếp vào sự kiện như tham gia hội nghị Trung ương, hội nghị tỉnh uỷ... mà cả những đồng chí tham gia phục vụ hội nghị, phục vụ mít tinh, tham gia các phong trào đấu tranh cách mạng...những người tưởng chừng đứng ngoài sự kiện nhưng thực sự lại biết khá nhiều về những diễn biến lịch sử cụ thể.

- Các loại tài liệu khác như bản đồ, sơ đồ, địa bạ, hình ảnh,….

* Quá trình tập hợp tài liệu:

- Bước đầu là quá trình sưu tầm tài liệu, sau đó phân loại tài liệu theo thứ tự thời gian, chuyên đề lịch sử và thời kỳ, giai đoạn  lịch sử.

- Bước thứ hai tiến hành hệ thống hoá tư liệu chọn lọc tư liệu cần thiết, chính xác để đưa vào sử dụng, phân loại những tài liệu cần phải xác minh độ chính xác. Đánh dấu loại tư liệu nào có và chưa có.

- Bước thứ ba là lưu trữ và bảo quản: đánh số, ghi số, chú thích bản gốc bản chính hay bản sao và cơ quan xác nhận là tư liệu chính thức.

3.4. Tiến hành nghiên cứu, biên soạn:

a. Xây dựng đề cương sơ lược và đề cương chi tiết:

 Đề cương chi tiết thể hiện tương đối cụ thể những nội dung của cuốn lịch sử, bao gồm: Phần mở đầu (nếu là tập I), các chương và các mục, tiết trong mỗi chương (tên, nội dung chính của chương, mục, tiết), những nhận xét, đánh giá của từng chương (tiểu kết) và nội dung của kết luận, bài học.

Đề cương chi tiết cần phân bổ số trang cho mỗi chương.

Tổ chức lấy ý kiến bản đề cương chi tiết (phân kỳ lịch sử, nội dung chủ yếu của các chương, mục, tiết…).

b. Viết bản thảo:

Căn cứ vào đề cương chi tiết đã được cấp ủy thông qua, tiến hành tổ chức biên soạn sơ thảo.

* Một số điểm chú ý trong khi biên soạn.

- Phần mở đầu nhằm giới thiệu những nét cơ bản của địa phương, không nên quá chi tiết sẽ trùng lặp với địa chí.

- Làm rõ bối cảnh lịch sử (từng thời kỳ và sự kiện tiêu biểu)

- Luôn nắm vững đối tượng của lịch sử địa phương.

- Xử lý các trường hợp hợp nhất, chia tách.

- Việc nêu tên các nhân vật và địa phương tiêu biểu.

- Xử lý những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

- Xử lý những vấn đề có liên quan đến sự chỉ đạo của Trung ương diễn ra tại địa phương.

4. Tổ chức lấy ý kiến góp cho bản thảo.

- Sau khi đã hoàn thành việc biên soạn (lần thứ nhất), cần có kế hoạch lấy ý kiến để bổ sung nhằm nâng cao chất lượng của bản thảo.

- Bản thảo cần gửi trước 15-20 ngày cho các đồng chí sẽ xin ý kiến.

- Hình thức tổ chức lấy ý kiến: tùy theo từng đối tượng mà lấy ý kiến toàn bộ hoặc theo thời kỳ.

- Vai trò của người chủ trì hội thảo, tọa đàm.

- Tổng hợp các ý kiến, tiến hành bổ sung.

Tùy theo chất lượng của lần biên soạn bản thảo lần thứ nhất và ý kiến bổ sung, góp ý mà bản thảo được tiếp tục nâng cao.

- Sau khi hoàn thành việc bổ sung, nâng cao, bộ phận biên tập hoặc thư ký) lọc các vấn đề đã xử lý để báo cáo cho Ban chỉ đạo.

- Ban chỉ đạo cho ý kiến rồi có kế hoạch báo cáo cho Ban Thường vụ để thông qua. Lần làm việc cuối cùng của Ban Thường vụ, Ban biên tập trình Thường vụ thông qua: bản thảo, ảnh, sơ đồ, phụ lục (nếu có) và nêu yêu cầu về bìa, khuôn khổ, hình thức cuốn sách…

5. Xin ý kiến thẩm định cơ quan chuyên môn theo quy định.

6. Tổ chức việc in ấn: chú ý đọc và chữa bản in để tránh sai sót.

7. Rút kinh nghiệm việc thực hiện nhiệm vụ.

8. Phát huy tác dụng cuốn sách Lịch sử

- Chỉ đạo của cấp ủy

- Các cơ quan (tuyên giáo, Sở giáo dục, các đoàn thể, báo, phát thanh, truyền hình,….) tổ chức tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử….

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 9:

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ

CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU DƯ LUẬN XÃ HỘI

 

I. KHÁI NIỆM, THUỘC TÍNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI.

1. Một số khái niệm cơ bản.

1.1. Dư luận xã hội:

Theo tài liệu nghiệp vụ tuyên giáo (Ban Tuyên giáo Trung ương): “dư luận xã hội là tập hợp tất cả các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự”.

Tóm lại: Có thể thấy, mặc dù có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về dư luận xã hội, nhưng xét đến cùng, chúng đều có nội hàm tương đối giống nhau, đó là:

+ Dư luận xã hội là hiện tượng tâm lý xã hội;

+ Là những ý kiến đánh giá, phán xét của con người đối với sự vật, hiện tượng, vấn đề cụ thể mang tính thời sự;

+ Là những vấn đề, hiện tượng, hành vi có liên quan đến nhu cầu và lợi ích của chủ thể dư luận.

1.2. Tin đồn:

- Tin đồn: Tin đồn là tin được truyền miệng cho nhau một cách không chính thức, không rõ nguồn gốc và không được đảm bảo là chính xác.

Như vậy, có thể thấy sự giống và khác nhau giữa dư luận xã hội và tin đồn là:

+ Giống nhau:

- Dư luận xã hội và tin đồn đều là hiện tượng tâm lý xã hội;

- Là sản phẩm hoạt động tinh thần của con người.

+ Khác nhau:

Tin đồn:

- Không phải là sản phẩm của tư duy phán xét của cá nhân mang nó;

- Là dạng thông tin không chính thức, thường là bịa đặt, được loan truyền từ người này sang người kia, trong quá trình loan truyền luôn có sự thêm thắt, thêu dệt.

- Tin đồn loang càng xa, nội dung của nó càng khác với nội dung ban đầu.

- Tin đồn, chỉ thành dư luận nhóm, của tập thể lớn hay nhỏ khi có sự phán xét, đánh giá về sự việc, sự kiện, hiện tượng đó.

- Đặc điểm của tin đồn là: Cường độ tin đồn phụ thuộc vào tính hấp dẫn và mức độ không xác định của vấn đề, hình thức lây lan; rút gọn chi tiết; cường điệu hoá; các thông tin được sắp xếp theo động cơ của người truyền tin.

Dư luận xã hội:

- Là sản phẩm của tư duy phán xét của cá nhân mang nó. Mọi thông tin của vấn đề, sự kiện đều được kiểm chứng qua các phương tiện thông tin đại chúng và những nguồn tin có trách nhiệm.

- Dư luận xã hội thể hiện quan điểm, thái độ của cá nhân mang nó trước các hiện tượng, sự kiện, vấn đề mà cá nhân đó quan tâm.

- Dư luận xã hội lúc đầu có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng khi lan càng rộng, càng có xu hướng thống nhất về nội dung phán xét, hoặc tích tụ thành một vài luồng cơ bản.

 Chú ý: Tin đồn có thể làm nảy sinh dư luận xã hội, khi trên cơ sở tin đồn người ta đưa ra những phán xét đánh giá bày tỏ thái độ của mình.

* Dư luận xã hội và chuẩn mực xã hội:

Dư luận xã hội có tác dụng điều chỉnh hành vi con người, vì nó đưa ra những nhận xét, đánh giá trên cơ sở chuẩn mực xã hội. Dư luận xã hội có thể góp phần tạo ra những chuẩn mực xã hội mới, loại bỏ những giá trị chuẩn mực cũ, hoặc nó có thể tập hợp các chuẩn mực xã hội với nhau và tạo ra một sức mạnh mới.

* Dư luận xã hội và Dư luận của xã hội:

Thông thường, sau mỗi vấn đề xã hội được đưa ra, có những quan điểm, cách nhìn nhận khác nhau ở trong mỗi nhóm, mỗi giai tầng xã hội. Những quan điểm, ý kiến của từng nhóm, giai tầng đó được gọi là dư luận của xã hội. Nó chỉ có thể trở thành dư luận xã hội một khi trong quá trình tương tác giữa các nhóm, các giai tầng ấy dẫn đến việc hình thành các ý kiến chung.

1.3. Tâm trạng:

Theo từ điển Tiếng Việt: “Tâm trạng, là trạng thái tâm lý, tình cảm”.

1.4. Tư tưởng:

Theo từ điển Tiếng Việt:

- “Tư tưởng là sự suy nghĩ hoặc ý nghĩ”. Hoặc: “Tư tưởng là quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội”.

2. Các thuộc tính của dư luận xã hội.

2.1. Tính khuynh hướng:

Thái độ của dư luận xã hội đối với mỗi sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có thể khái quát theo các khuynh hướng nhất định (Tích cực hoặc tiêu cực; đồng tình hoặc phản đối…).

2.2. Tính cường độ:

Thể hiện mức độ của mỗi khuynh hướng (đậm- nhạt, mạnh- yếu…).

2.3. Tính thống nhất và xung đột của dư luận xã hội:

Thường diễn ra trong quá trình trao đổi thông tin của chủ thể dư luận để đi đến thống nhất hình thành dư luận; hay ở trường hợp lợi ích không thống nhất hoặc trình độ học vấn… khác nhau của các giai tầng xã hội trước một vấn đề, sự kiện, hiện tượng giống nhau…

2.4. Tính bền vững:

Đối với những đối tượng, quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường bền vững; còn đối với những vấn đề mới nảy sinh, dư luận xã hội thường dễ thay đổi.

2.5. Tính tiềm ẩn:

Dư luận xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn. Vấn đề này thường gặp khi sự kiện, hiện tượng … mang tính nhạy cảm, quan trọng… có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của chủ thể dư luận nếu bày tỏ công khai sẽ không có lợi.

3. Các thành phần tâm lý trong dư luận xã hội.

Dư luận xã hội chứa đựng cả 3 thành phần tâm lý cơ bản của con người là: Nhận thức, tình cảm và ý chí.

4. Khả năng phản ánh chân lý của dư luận xã hội.

Dư luận cũng như các hiện tượng xã hội khác không ngừng phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội, dư luận xã hội có thể đúng nhiều, đúng ít, nhưng dù có đúng đến mấy thì nó cũng có những hạn chế nhất định và dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hội cũng có hạt nhân hợp lý. Do đó, không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của dư luận xã hội, nhưng cũng không thể coi thường nó được.

5. Các chức năng của dư luận xã hội.

5.1. Chức năng đánh giá:

Dư luận xã hội thể hiện thái độ phán xét, đánh giá của công chúng đối với các sự kiện, hiện tượng, vấn đề… của cuộc sống. Nhờ có sự đánh giá, phán xét, dư luận xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành các thang giá trị của xã hội.

5.2. Chức năng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội:

Dư luận xã hội phản đối, gây sức ép, cản trở hành vi cực đoan, cổ vũ các hành vi vì lợi ích chung của các lực lượng tiến bộ trong xã hội.

5.3. Chức năng giáo dục:

 Dư luận xã hội có vai trò rất lớn trong việc giáo dục luân thường, đạo lý trong xã hội.

5.4. Chức năng giám sát:

 Dư luận xã hội có vai trò giám sát các hoạt động của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội, gây sức ép lớn đối với những vấn đề tiêu cực trong xã hội, như tệ tham nhũng, quan liêu, ...

5.5. Chức năng tư vấn, phản biện:

Trước những vấn đề nan giải của đất nước, dư luận xã hội có thể cung cấp những kiến nghị rất sáng suốt. dư luận xã hội cũng là người phản biện có uy tín đối với quyết định của các cơ quan đảng, chính quyền, tổ chức chính trị- xã hội.

5.6. Chức năng giải tỏa tâm lý:

Dư luận xã hội được giãi bày, bày tỏ thành lời có thể giải tỏa được bất bình, uất ức của con người, nhóm xã hội, làm cho tâm lý con người, nhóm xã hội trở lại vị trí thăng bằng.

 

II. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU DƯ LUẬN XÃ HỘI.

1. Đối tượng nghiên cứu dư luận xã hội.

Mỗi một ngành khoa học đều có đối tượng nghiên cứu riêng của nó. Đối tượng nghiên cứu của dư luận xã hội, là nghiên cứu thái độ tâm trạng, tư tưởng, nguyện vọng xu hướng của những cộng đồng xã hội rộng lớn, đó là các tầng lớp, các tập đoàn xã hội hoặc của nhân dân trên một địa bàn xã hội rộng đối với các sự kiện, hiện tượng về an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa… đã và đang diễn ra trong quá trình phát triển xã hội.

Thái độ đánh giá đồng tình, ủng hộ hoặc lên án, phản đối trong dư luận của các tầng lớp nhân dân, các nhóm xã hội về các sự kiện, hiện tượng trong xã hội đều là sự phản ảnh của hiện thực trong cuộc sống, nhưng không phải mọi dư luận xã hội đều là chân lý, đều phản ảnh đúng đắn thực tế khách quan. Dư luận xã hội bao giờ cũng là sự phản ảnh lợi ích của cộng đồng. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần như hiện nay, một sự kiện, vấn đề nào đó có thể có nhiều luồng dư luận khác nhau trong các cộng đồng giai tầng xã hội khác nhau, do có sự khác nhau về lợi ích của các thành phần kinh tế, tuy vậy chúng cũng có một cơ sở là lợi ích chung thống nhất. Chính điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu dư luận xã hội như là một khoa học, mới nắm bắt đúng dư luận xã hội và vận dụng nó trong lãnh đạo, quản lý xã hội.

Dư luận xã hội không chỉ đề cập ở phạm vi rộng lớn như một nước, một quốc gia và trên thế giới, mà còn biểu hiện trong phạm vi các tầng lớp và các thành phần xã hội khác nhau, như công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, tôn giáo và từng ngành, nghề cụ thể…. Vì vậy, công tác nghiên cứu dư luận xã hội đòi hỏi phải nắm đúng đối tượng và tính qui luật khách quan của dư luận. Khái quát diễn biến tình hình, mức độ phạm vi, thời điểm của dư luận, từ đó phân tích, tổng hợp và nhận định dự báo xu hướng tất yếu của dư luận. Quá trình nghiên cứu dư luận cần phân biệt rõ trong một thời điểm, dư luận nào là dư luận của nhóm, của tập thể với dư luận nào là dư luận của giai cấp hay đại đa số nhân dân lao động là rất cần thiết, nhằm xác định đúng đối tượng nghiên cứu của dư luận, từ đó có cơ sở phân tích, tổng hợp, nhận định đánh giá khách quan và đúng đắn.

2. Nhiệm vụ nghiên cứu của dư luận xã hội.

2.1. Khái niệm về nghiên cứu dư luận xã hội:

Là qui trình tìm hiểu thái độ phản ứng tâm trạng, nguyện vọng của những nhóm, những cộng đồng xã hội nhất định thông qua việc tìm hiểu những phán đoán đánh giá, những ý kiến của các nhóm, các tập đoàn xã hội ấy đối với các hiện tượng, quá trình xã hội nói chung trong một thời điểm nào đó, hoặc đối với những sự kiện cụ thể đang diễn ra.

2.2. Nhiệm vụ của nghiên cứu dư luận xã hội:

Trong kết cấu của dư luận xã hội bao gồm hai bộ phận: Chủ thể của dư luận và khách thể của dư luận (đối tượng của dư luận), do đó việc nghiên cứu dư luận xã hội có hai nhiệm vụ:

- Xác định rõ chủ thể của dư luận, tức là phải nghiên cứu, tìm hiểu ai là chủ thể của dư luận? là tầng lớp, thành phần xã hội hay nhóm xã hội nào? Nếu chỉ là ý kiến cá nhân hoặc vài cá nhân lẻ tẻ, thì cá nhân là chủ thể của các ý kiến ấy.

Hoặc, nếu chỉ mới là dư luận của một tập thể (một nhóm xã hội nhỏ) nào đó, thì tập thể là chủ thể của dư luận. Còn đã là dư luận xã hội thì xã hội (nhóm xã hội lớn) là chủ thể của dư luận, thường phải là ý kiến phản ảnh tâm tư, nguyện vọng, thái độ của một tầng lớp hay một thành phần xã hội nào trên một địa bàn xã hội rộng.

Lập trường giai cấp được xem như là cơ sở để xác định chủ thể của dư luận xã hội, vì giai cấp là vật mang dư luận xã hội được hình thành với những lợi ích và mục đích giai cấp. Do đó, khi xem xét dư luận xã hội, chúng ta không chỉ đặt nó vào trong cấu trúc ý thức xã hội nói chung, mà phải phân tích nó trong các mối quan hệ xã hội. Bản thân dư luận xã hội phản ảnh vị thế xã hội trong sự tương tác với các cá nhân và các nhóm xã hội được tạo ra bởi các mối quan hệ xã hội và các lợi ích của họ. Đặc tính này chi phối sự khác biệt trong động cơ nguồn dư luận xã hội.

- Phân tích đối tượng của dư luận xã hội (khách thể của dư luận xã hội): Tức là phải phân tích tìm hiểu sự kiện, hiện tượng xã hội nào (vấn đề gì?) mà quần chúng quan tâm, tìm ra nguồn gốc của nó, phân tích đúng, sai và đề ra phương hướng giải quyết. Thường đối tượng của dư luận xã hội là những vấn đề có liên quan đến lợi ích của nhóm. Lợi ích ấy quan hệ đến các tầng lớp, thành phần xã hội nào, thì dư luận có thể lan truyền đến đó.

Để xác định được đối tượng của dư luận xã hội, có thể dựa vào hai dấu hiệu cơ bản:

* Lợi ích chung được xem như là tiêu chuẩn hàng đầu để xác định đối tượng của dư luận xã hội, bởi vì lợi ích chung là cơ sở xuất hiện các tranh luận tập thể. Tuy nhiên, trong mối quan hệ với ý thức, lợi ích cá thể cùng tồn tại ở ngoài dư luận xã hội. Bản thân dư luận xã hội chỉ tồn tại trên cơ sở lợi ích chung.

* Những tranh luận gắn liền với lợi ích xã hội được mọi người quan tâm là điều kiện cơ bản thứ hai để xác định đối tượng của dư luận xã hội.

3. Mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu dư luận xã hội.

Dù được tiến hành ở phạm vi, phương thức nào, thực chất của quá trình nghiên cứu dư luận xã hội là thông qua việc thu thập các ý kiến, các phán đoán chung của những người để tìm hiểu thái độ, phản ứng, tâm trạng, nguyện vọng, khuynh hướng suy nghĩ của xã hội nói chung hoặc của các nhóm xã hội khác nhau.

Nghiên cứu dư luận xã hội là một công tác có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý xã hội nói chung và với việc đề ra, triển khai các chủ trương, nhiệm vụ chính trị cụ thể trong từng thời điểm.

Nghiên cứu dư luận xã hội có hai mặt:

+ Là thước đo tâm trạng, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, là chỉ số nói lên các khuynh hướng suy nghĩ và cảm xúc của các tầng lớp ấy.

+ Mặt khác, nghiên cứu dư luận xã hội là con đường tốt nhất để “bắt mạch” đời sống xã hội, để hiểu tình trạng xã hội đang ở trạng thái nào: Lành mạnh, bình ổn hay mâu thuẫn, căng thẳng...

 

III. CƠ CHẾ HÌNH THÀNH DƯ LUẬN XÃ HỘI.

 1. Quá trình hình thành dư luận xã hội.

Quá trình hình thành dư luận xã hội gồm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn tiếp nhận thông tin;

- Giai đoạn hình thành các ý kiến cá nhân;

- Giai đoạn trao đổi ý kiến giữa các cá nhân;

- Giai đoạn hình thành dư luận chung.

Giai đoạn 1: Các cá nhân, các nhóm xã hội…tiếp xúc, chứng kiến, thu nhận thông tin từ sự kiện, vấn đề… hiện hữu.

Giai đoạn 2: Tạo nên cảm giác ban đầu thông qua những thông tin về các hiện tượng của sự kiện, vấn đề đó.

Giai đoạn 3: Trao đổi, bàn luận, tranh luận về các cảm nghĩ, các ý kiến xung quanh đối tượng của dư luận.

Giai đoạn 4:  Các ý kiến cá nhân khác nhau được thống nhất trên cơ sở những quan điểm cơ bản để hình thành sự đánh giá chung về các sự kiện, vấn đề. Và từ việc đánh giá dẫn đến sự phán xét về hành động.

2. Cơ sở tâm lý, xã hội của việc hình thành dư luận xã hội.

2.1. Cơ sở nhận thức:

Nội dung và sắc thái dư luận xã hội thường được quy định trực tiếp bởi trình độ hiểu biết của công chúng, nhóm xã hội. Sự hiểu biết nhiều hay ít của công chúng, nhóm xã hội quyết định sự đánh giá đúng hay sai đối với vấn đề, sự kiện, hiện tượng hiện hữu.

Một trong những yếu tố tâm lý có ảnh hưởng lớn đến quá trình nhận thức, tiếp nhận thông tin và đưa ra ý kiến của cá nhân, của nhóm xã hội là khuôn mẫu tư duy của cá nhân, của nhóm xã hội đó.

2.2. Cơ sở xã hội:

Một trong những căn cứ xã hội của dư luận xã hội là yếu tố lợi ích nhóm, giai cấp. Các nhóm xã hội có lợi ích giống nhau, thì tư tưởng của họ về những vấn đề, sự kiện, hiện tượng…có liên quan đến lợi ích đó cũng thường giống nhau.

Trong xã hội có nhiều giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội với các lợi ích khác nhau, nếu các sự kiện, hiện tượng xảy ra không mang lại lợi ích chung, phổ quát mà là lợi ích riêng, đặc thù của mối giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội thì dư luận của các nhóm, tầng lớp, giai cấp có thể xung đột gay gắt với nhau.

Mặc dù có những lợi ích rất khác nhau, nhưng giữa các nhóm, tầng lớp, giai cấp cũng có những lợi ích chung. Lợi ích chung không mâu thuẫn với lợi ích riêng, đặc thù chính đáng của mỗi nhóm, tầng lớp, giai cấp trong xã hội mà lợi ích chung chính là nền tảng, chỗ dựa giúp mỗi nhóm, tầng lớp, giai cấp đạt lấy những lợi ích riêng, đặc thù chính đáng của mình.

Cần phân biệt lợi ích đặc thù chính đáng với lợi ích đặc thù, cực đoan. Lợi ích đặc thù cực đoan bao giờ cũng đối lập, đi ngược lại lợi ích chung. Vì vậy, trong phân tích dư luận xã hội, phải biết nó xuất phát từ lợi ích của giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội nào; lợi ích đó có chính đáng không, có phù hợp với lợi ích chung hay không.

2.3. Dự báo tình hình tư tưởng dư luận xã hội:

Trên cơ sở phân tích căn nguyên nhận thức và căn nguyên xã hội của dư luận xã hội, chúng ta có thể đưa ra những dự báo tin cậy về tình hình tư tưởng, tâm trạng của các tầng lớp nhân dân.

- Mức độ phổ biến, tính bền vững của các khuôn mẫu tư duy xã hội phản ánh qua dư luận xã hội là cơ sở dự đoán mức độ đồng tình hay phản đối của dư luận xã hội đối với sự việc sắp diễn ra.

- Trên cơ sở phân tích các mối quan hệ về lợi ích giữa các nhóm xã hội, tình trạng dân trí và tình trạng thông tin, có thể đưa ra các dự đoán về xu thế biến đổi của dư luận xã hội trong những giai đoạn nhất định.

 

IV. SỬ DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DƯ LUẬN XÃ HỘI PHỤC VỤ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI.

1. Sử dụng các cứ liệu điều tra, nắm bắt dư luận xã hội phục vụ quá trình ra quyết định của các cấp lãnh đạo.

Dư luận xã hội là một trong những cơ sở thông tin giúp các cấp lãnh đạo đưa ra những quyết định phù hợp với lòng dân, kịp thời bổ sung, chỉnh lý những quyết định còn khuyếm khuyết, tháo gỡ các vướng mắc trong quá trình tổ chức, thực hiện.

1.1. Sử dụng các kết quả nghiên cứu lý luận và điều tra, nắm bắt dư luận xã hội để đánh giá tình hình tâm trạng, tư tưởng của xã hội:

- Dư luận xã hội là hiện tượng tinh thần tổng thể, không chỉ thể hiện trình độ dân trí, trình độ nhận thức, cách tư duy mà còn thể hiện tình cảm, ý chí của các nhóm xã hội.

+ Trình độ nhận thức: “dân trí”, cách tư duy xã hội, được thể hiện dưới dạng các khuôn mẫu tư duy xã hội.

+ Dư luận xã hội cũng thể hiện tâm trạng, tình cảm, ý chí của nhân dân nói chung, các tầng lớp, các nhóm xã hội nói riêng. Trong dư luận xã hội của công chúng, chúng ta có thể biết rõ tình cảm cũng như ý chí của họ. Họ hài lòng hay không hài lòng, phấn khởi hay vui buồn, tán thành hay không tán thành, muốn làm gì và không làm gì…

- Dư luận xã hội là một hiện tượng tinh thần xã hội tồn tại khách quan đối với ý thức của mỗi cá nhân, có thể “đo đạc” được bằng các phương pháp khoa học. Do có thể “đo đạc” được dư luận xã hội là các thông tin không những rõ ràng dưới góc độ định tính mà còn rõ ràng dưới góc độ định lượng.

Nhờ các thông tin toàn diện như vậy, chúng ta mới có thể đánh giá đúng thực trạng tình hình tâm trạng, tư tưởng của xã hội. Nhờ kết quả của các cuộc điều tra dư luận xã hội, việc đánh giá tình hình tâm trạng, tư tưởng của xã hội sẽ bớt đi tính mơ hồ của các nhận định chung “đa số”, “thiểu số”... Các cứ liệu của các cuộc điều tra dư luận xã hội, là cơ sở khách quan để nhận định đúng, sâu sắc về tình hình tâm trạng, tư tưởng của xã hội.

1.2. Sử dụng các kết quả nắm bắt dư luận xã hội phục vụ quá trình ra quyết định của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước (Chuẩn bị nội dung, thảo luận nội dung, thông qua nội dung các quyết định):

Các kênh thông tin phản hồi (ở đây là các thông tin về nhận thức và thái độ của nhân dân đối với các quyết sách đã ban hành, hoặc chuẩn bị được ban hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước) có vai trò rất lớn đối với quá trình ra quyết định của các cơ quan lãnh đạo.

Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho các quyết định của các cấp ủy Đảng, chính quyền trở thành quan liêu, không đi vào cuộc sống là do các phản hồi chân thực về tình cảm, về suy nghĩ, ý chí, nguyện vọng của nhân dân không được tôn trọng và tham khảo.

1.3. Sử dụng các kết quả nắm bắt dư luận xã hội phục vụ quá trình tổ chức thực hiện các quyết định đã ban hành:

Quá trình triển khai thực hiện, các quyết định đã ban hành có thể gặp phải những khó khăn, vướng mắc thể hiện qua những băn khoăn, thắc mắc của đối tượng thực thi. Nếu các cơ quan lãnh đạo, quản lý không nắm được các băn khoăn, thắc mắc này, hoặc nắm một cách méo mó, hời hợt do phương pháp nắm bắt thông tin thiếu khoa học thì sẽ không kịp thời đưa ra những biện pháp bổ sung, sửa đổi và do đó rút cuộc quyết định có thể không được thực hiện, hoặc thực hiện một cách hình thức, ít hiệu quả.

Do đó, các cấp ủy đảng và chính quyền cũng cần phải tăng cường sử dụng các phương pháp nắm bắt dư luận xã hội khoa học, khách quan để nắm được thực trạng, tư tưởng, các băn khoăn, thắc mắc của nhân dân, có hiệu quả nhằm khắc phục những vướng mắc, thúc đẩy quá trình thực hiện quyết định.

2. Sử dụng các kết quả điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội để nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền.

2.1. Sử dụng các kết quả nắm bắt dư luận xã hội để đánh giá kết quả của công tác tuyên truyền:

Một trong những nguyên nhân làm giảm sút hiệu quả của các tác động thông tin, tuyên truyền là sự coi thường, hoặc không có những biện pháp thích hợp để bảo đảm khâu thông tin phản hồi.

2.2. Sử dụng các kết quả nắm bắt dư luận xã hội để tăng cường nguyên tắc đối thoại trong hoạt động thông tin, tuyên truyền:

Trong quá trình thông tin, tuyên truyền, ở khách thể có thể xuất hiện những băn khoăn, thắc mắc hoặc những nghi vấn cản trở việc tiếp thu thông tin của họ. Nếu chủ thể thông tin, tuyên truyền kịp thời phát hiện và giải đáp những băn khoăn, thắc mắc này, hoạt động thông tin sẽ mang tính đối thoại, một trong những nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả của tác động thông tin.

2.3. Sử dụng các kết quả nghiên cứu lý luận về cơ chế hình thành dư luận xã hội để định hướng dư luận xã hội:

Thành công của công tác tư tưởng thể hiện ở khả năng nắm bắt, định hướng, làm chủ dư luận xã hội kịp thời. Muốn nắm bắt, định hướng và làm chủ dư luận xã hội kịp thời phải nắm được cơ chế hình thành và biến đổi của nó. Đó là: Nắm bắt và dự báo kịp thời những vấn đề, sự kiện, hiện tượng đã, đang và sẽ xảy ra; nắm được cơ sở nhận thức và cơ sở xã hội trước mỗi vấn đề, sự kiện, hiện tượng có liên quan đến từng nhóm, giai tầng xã hội.

3. Sử dụng các kết quả điều tra, nắm bắt dư luận xã hội để tập hợp trí tuệ, phát huy sáng kiến của các tầng lớp nhân dân.

Trước các vấn đề nan giải, dư luận xã hội có thể nêu ra các khuyến nghị sáng suốt. Các khuyến nghị này có thể thu thập qua mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội nhằm thu thập ý kiến của các tầng lớp nhân dân về cách giải quyết đối với các vấn đề nan giải của đất nước, có thể tìm ra các phương pháp xử lý tốt nhất.

4. Sử dụng dư luận xã hội để gây sức ép chống các biểu hiện tiêu cực trong hệ thống chính trị, như tham nhũng, quan liêu,…

Các phần tử thoái hóa biến chất trong hệ thống chính trị luôn sẵn sàng chà đạp lên các giá trị đạo đức và pháp luật, nhưng lại rất ngại báo chí và dư luận xã hội. Chúng luôn tìm cách bưng bít thông tin, tránh né sự dòm ngó của báo chí và dư luận xã hội. Sự mở rộng dân chủ, công khai hóa các thông tin về các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, suy thoái đạo đức, lối sống trong hệ thống chính trị sẽ thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận xã hội, lôi kéo dư luận xã hội vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu.... có hiệu quả.

5. Sử dụng dư luận xã hội để giáo dục luân thường, đạo lý trong xã hội.

Thuần phong, mỹ tục, các giá trị đạo đức, luân lý truyền thống của dân tộc được giữ vững qua hàng ngàn năm, một phần, là nhờ sự bảo vệ của dư luận xã hội. Dư luận xã hội đặt biệt nhạy cảm với các hiện tượng vi phạm thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội. Trước các biểu hiện vi phạm thuần phong, mỹ tục, đạo đức, luân lý… thái độ của dư luận xã hội bao giờ cũng lên án gay gắt.

Do dư luận xã hội gắn liền với ý chí của cộng đồng, các nhóm xã hội, nên dư luận xã hội có sức ép lớn đến tư tưởng và hành vi của mỗi cá nhân. Khuyến khích báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng đề cao, ca ngợi các tấm gương đạo đức và lối sống đẹp; phê phán, lên án các biểu hiện vi phạm thuần phong, mỹ tục, các chuẩn mực đạo đức, luân lý trong xã hội sẽ khơi dậy vai trò tích cực của dư luận xã hội trong lĩnh vực này.

6. Sử dụng các kết quả nghiên cứu dư luận xã hội để phòng ngừa sự xuất hiện và giải quyết các điểm nóng.

Một trong những nguyên nhân làm xuất hiện các điểm nóng, các cuộc “phản ánh tập thể”, khiếu kiện tập thể… của nhân dân là do các cấp lãnh đạo không lắng nghe dư luận xã hội, không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, hoặc do bị cấp dưới vì những lợi ích các nhân, cục bộ, cố tình bưng bít thông tin, phản ánh sai lệch những vấn đề tâm trạng, tư tưởng của các tầng lớp nhân dân.

Thiết chế nghiên cứu dư luận xã hội, nhờ có những quy chế và phương pháp đảm bảo tính khách quan, khoa học của thông tin nên có thể khắc phục những căn bệnh nói trên.

 

V. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DƯ LUẬN XÃ HỘI.

1. Phương pháp nắm bắt dư luận xã hội qua hệ thống mạng lưới cộng tác viên.

Trước hết, chúng ta phải hình thành mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội theo nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Cơ cấu mạng lưới cộng tác viên phải có tính đại diện cho các tầng lớp xã hội về lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính...

Sau khi thành lập xong mạng lưới cộng tác viên, cần ban hành quy chế cộng tác viên. Quy chế cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ hoạt động của cộng tác viên... Đồng thời, trong quá trình hoạt động, hàng tháng, quý cần tổ chức giao ban dư luận xã hội định kỳ để trao đổi thông tin.

Các phương pháp nắm bắt dư luận xã hội thông thường của cộng tác viên: Quan sát và phỏng vấn.

1.1. Quan sát:

Là hình thức theo dõi các biểu hiện của đối tượng: Họ nói về những vấn đề gì, họ nói như thế nào, thái độ của họ ra sao, mức độ cảm xúc gắn liền với các phát ngôn của họ mạnh hay yếu.

Khi quan sát, cộng tác viên phải chú ý ghi chép một cách có hệ thống nội dung, khuynh hướng (tán thành, không tán thành), cường độ (rất tán thành, tán thành có mức độ) của từng ý kiến và những đặc điểm dân số, xã hội của chủ thể (lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính). Trên cơ sở tổng số lần quan sát (càng nhiều càng tốt), cộng tác viên có thể biết được ý kiến nào phổ biến, đa số tán thành ý kiến nào và thiểu số tán thành ý kiến nào; đặc điểm dân số, xã hội hoặc đặc điểm nhận thức của chủ thể dư luận là gì. Những vấn đề này, cộng tác viên cần nắm rõ để phản ảnh, báo cáo lại cho đầu mối.

1.2. Phỏng vấn:

 Là phương pháp tiếp cận đối tượng để đặt ra những câu hỏi cho đối tượng trả lời.

Khi tiến hành phỏng vấn theo chương trình, kế hoạch, cộng tác viên có thể sử dụng thêm các phương pháp hỗ trợ khác như: Phương pháp phản chiếu, phương pháp liên tưởng.

2. Phương pháp phân tích nội dung.

Phương pháp này thường được sử dụng thu thập sự kiện, vấn đề từ báo chí, đơn, thư, khiếu tố…

3. Phương pháp thăm dò dư luận xã hội theo phiếu hoặc phỏng vấn.

Đây là phương pháp chủ yếu mà các trung tâm, viện nghiên cứu dư luận xã hội trên thế giới thường dùng. Các công việc chính của một cuộc thăm dò dư luận xã hội theo phiếu là:

3.1. Xác định chủ đề, mục đích nghiên cứu.

3.2. Xây dựng phiếu câu hỏi.

3.3. Chọn mẫu thăm dò.

3.4. Triển khai cuộc điều tra trên thực địa.

3.5. Xử lý các cứ liệu thu được.

3.6. Viết báo cáo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 10:

PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

MỞ ĐẦU

Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ và các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc nhằm xóa bỏ hòan tòan chế độ xã hội chủ nghĩa, thiết lập, củng cố vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới.

Sau sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch càng ráo riết chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và các nước tiến bộ, chúng coi Việt Nam là một trọng điểm.

Đảng ta khẳng định: “Diễn biến hòa bình”, “Bạo loạn lật đổ” là một trong bốn nguy cơ và chống “Diễn biến hòa bình”, “Bạo loạn lật đổ” là nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu trong nhiệm vụ quốc phòng - an ninh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Nghiên cứu chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “Bạo loạn lật đổ” của địch và phòng chống “Diễn biến hòa bình”, “Bạo loạn lật đổ” là hết sức cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên ở mọi cấp mọi ngành trong tình hình hiện nay.

 

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1. Khái quát về chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

1.1. Khái niệm:

 “Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự  do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đứng đầu là Mỹ tiến hành. 

*Từ khái niệm trên chỉ rõ:

+ Mục tiêu: Xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, chuyển hóa chủ nghĩa xã hội thành chủ nghĩa tư bản.

+ Phương thức tiến hành: “thẩm thấu dần dần” là một kiểu “chiến tranh không có khói súng”, với nhịp điệu phát triển và kết cục của cuộc chiến tranh là từ từ, không vội vã, ít khốc liệt so với chiến tranh bằng vũ lực, nhưng tác hại của nó lại rất lớn.

+ Đối tượng: Tiến công vào mọi cấp, mọi ngành, mọi người, mọi lĩnh vực ...

+ Tính chất: Là một chiến lược cực kỳ nguy hiểm, diễn ra với tính chất gay go, phức tạp và lâu dài.

1.2. Khái quát sự hình thành, phát triển:

- Thời kỳ 1947 - 1988: Hệ thống xã hội chủ nghĩa còn đang vững mạnh, Mỹ thực hiện chiến lược “ngăn chặn”.

- Thời kỳ 1989 - 1993: Hệ thống xã hội chủ nghĩa rạn nứt, suy yếu và sụp đổ, chiến lược “vượt trên ngăn chặn” ra đời.

- Từ năm 1993 - đến nay: Mỹ tiến hành chiến lược “dính lứu, khuếch trương” là bước phát triển của chiến lược “Diễn biến hoà bình” ở thời kỳ sau khi Liên Xô tan rã và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, hình thành trật tự thế giới mới do Mỹ cầm đầu.  

1.3. Đặc trưng của chiến lược “Diễn biến hòa bình”:

- Sử dụng các biện pháp phi vũ trang để chống phá.

- Thông qua các “công cụ mềm”, tuy nhiên vẫn coi trọng sức mạnh quân sự để răn đe, làm áp lực hậu thuẫn cho các thủ đoạn trên.

- Sự tác động của bên ngoài tạo sự chuyển biến, diễn biến từ bên trong.

- Dùng vật chất để mua chuộc, quyến rũ.

- Mang tính toàn cầu, không giới hạn về không gian, thời gian, chống phá toàn diện.

2. Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam.

*  Vì sao Mỹ và các thế lực thù địch dùng chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Vì :

+ Bằng quân sự, tốn kém nhưng Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chiến tranh ở Việt Nam một cuộc chiến hao người tốn của : Mỹ chết 58.191 tên ; bị thương 303.704 tên ; chi phí 1.647 tỷ đô la (trực tiếp đưa vào miền Nam 274 tỷ đô la)

+ Việt Nam là ngọn cờ đầu trong đấu tranh giành độc lập dân tộc – chủ nghĩa xã hội, và kiên quyết nhất trong đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.

+ Có xóa bỏ được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mới xóa bỏ được “hội chứng chiến tranh Việt Nam” trên đất Mỹ.

+ Có xóa bỏ được xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì Mỹ sẽ có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới.

* Nội dung cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của Mỹ ở Việt Nam:

   Chúng chống phá ta một cách toàn diện, luôn coi Việt Nam là một trọng điểm chống phá.

Ngày 03/2/1994, Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Ngày 11/7/1995, Mỹ tuyên bố bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ. Ngay đêm 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bil Clintơn (B.Clin-tơn) tuyên bố: “Việc bình thường hoá quan hệ của chúng ta với Việt Nam không phải là kết thúc nỗ lực của chúng ta. Chúng ta sẽ tiếp tục phấn đấu cho đến khi chúng ta có được những câu trả lời mà chúng ta có thể có”.

“Chúng ta bắt đầu thảo luận vấn đề nhân quyền với Việt Nam, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến tự do tín ngưỡng”.

“Tôi tin tưởng rằng việc bình thường hoá và tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do ở Việt Nam như đã từng diễn ra ở Đông âu và Liên Xô trước đây”.

Những lời tuyên bố trên của Tổng thống Mỹ càng chứng minh, mục tiêu xuyên suốt của Mỹ đối Việt Nam là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội Việt Nam càng nhanh càng tốt.

Hiện nay chúng tập trung vào 6 lĩnh vực chủ yếu sau:

- Trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, văn hóa .

- Về tổ chức nhân sự

- Trên lĩnh vực kinh tế

- Trên lĩnh vực ngoại giao

- Trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc

- Trên lĩnh vực Quân sự:

2.1. Mục tiêu và phương châm chiến lược:

a. Mục tiêu

- Xoá bỏ vai trò của Đảng Cộng sản, tiến tới xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, phục vụ cho quyền lợi của Mỹ ở khu vực.

b. Phương châm

“Mềm - ngầm - sâu”, chống phá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

c. Biện pháp

 Sử dụng tổng hợp các thủ đoạn, tiến công toàn diện: Lấy chống phá về chính trị tư tưởng làm khâu đột phá; chống phá về kinh tế làm mũi nhọn; lấy vấn đề dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ; dùng ngoại giao hỗ trợ, hậu thuẫn; lấy quân sự để răn đe và sẵn sàng can thiệp khi có điều kiện, thời cơ.

d. Đặc trưng

Đặc trưng chủ yếu của “Diễn biến hoà bình” ở việt Nam là:

+ “Diễn biến hoà bình” luôn kết kợp chặt chẽ với bạo loạn lật đổ và ly khai.

+ Coi trọng thúc đẩy tự diễn biến từ bên trên, bên trong để làm chệch hướng và dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.

+ Triệt để lợi dung các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để kích động bạo loạn lật đổ, ly khai.

2.2. âm mưu thủ đoạn chủ yếu:

- Tuyên truyền xuyên tạc nhằm loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, loại bỏ vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam,  hình thành đa đảng.

- Lợi dụng quan hệ kinh tế để xâm nhập, gây sức ép, từng bước chuyển hoá Việt Nam theo quỹ đạo của Mỹ.

- Lợi dụng chính sách cởi mở, đổi mới của ta, núp dưới danh nghĩa “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” để chống phá.

- Xây dựng và phát triển lực lượng chống đối từ bên trong. Lợi dụng những khó khăn, yếu kém, sai lầm của ta; với sự hỗ trợ, can thiệp từ bên ngoài, tiến hành bạo loạn lật đổ, ly khai trên một vùng, hoặc một số vùng của đất nước.

 

II. CHỐNG ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1. Mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm

1.1. Mục tiêu:

Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm môi trường hoà bình ổn định lâu dài cho sự nghiệp xây dựng đất nước; phải lấy việc giữ vững ổn định chính trị làm nền tảng để đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, để củng cố quốc phòng, an ninh.

1.2. Nhiệm vụ:

Chủ động tiến công địch trên mọi lĩnh vực, không để xảy ra mất ổn định chính trị xã hội, bạo loạn lật đổ và các tình huống phức tạp khác, ngăn chặn  làm thất bại các âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” của đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc đảng, chính quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa. 

1.3. Quan điểm:

1. Kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

2. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành đấu tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

3. Chống “Diễn biến hòa bình”, “Bạo loạn lật đổ” phải nhằm kết hợp ngăn chặn và đối phó thắng lợi các tình huống chiến lược về quốc phòng, an ninh có thể xảy ra.

4. Nắm vững pháp luật, chủ động, kiên quyết trấn áp các phần tử phản động để bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ.

1.4. Phương châm:

- Giữ vững ổn định bên trong, chủ động phòng ngừa, kết hợp giữa xây và chống.

- Phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp các biện pháp, các mặt đấu tranh; xử lý kiên quyết, nhanh chóng, không để lan rộng kéo dài.

2. Nội dung giải pháp.

2.1. Về chính trị:

+ Chăm lo xây dựng và củng cố hệ thống chính trị.

+ Tăng cường củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ đảng.

+ Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình, củng cố tăng cường đoàn kết thống nhất trong đảng, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

+ Xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; làm cho nhà nước ta đúng là công cụ để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

+ Tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa đảng và dân; phải coi trọng xây dựng thế trận lòng dân, chú trọng vùng trọng điểm, vùng sâu, vùng xa.

+ Kiên quyết đấu tranh với những luận điệu vu cáo, bôi nhọ đảng, phủ nhận những thắng lợi lịch sử và những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới.

- Chăm lo giải quyết có hiệu quả những bức xúc, khó khăn về đời sống, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Triệt tiêu những mâu thuẫn nội bộ, khắc phục yếu kém không để địch lợi dụng, kiếm cớ kích động quần chúng nhân dân.

- Xây dựng Đảng, Nhà nước thực sự trong sạch vững mạnh, tôn trọng quyền dân chủ, lợi ích của nhân dân. Xử lý nghiêm minh cán bộ công chức sai phạm, xây dựng niềm tin trong nhân dân. Thực hiện tốt dân chủ cơ sở.

- Không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.

- Triệt phá các tổ chức phản động, tình báo, gián điệp, lực lượng vũ trang trá hình; không cho địch xây dựng ngọn cờ và hình thành các tổ chức chính trị đối lập.

- Khi phát hiện có dấu hiệu móc nối, chuẩn bị bạo loạn phải tăng cường quản lý giám sát các phần tử chủ mưu, chủ động có biện pháp vô hiệu hoá làm thất bại âm mưu của chúng.

- Làm tốt công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; vận động nhân dân hăng hái tham gia xây dựng củng cố quốc phòng - an ninh ở địa phương.

2.2. Về kinh tế:

+ Quán triệt, thực hiện và bảo vệ vững chắc đường lối đổi mới kinh tế của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực.

+ Nâng cao cảnh giác, không mơ hồ trước các âm mưu đen tối của các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế, thương mại để chuyển hóa ta về chính trị.

+ Thực hiện phương châm chủ động hợp tác, đấu tranh kiên quyết, mềm dẻo trong quan hệ kinh tế; hạn chế tiêu cực của nền kinh tế thị trường ; thực hành tiết kiệm, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

+ Kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, thu hẹp giàu nghèo, giải quyết việc làm, đấu tranh chống các tội phạm kinh tế.

+ Nâng cao ý thức, năng lực cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, nâng cao năng lực cạnh tranh và hoàn thiện pháp chế về kinh tế.

2.3. Về tư tưởng văn hóa:

Đây là mặt trận nóng bỏng, xung yếu hiện nay. Vì vậy, phải tích cực, chủ động tiến công địch để giữ vững ổn định chính trị, làm thất bại các thủ đoạn của địch trên lĩnh vực này. Trong giai đoạn hiện nay cần phải :

+ Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng; bảo vệ củng cố vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông.

+ Xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

+ Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý và kiểm soát chặt chẽ công tác tuyên truyền, xuất bản và có định hướng thống nhất trong chỉ đạo nghiên cứu lý luận; nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng - văn hoá trong tình hình mới.

2.4. Về dân tộc, tôn giáo:

+ Có đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo đúng đắn, rộng mở, làm cơ sở củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân theo đúng pháp luật và truyền thống văn hoá Việt Nam.

+ Quan tâm phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng rừng núi, biên giới; cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc ít người, đồng bào các tôn giáo.

+ Xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành và có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo; ngăn ngừa, đấu tranh với các âm mưu phá hoại của địch.

+ Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc đưới sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; làm tốt công tác vận động quần chúng, thực hiện tốt các chế độ, chính sách dân tộc, tôn giáo; tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.

2.5. Về quốc phòng - an ninh:

+ Tăng cường củng cố nền quốc phòng, giữ vững an ninh quốc phòng và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.

+ Tiếp tục xây dựng, củng cố, hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân ở từng địa phương và trên cả nước vững mạnh toàn diện, chắc trọng điểm.

+ Tiếp tục xây dựng, phát triển các khu vực kinh tế kết hợp với quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Từng bước hoàn thiện kế hoạch A và A2.

+ Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân theo hướng: Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

+ Chống âm mưu “phi chính trị” vô hiệu hóa lực lượng vũ trang trước hết là quân đội và công an.

6. Về ngoại giao.

- Đổi mới tư duy đối ngoại, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vựcThực hiện nhất quán chính sách đối ngoại của Đảng, theo nguyên tắc “vừa hợp tác vừa đấu tranh”. Tất cả phục vụ vì lợi ích quốc gia dân tộc.

- Xác định đúng đối tượng, đối tác trên các lĩnh vực. Chủ động tiến công trên hoạt động đối ngoại, vạch trần và làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới mọi hình thức.

+ Vận động việt kiều tham gia phát thiện, đấu tranh với những âm mưu và hành động chống phá của bọn phản động trong người việt lưu vong.

+ Phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại với an ninh - quốc phòng, không cho địch lợi dụng lãnh thổ các nước láng giềng để xâm nhập, hổ trợ, chỉ đạo chống phá Việt Nam.

+ Làm tốt công tác đối ngoại nhân dân, nhất là các tỉnh biên giới, hải đảo, thành phố, thị xã và những khu công nghiệp tập trung các nước đầu tư cho nước ta.

 

 KẾT LUẬN

Âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch không thay đổi, thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn. Để ngăn chặn, đẩy lùi, đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không ngừng nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, quyết tâm xây dựng quê hương, đất nước ngày càng đẹp giàu, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng, văn minh”. Hôm nay và mãi mãi sau này, các thế hệ con cháu quyết tâm giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc đã thấm đẫm mồ hôi, nước mắt, máu xương của các thế hệ cha anh, trong đó, có cả người thân yêu, ruột thịt của chúng ta.

 

 

 

 

 

 



[1] C.Mac,F.Ăngghen:Toàn tập,Nxb CTQG,HN-1995,Tập 3,Tr18.

[2] SĐD T21,Tr 373-374

[3] Chỉ thị 51-CT/TW, ngày 29-10-2012 về Đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

[4]  Trên các mặt giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học

[5] Đại hội XI đặt mục tiêu tỉ lệ lao động qua đào tạo là 55%.

[6] Giai đoạn 1 (2011-2015): thực hiện đổi mới quản lý giáo dục; hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân; xây dựng khung trình độ quốc gia; triển khai xây dựng một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học chất lượng cao và trường đại học theo định hướng nghiên cứu; đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp; đào tạo bồi dưỡng và thực hiện các chính sách tạo động lực phát triển đội ngũ nhà giáo và đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Tập trung chuẩn bị các điều kiện để thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông sau năm 2015; Triển khai các bước xây dựng xã hội học tập. Đánh giá, điều chỉnh các mục tiêu và giải pháp chiến lược vào cuối năm 2015; tổ chức sơ kết thực hiện Chiến lược giai đoạn 1 vào đầu năm 2016.

Giai đoạn 2 (2016-2020): Triển khai thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; tiếp tục thực hiện đổi mới giáo dục nghề nghiệp, đại học và một số nhiệm vụ của giai đoạn 1 với các điều chỉnh bổ sung; tập trung củng cố và nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 vào cuối năm 2020 và tổng kết vào đầu năm 2021.

[7]Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 01-11-2012 về phát triển khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

 

[8] Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ. Nhà nước có trách nhiệm đầu tư, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm lực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển khai; coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của đổi mới ứng dụng và chuyển giao công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất của thị trường khoa học và công nghệ. Quan tâm đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

[9] Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng và chính quyền về vai trò của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xác định việc phát huy và phát triển khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ trọng tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền; là một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng của người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền từ  Trung ương đến địa phương. Gắn các mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng cấp; kế hoạch ứng dụng và phát triển khoa học và công nghệ là một nội dung của quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành và địa phương.

[10] Trong đó, tập trung đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, phương thức đầu tư và cơ chế tài chính;  đổi mới hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ, đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ; đổi mới quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, cơ chế, chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ; kiện toàn, nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ; thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, tư vấn, phản biện của các nhà khoa học. Tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong các hoạt động tư vấn, phản biện xã hội, vai trò xung kích của đoàn thanh niên, các tổ chức và cá nhân trong phong trào thi đua sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Đánh giá việc thực hiện Đề án nguồn nhân lực tỉnh giai đoạn 2006-2010, có tính đến năm 2015; bổ sung, điều chỉnh những nội dung liên quan đến đội ngũ làm công tác khoa học cho phù hợp với tình hình thực tế. Rà soát, kiện toàn Liên hiệp các Hội khoa học - kỹ thuật tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội, đảm bảo thực hiện tốt chức năng thẩm định, phản biện các chủ trương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

[11] Bao gồm: Tăng cường nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh và mục đích công cộng; Ưu tiên phát triển một số công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ liên ngành; Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ trong các ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương.

[12] Nghị quyết 46-NQ/TW, ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về  công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

[13] Sốt rét, lao, phong, bướu cổ, hoa liễu, HIV/AIDS, ung thư, tâm thần, cao huyết áp và bệnh nghề nghiệp.

[14] Người có công với nước, người nghèo, dân tộc thiểu số, bà mẹ và trẻ em.

[15] Ưu tiên ngân sách cho y tế dự phòng, đầu tư cải tạo, nâng cấp các cơ sở y tế, đặc biệt là các vùng khó khăn; tiếp tục chuyển đầu tư trực tiếp cho các cơ sở dịch vụ công sang đầu tư trực tiếp cho người hưởng dịch vụ bằng cách mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người có công với cách mạng, người tàn tật và rủi ro về sức khỏe, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo; đẩy nhanh tiến độ thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, nâng cao chất lượng và hiệu quả khám chữa bệnh cho các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế; đổi mới chính sách viện phí trên cơ sở tính đúng, tính đủ chi phí phục vụ người bệnh. Ban hành các chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác y tế và đổi mới cơ chế tiền lương cho cán bộ y tế.

 

Số lượt xem:36529
Bài viết trước:
Icon  Hướng dẫn tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo tinh thần Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị
Icon  Hướng dẫn tuyên truyền đối ngoại về việc Việt Nam là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016
Icon  Hướng dẫn tuyên truyền công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo tinh thần Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị
Icon  Kế hoạch bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên các cấp trong tỉnh giai đoạn (2013-2015)
Icon  Nghị quyết quy định một số điểm thi hành Hiến pháp
Icon  Quy chế Giải thưởng sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật và báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" giai đoạn 2011-2015
Icon  Hướng dẫn thực hiện các tiêu chí "Rèn luyện tư cách người cán bộ Mặt trận"
Icon  Hướng dẫn tổng kết, đánh giá năm 2013; sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị ( khóa XI) và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014.
Icon  Hướng dẫn tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo tinh thần Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị
Icon  Hướng dẫn tuyên truyền công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em về thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị
    LIÊN KẾT
Trang chủ   |   Liên hệ   
Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum; Điện thoại: 060.3862301; Email: phiemkt@gmail.com.
Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

Treo chân mày bằng chỉkhông phẫu thuật


Bệnh viện thẩm mỹJW hàn quốc


Bệnh viện thẩm mỹ uy tínnhất tphcm


Cắt mí mắt hàn quốc đẹp


Nâng mũi