Thứ 5, ngày 29 tháng 6 năm 2017  TimKiem
  TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI BỘ
Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 09-2016
8/28/2016 4:50:58 PM

A. VĂN BẢN MỚI

I. VĂN BẢN CỦA TỈNH

1. Ngày 8/8/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND Quy chế tổ chức lễ tang đối với cán bộ, công chức, viên chức và Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi từ trần trên địa bàn tỉnh.

Quy chế gồm 06 Chương với 22 Điều, quy định đối với việc tổ chức lễ tang cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh đang làm việc hoặc nghỉ hưu, Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi từ trần.

Theo quy định, có 3 hình thức lễ tang, gồm: Lễ tang cấp cao; Lễ tang cán bộ, công chức, viên chức và Lễ tang đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Quyết định quy định cụ thể chức danh được tổ chức theo các hình thức tang lễ; đưa tin buồn, Ban tổ chức tang lễ, tổ chức lễ tang, phúng viếng...

Đối với cán bộ lãnh đạo nghỉ hưu hoặc chuyển công tác ở ngoài tỉnh, tùy từng điều kiện cụ thể, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh phối hợp với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương nơi cán bộ cư trú để tổ chức tang lễ hoặc đến viếng (đối với khoản 1 Điều 17); đối với người từ trần (thuộc khoản 3 Điều 9), giao cơ quan nơi người từ trần làm việc trước khi nghỉ hưu viếng.

Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết định số 41/2009/QĐ-UB ngày 27/7/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế tổ chức lễ tang đối với cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh Kon Tum khi từ trần.

2. Ngày 11/8/2016, UBND tỉnh ban hành Công văn số 1860/UBND-KGVX yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương tăng cường quản lý nhà nước về công tác đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, UBND tỉnh giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, quyền sở hữu công nghiệp, ghi nhãn hàng hóa; ngăn chặn việc lưu thông hàng hóa giả, hàng hóa kém chất lượng, hàng hóa đã hết hạn sử dụng, hàng hóa không đảm bảo đo lường, hàng hóa độc hại gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và môi trường.

Ngoài ra, đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ khoa học và công nghệ cho doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, như: hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ; đăng ký nhãn hiệu; đăng ký kiểu dáng công nghiệp; đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; tham gia Giải thưởng chất lượng quốc gia và các hình thức tôn vinh khác trong lĩnh vực chất lượng; hướng dẫn  các doanh nghiệp đề xuất dự án tham gia Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020;…

Các sở quản lý chuyên ngành của tỉnh tăng cường tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa bằng nhiều hình thức; chủ động xây dựng, hướng dẫn các cơ sở, doanh nghiệp thực hiện việc chứng nhận và công bố hợp quy sản phẩm, hàng hóa thuộc lĩnh vực được phân công theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật thuộc lĩnh vực được phân công.

Đồng thời chủ động phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, các ngành liên quan và UBND các huyện, thành phố tăng cường quản lý, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, xử lý vi phạm theo quy định.

UBND các huyện, thành phố tăng cường chỉ đạo công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn; kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn việc lưu thông hàng hóa kém chất lượng, hàng hóa đã hết hạn sử dụng, hàng giả, hàng hóa độc hại gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và môi trường, đặc biệt vào các dịp lễ, tết.....

Các cơ quan báo chí của tỉnh phối hợp các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; đưa tin, bài phản ánh các trường hợp vi phạm pháp luật, về những nguy hại của sản phẩm hàng hoá, sản phẩm không đảm bảo yêu cầu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đến người tiêu dùng cũng như các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh để nắm bắt, thực hiện.

UBND tỉnh đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị-xã hội phối hợp chặt chẽ với UBND các cấp, các ngành tăng cường vận động đoàn viên, hội viên nâng cao ý thức sử dụng sản phẩm, hàng hóa; đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và “nói không” với sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng, hàng giả, hàng hóa không đủ định lượng; giám sát, phát hiện và thông tin kịp thời đến các cơ quan chức năng những hiện tượng vi phạm về tiêu chuẩn đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên thị trường.

3. Ngày 15/8/2016, UBND tỉnh ban hành văn bản số 1901/KH-UBND về Kế hoạch hành động giai đoạn 2016 - 2020 tỉnh Kon Tum thực hiện Chiến lược quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030.

Theo Kế hoạch, mục tiêu tổng quát đến năm 2020 là: Bữa ăn của người dân được cải thiện về số lượng, cân đối hơn về chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh; suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt thể thấp còi được giảm mạnh, góp phần nâng cao tầm vóc và thể lực của người Việt Nam, kiểm soát có hiệu quả tình trạng thừa cân, béo phì góp phần hạn chế các bệnh mãn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng.

Giải pháp đề ra thực hiện kế hoạch, đạt mục tiêu đề ra là tiếp tục lồng ghép công tác dinh dưỡng vào các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công tác dinh dưỡng. Củng cố tổ chức bộ máy và mạng lưới làm công tác dinh dưỡng ở cấp tỉnh, huyện, xã. Ổn định nhân lực hoạt động dinh dưỡng tại cơ sở, đặc biệt là tuyến huyện, tuyến xã và nâng cao trình độ hiệu quả hoạt động của đội ngũ nhân viên y tế thôn, làng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công tác dinh dưỡng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và nâng cao chất lượng xây dựng, lập kế hoạch và triển khai thực hiện các hoạt động về dinh dưỡng. Đẩy mạnh công tác truyền thông vận động, nâng cao kiến thức về tầm quan trọng của công tác dinh dưỡng đối với sự phát triển toàn diện về tầm vóc, thể chất và trí tuệ của trẻ em. Mở rộng các dịch vụ tư vấn về dinh dưỡng cho mọi lứa tuổi đặc biệt là dịch vụ tư vấn về dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em. Thực hiện xã hội hoá công tác dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em. Tăng cường công tác đào tạo, đạo tạo lại, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ thích hợp nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực thực hiện công tác dinh dưỡng...

4. Ngày 15/8/2016, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1092/KH-UBND thực hiện Chương trình giáo dục đời sống gia đình đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh.

Theo kế hoạch, phấnđấu đến năm 2020 đạt các mục tiêu: 80% hộ gia đình trở lên được tiếp cận thông tin về giáo dục đời sống gia đình; 80% học sinh, sinh viên các cơ sở giáo dục tham dự các buổi sinh hoạt chuyên đề về giáo dục đời sống gia đình; trên 50% thanh niên khu vực nông thôn, miền núi và vùng sâu, vùng xa được tham gia các sinh hoạt chuyên đề về giáo dục đời sống gia đình; 80% cán bộ, công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất được tham gia các sinh hoạt chuyên đề về giáo dục đời sống gia đình; 100% cán bộ, chiến sỹ độ tuổi thanh niên trong các lực lượng vũ trang được tham gia các sinh hoạt chuyên đề về giáo dục đời sống gia đình; 60% đơn vị, tổ chức cấp cơ sở của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Công đoàn có tổ chức sinh hoạt chuyên đề về giáo dục đời sống gia đình cho đoàn viên, hội viên và người lao động.

Để đạt được mục tiêu trên, các giải pháp được đề ra là: Xây dựng, ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai; các văn bản quy định, các tài liệu hướng dẫn về nội dung giáo dục đời sống gia đình. Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực về giáo dục đời sống gia đình cho đội ngũ báo cáo viên cấp tỉnh, huyện và xã. Tổ chức các hoạt động thông tin, truyền thông, nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình và giáo dục đời sống gia đình trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Tổ chức các hoạt động sinh hoạt theo chuyên đề nội dung giáo dục đời sống gia đình tại các cơ sở giáo dục và đào tạo, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, các đoàn thể ở địa phương, các câu lạc bộ gia đình, khu/cụm công nghiệp. Thí điểm việc cung cấp nội dung giáo dục đời sống gia đình bằng các hình thức chuyển tải phù hợp với khả năng nghe nhìn, tiếp cận thông tin của từng khu vực, từng dân tộc với ngôn ngữ và hình thức giáo dục phù hợp. Nhân rộng kinh nghiệm, biện pháp có hiệu quả sau năm 2020.

5. Ngày 15/8/2016, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1903/KH-UBND về thực hiện Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh Lở mồm long móng tỉnh Kon Tum giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh.

Tổng kinh phí thực hiện chương trình là trên 24 tỷ đồng (từ nguồn kinh phí Trung ương hỗ trợ và ngân sách địa phương).

Mỗi năm tổ chức tiêm phòng cho trâu, bò 2 đợt, mỗi đợt cách nhau 6 tháng (đợt 1, từ tháng 2 đến tháng 5; đợt 2, từ tháng 8 đến tháng 11); căn cứ điều kiện chăn nuôi, khí hậu, thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, các huyện, thành phố xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm phòng cho phù hợp, bảo đảm hiệu quả tiêm phòng. Căn cứ lưu hành vi rút lở mồm long móng (LMLM) tại các địa phương và hướng dẫn của Cục Thú y, hằng năm Sở Nông nghiệp và PTNT lựa chọn chủng loại vắc xin sẽ dùng tiêm phòng trong Chương trình tại địa phương.

Về giám sát dịch, bệnh bị động, nhằm phát hiện kịp thời các ca bệnh để khoanh vùng, dập dịch, giảm thiệt hại về kinh tế do dịch bệnh gây ra cũng như hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Tổ chức lấy 06 mẫu từ gia súc nghi mắc bệnh gửi xét nghiệm chẩn đoán xác định bệnh và serotype vi rút để làm cơ sở cho việc sử dụng vắc xin tiêm phòng và triển khai các biện pháp phòng chống phù hợp với chủng vi rút gây bệnh.

Về giám sát chủ động, căn cứ hướng dẫn của Cục Thú y để xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch lấy mẫu giám sát chủ động nhằm phát hiện mầm bệnh trên động vật (vật khỏe mang trùng), trên cơ sở đó có biện pháp phòng ngừa chủ động; số lượng mẫu giám sát chủ động 120 mẫu/năm.

Về giám sát huyết thanh sau tiêm phòng nhằm đánh giá kết quả tiêm phòng và khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn gia súc sau khi được tiêm vắc xin và được thực hiện mỗi năm 01 lần và trên đàn trâu, bò đã được tiêm phòng vắc xin LMLM.

Bên cạnh đó, sẽ tổ chức tập huấn thực hiện Chương trình quốc gia và chuyên môn, nghiệp vụ phòng chống dịch, bệnh LMLM cho khoản 118 học viên/năm cho các đối tượng là thú y cơ sở, cán bộ Trạm và văn phòng Chi cục.

UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu UBND tỉnh phê duyệt và chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình; chỉ đạo Chi cục Thú y tổ chức, triển khai thực hiện và hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình. Yêu cầu UBND các huyện, thành phố xây dựng Kế hoạch và chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống bệnh LMLM giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn.

6. Ngày 15/8/2016, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 882/QĐ-UBND ngày 15/8/2016 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể bố trí dân cư trên địa bàn tỉnh Kon Tum giai đoạn 2015-2020 và định hướng đến năm 2025.

Mục tiêu tổng quát của quy hoạch, đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025, cơ bản sắp xếp, ổn định dân cư cho các hộ thuộc đối tượng của Quy hoạch trên địa bàn toàn tỉnh gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, giảm thiểu tác hại của thiên tai đến cuộc sống người dân, ổn định và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường đoàn kết dân tộc, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường.

Về bố trí, sắp xếp ổn định dân cư, đến năm 2025 thực hiện bố trí sắp xếp lại dân cư cho 12.301 hộ với 42.898 khẩu; trong đó ổn định tại chỗ 2.532 hộ với 9.295 khẩu, xen ghép 3.270 hộ với 12.494 khẩu, di dời đến điểm dân cư tập trung 6.499 hộ với 21.109 khẩu (với tổng số điểm dân cư cần bố trí mới là 56 điểm), cụ thể: (1) Giai đoạn 2016-2020, thực hiện bố trí sắp xếp lại dân cư cho 8.122 hộ với 27.811 khẩu; trong đó, ổn định tại chỗ 1.218 hộ với 4.379 khẩu, xen ghép 2.345 hộ với 8.853 khẩu, di dời đến điểm dân cư tập trung 4.559 hộ với 14.579 khẩu (với tổng số điểm dân cư cần bố trí mới là 36 điểm); (2) Giai đoạn 2021-2025, thực hiện bố trí sắp xếp lại dân cư cho 4.179 hộ với 15.087 khẩu; trong đó ổn định tại chỗ 1.314 hộ với 4.916 khẩu, xen ghép 925 hộ với 3.641 khẩu, di dời đến điểm dân cư tập trung 1.940 hộ với 6.530 khẩu (với tổng số điểm dân cư cần bố trí mới là 20 điểm).

Quy hoạch còn đề ra các Phương án bố trí ổn định dân cư; xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng tái định cư tập trung, xen ghép, ổn định tại chỗ; phát triển sản xuất các vùng Quy hoạch bố trí ổn định dân cư. Cùng với đó là các giải pháp thực hiện, như: về quy hoạch, kế hoạch; giải quyết quỹ đất ở, đất sản xuất; về chính sách; về phát triển sản xuất; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; về tuyên truyền vận động…

Tổng nhu cầu kinh phí dự kiến thực hiện Quy hoạch khoảng 1.663,5 tỷ đồng từ các nguồn vốn ngân sách Trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương; ngân sách địa phương; nguồn vốn lồng ghép của các chương trình, dự án trên địa bàn; nguồn vốn huy động hợp pháp khác; nguồn vốn huy động của dân.

7. Ngày 18/8/2016, UBND tỉnh ban hành Công văn số 1943/UBND-HTKT chỉ đạo về việc quy hoạch Lao trong thuộc Di tích Lịch sử Ngục Kon Tum.

Theo đó, thống nhất không thực hiện quy hoạch Lao trong thuộc di tích lịch sử Ngục Kon Tum.

Giao Sở Xây dựng, UBND thành phố Kon Tum rà soát, kiểm tra, cập nhật nội dung trên vào các Đồ án Quy hoạch liên quan và công bố người dân biết để sửa chữa, cải tạo nhà ở, lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các thủ tục khác có liên quan.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cập nhật nội dung quy hoạch Lao trong nêu trên vào hồ sơ trình xếp hạng di tích lịch sử Ngục Kon Tum là di tích quốc gia cấp đặc biệt, trình cấp có thẩm quyền theo quy định.

8. Ngày 19/8/2016, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 1955/UBND-HTKT chỉ đạo triển khai các giải pháp nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông 6 tháng cuối năm 2016 trên địa bàn tỉnh.

UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh; tăng cường công tác tuyên truyển, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông, nhất là quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ để người dân biết, thực hiện theo đúng quy định.

Công an tỉnh, tăng cường lực lượng, thường xuyên tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh; Cảnh sát giao thông phối hợp với Thanh tra giao thông thường xuyên tuần lưu trên các tuyến giao thông trọng điểm, các khu vực phức tạp để điều tiết giao thông, giải tỏa, cứu nạn kịp thời khi có va chạm hoặc tai nạn giao thông; không cho xuất bến đối với các phương tiện vận tải hành khách không đảm bảo an toàn kỹ thuật, vi phạm thể lệ vận tải và điều kiện của người điều khiển phương tiện; kiên quyết xử lý xe ô tô hết niên hạn sử dụng, xe ô tô, mô tô, xe gắn máy độ chế không đảm bảo điều kiện tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh.

Sở Giao thông vận tải, tăng cường công tác quản lý các doanh nghiệp vận tải trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo Thanh tra giao thông có biện pháp ngăn chặn, xử lý cương quyết trường hợp các phương tiện không đảm bảo điều kiện tham gia giao thông, chở quá số người quy định; tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm hành lang an toàn giao thông; kiểm tra và kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với các bến thuỷ nội địa và phương tiện thủy không đảm bảo an toàn, không có thiết bị cứu sinh cho hành khách; đôn đốc các đơn vị quản lý đường bộ kiểm tra, xử lý kịp thời các điểm đen, đoạn đường có nguy cơ mất an toàn, dễ gây ra tai nạn giao thông; rà soát, bổ sung, sửa chữa hệ thống biển báo, cọc tiêu, vạch kẻ đường, tường hộ lan, phát quang tầm nhìn… nhằm đảm bảo an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo các đơn vị thị công thực hiện nghiêm các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông đối với các công trình đang thi công....

UBND các huyện, thành phố, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Pháp luật về trật tự an toàn giao thông cho nhân dân; chỉ đạo các lực lượng chức năng liên quan tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn mình quản lý; phối hợp với các lực lượng chức năng thực hiện có hiệu quả việc lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ…

II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG

Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn. Nghị định gồm 12 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2016. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:

- Điều kiện học sinh được hưởng chính sách hỗ trợ: (1) Đối với học sinh tiểu học và trung học cơ sở phải bảo đảm một trong các điều kiện: a) Là học sinh bán trú đang học tại trường phổ thông dân tộc bán trú; b) Là học sinh mà bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở thuộc xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Nhà ở xa trường khoảng cách từ 4 km trở lên đối với học sinh tiểu học và từ 7 km trở lên đối với học sinh trung học cơ sở hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn: Phải qua sông, suối không có cầu; qua đèo, núi cao; qua vùng sạt lở đất, đá; c) Là học sinh mà bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi đang học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở thuộc xã khu vực II vùng dân tộc và miền núi. Nhà ở xa trường hoặc địa hình cách trở giao thông đi lại khó khăn cụ thể như quy định tại điểm b khoản 1 Điều này; (2) Đối với học sinh trung học phổ thông là người dân tộc thiểu số, phải bảo đảm các điều kiện sau: a) Đang học tại trường trung học phổ thông hoặc cấp trung học phổ thông tại trường phổ thông có nhiều cấp học; b) Bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Nhà ở xa trường khoảng cách từ 10 km trở lên hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn: Phải qua sông, suối không có cầu; qua đèo, núi cao; qua vùng sạt lở đất, đá; (3) Đối với học sinh trung học phổ thông là người dân tộc Kinh, ngoài các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này còn phải là nhân khẩu trong gia đình thuộc hộ nghèo.

- Mức hỗ trợ: (1) Học sinh thuộc đối tượng hưởng chính sách theo quy định được hỗ trợ tiền ăn, tiền nhà ở và gạo với mức hỗ trợ như sau: a) Hỗ trợ tiền ăn: Mỗi học sinh được hỗ trợ mỗi tháng bằng 40% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh; b) Hỗ trợ tiền nhà ở: Đối với học sinh phải tự túc chỗ ở do nhà trường không thể bố trí ở bán trú trong trường, mỗi tháng được hỗ trợ bằng 10% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh; c) Hỗ trợ gạo: Mỗi học sinh được hỗ trợ mỗi tháng 15 kg gạo và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh; (2) Trường phổ thông dân tộc bán trú được hỗ trợ: a) Đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị, bao gồm: b) Mua sắm bổ sung, sửa chữa …với mức hỗ trợ 100.000 đồng/học sinh bán trú/năm học; c) Lập tủ thuốc dùng chung cho khu bán trú, với mức hỗ trợ 50.000 đồng/học sinh bán trú/năm học; d) Trường hợp trường phổ thông dân tộc bán trú tổ chức nấu ăn tập trung cho học sinh được hỗ trợ kinh phí phục vụ việc nấu ăn cho học sinh theo định mức khoán kinh phí tối thiểu bằng 135% mức lương cơ sở/01 tháng/30 học sinh, số dư từ 15 học sinh trở lên được tính thêm một lần định mức; nhưng mỗi trường chỉ được hưởng không quá 05 lần định mức nêu trên/01 tháng và không quá 9 tháng/01 năm.

B. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN

Trong tháng 09-2016, công tác tuyên truyền tập trung vào 02 nội dung trọng tâm sau:

1. Công tác tuyên truyền theo chủ đề, chủ điểm

- Tiếp tục tuyên truyền kết quả sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị  khóa XI; việc triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII, tập trung làm rõ các nội hàm: tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh; biểu dương, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; cổ vũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

- Tuyên truyền về kết quả Kỳ họp thứ 2 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI và các nghị quyết quan trọng được thông qua tại Kỳ họp; việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 30-6-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến trên địa bàn tỉnh; kết quả thực hiện Kết luận số 04-KL/TU, ngày 13-01-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh.

- Tuyên truyền sâu rộng về các hoạt động kỷ niệm 71 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9), tập trung cho các nội dung: Tái hiện không khí hào hùng của Tổng khởi nghĩa và Ngày Quốc khánh 2/9/1945; khẳng định công lao của Đảng, Bác Hồ và đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo; thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước; những bài học lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”...

- Tuyên truyền các ngày lễ, các sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng diễn ra trong tháng: 71 năm Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum (25/8/1945-25/8/2016); Ngày hội “Toàn dân đưa trẻ đến trường” (5/9); 114 năm Ngày sinh đồng chí Lê Hồng Phong (06/9/1902- 06/9/2016); 61 năm Ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955- 10/9/2016); 86 năm phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh (12/9/1930 - 12/9/2016); 39 năm Ngày Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc (20/9/1977-20/9/2016); 71 năm Ngày Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945-23/9/2016); 86 năm truyền thống Đảng bộ tỉnh (25/9/1930-25/9/2016). Tuyên truyền về công tác đặc xá năm 2016.

- Tuyên truyền về kết quả phát triển kinh tế- xã hội tháng 9, nhiệm vụ và giải pháp nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 ở các địa phương, đơn vị. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh, nhất là dịch sốt xuất huyết đang có chiều hướng diễn biến phức tạp trên địa bàn; công tác phòng, chống thiên tai, lũ lụt trong mùa mưa; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, phát hiện và xử lý các hành vi gian lận thương mại, thực phẩm bẩn, thực phẩm kém an toàn.

2. Công tác tuyên truyền thường xuyên

- Tiếp tục tuyên truyền những nội dung cơ bản, những nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu, giải pháp đột phá trong Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; những thành tựu đạt được về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị và đối ngoại của tỉnh, của đất nước trong thời kỳ đổi mới, nhất là thành tựu sau 25 năm thành lập lại tỉnh; kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016-2020.

- Tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực phát triển kinh tế; xây dựng nông thôn mới; xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa; bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh… Bồi dưỡng, xây dựng các điển hình tiên tiến của địa phương, ngành mình. Phát động phong trào học tập, thi đua với các điển hình tiên tiến trong quá trình triển khai thực hiện, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

- Tuyên truyền kết quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh; tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thích ứng với biến đổi khí hậu; công tác phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm; công tác quản lý bảo vệ tài nguyên, khoáng sản; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông...

- Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta.

C. THÀNH TỰU SAU 25 NĂM THÀNH LẬP LẠI TỈNH KON TUM VÀ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN CỦA TỈNH TRONG THỜI GIAN TỚI

I. Những thành tựu cơ bản sau 25 năm thành lập lại tỉnh

Ngày 12-8-1991, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 đã ra Nghị quyết giải thể tỉnh Gia Lai-Kon Tum và thành lập lại 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Việc thành lập lại tỉnh Kon Tum xuất phát từ yêu cầu phát triển chung của đất nước trong thời kỳ đổi mới, xu thế và điều kiện phát triển của khu vực Tây Nguyên và tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum. Trong 25 năm qua, với đặc điểm của một tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, điều kiện kinh tế-xã hội với điểm xuất phát thấp, đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn; thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, đặc biệt cơn bão số 9 (năm 2009), hạn hán trong mùa khô năm 2016 đã làm ảnh hưởng và thiệt hại lớn đến sản xuất và đời sống của Nhân dân. Song, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và hỗ trợ kịp thời của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương; với tinh thần tự lực, tự cường, cần cù sáng tạo, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, phát huy truyền thống cách mạng và những tiềm năng, thế mạnh sẵn có  để xây dựng, phát triển tỉnh Kon Tum đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, tạo được những dấu ấn khá rõ nét về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; củng cố quốc phòng-an ninh; kiện toàn hệ thống chính trị, góp phần vào thành tựu chung của cả nước trong công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

1. Về kinh tế

Kinh tế duy trì mức tăng trưởng tương đối cao (giai đoạn 1992-1995 đạt 9,15%/năm; 1996-2000 đạt 9,85%/năm; 2001-2005 đạt 11%/năm; 2005-2010 đạt 14,71%/năm, 2010-2015 đạt 13,94%/năm). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ (tỷ trọng công nghiệp-xây dựng từ 7,4% năm 1992 tăng lên 27,17% năm 2015; tỷ trọng thương mại-dịch vụ từ 25,3% năm 1992 tăng lên 38,11% năm 2015). Thu nhập bình quân đầu người/năm tăng liên tục qua các năm: Năm 1992 là 88,6 USD; năm 2000 đạt 182 USD, năm 2005 đạt 301 USD; năm 2010 đạt 718 USD và đến năm 2015 đạt 1.555 USD.

- Nông, lâm nghiệp và thủy sản có những chuyển biến tích cực, phát triển vững chắc theo hướng sản xuất hàng hoá (giai đoạn 1992-1995: tăng trưởng 3,28%/năm; 1996-2000: 10,7%/năm; 2001-2005: 9,15%/năm; 2005-2010 là 7,52%/năm). Riêng trong giai đoạn 2010-2015, nông nghiệp tăng trưởng bình quân 7,0%/năm. Diện tích cây cao su, cà phê, sâm Ngọc Linh tiếp tục được mở rộng, tạo ra các vùng chuyên canh nguyên liệu cho công nghiệp chế biến[1]; dự án phát triển rau, hoa xứ lạnh bước đầu được đầu tư có kết quả. Nuôi trồng thủy sản tăng trưởng khá[2], đã nuôi thử nghiệm thành công cá Tầm, bước đầu cho sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Việc đưa các giống cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp được chú trọng, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững đạt kết quả tốt. Tiềm năng đất đai, thủy điện... được khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn, tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển. Xây dựng nông thôn mới đã mang lại kết quả tích cực, góp phần thay đổi diện mạo khu dân cư và đời sống người dân ở nông thôn, đến tháng 6 năm 2016, toàn tỉnh có 09 xã đạt tiêu chí nông thôn mới.

- Tăng trưởng công nghiệp ngày càng cao: Giai đoạn 1996-2000 chỉ đạt 14,5%/năm; 2001-2005 đạt 16,76%/năm thì giai đoạn 2005-2010 công nghiệp-xây dựng tăng trưởng bình quân 25,7% năm; trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp đến 2010 tăng trên 6 lần so với năm 2005.  Giai đoạn 2010-2015, công nghiệp phát triển cả về quy mô và chất lượng, tốc độ tăng trưởng bình quân gần 16,7%/năm; một số ngành công nghiệp có lợi thế được chú trọng phát triển, tạo sản phẩm có sức tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước[3]. Một số nghề thủ công truyền thống được khôi phục, phát triển.

- Thương mại, dịch vụ có bước phát triển: giai đoạn 1996-2000 đạt 6,8%/năm; giai đoạn 2001-2005 đạt 11,18%/năm; giai đoạn 2006-2010 đạt 16,49%. Đặc biệt trong giai đoạn 2010-2015: Thương mại, dịch vụ phát triển nhanh, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng nhanh, bình quân đạt 29,18%/năm; mạng lưới phân phối hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của Nhân dân, góp phần tham gia bình ổn giá cả hàng hoá thiết yếu. Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, công nghệ thông tin, tư vấn... có bước phát triển đáng kể. Một số khu, tuyến, điểm du lịch được đưa vào khai thác, thu hút lượng khách du lịch đến tỉnh bình quân tăng hằng năm lên 17,85%.

- Ba vùng kinh tế động lực[4] với những đặc trưng riêng đã có những đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy kinh tế, xã hội của tỉnh phát triển và tác động lan tỏa đến các vùng khác. Việc đầu tư nâng cấp thành phố Kon Tum đạt 70% tiêu chuẩn của đô thị loại II (vùng cao, vùng sâu, biên giới), quy hoạch khu Trung tâm hành chính mới của tỉnh và xây dựng các khu đô thị mới[5] được triển khai tích cực; các khu, cụm công nghiệp được đầu tư, nâng cấp để thu hút đầu tư[6]. Thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi đã được công nhận đô thị loại IV, hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y có chuyển biến tích cực; thị trấn huyện lỵ Kon Plông được xúc tiến thành lập, du khách đến Măng Đen ngày càng tăng, một số dự án nông nghiệp công nghệ cao đang được triển khai thực hiện.

- Hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng hoàn thiện. Từ năm 1999, tỉnh đã phá được thế ngõ cụt về giao thông, tạo điều kiện để Kon Tum giao lưu thuận lợi với các tỉnh, các khu vực trong nước và với các nước trong khu vực. Các quốc lộ 24, 14C, đường Hồ Chí Minh đã đầu tư cơ bản hoàn chỉnh, đường tỉnh lộ được nâng cấp, hệ thống đường liên xã và giao thông nông thôn cơ bản lưu thông thuận lợi, thông suốt hai mùa; công tác tu bổ, sửa chữa các công trình thủy lợi được thực hiện thường xuyên, đảm bảo cấp nước và an toàn hồ chứa; điện lưới đã đến 98,66% thôn, tổ dân phố và trên 98,68% số hộ được sử dụng điện; trên 86% hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; hệ thống trường lớp, thiết bị dạy và học được chuẩn hóa, cơ bản đáp ứng yêu cầu; Bệnh viện Đa khoa tỉnh và các bệnh viện tuyến tỉnh được đầu tư mở rộng, trang thiết bị hiện đại, các trung tâm y tế huyện và y tế tuyến xã được quan tâm đầu tư đảm bảo yêu cầu khám chữa bệnh cho Nhân dân; hạ tầng công nghệ thông tin phát triển nhanh, mạng lưới thông tin phủ sóng rộng khắp; thiết chế văn hóa, công trình thể thao và các công trình phúc lợi xã hội được quan tâm đầu tư từ ngân sách và xã hội hóa đầu tư[7]. Kết cấu hạ tầng trung tâm các huyện, xã và cụm xã được đầu tư, mở rộng và ngày càng khang trang. Các công trình trọng điểm cơ bản hoàn thành, đảm bảo chất lượng.

2. Về văn hoá, xã hội

- Công tác xoá đói giảm nghèo được đẩy mạnh triển khai một cách đồng bộ và đạt được kết quả tương đối cao, góp phần ổn định cuộc sống của người nghèo trên địa bàn tỉnh. Khi mới thành lập lại tỉnh, tỷ lệ hộ đói, nghèo của toàn tỉnh là trên 65%, đến 2005 giảm xuống còn 9,23% (theo chuẩn nghèo năm 2005 là 38,63%). Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 33,36% cuối năm 2010 xuống 11,5% vào cuối năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 4,37%; trong đó, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số/tổng số hộ dân tộc thiểu số giảm từ 56,5% (năm 2010) xuống còn 19,87% (vào cuối năm 2015). Đời sống người có công, người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội ngày càng được cải thiện. Nhà ở, đất ở, đất sản xuất của Nhân dân phần lớn được đảm bảo.

- Chất lượng giáo dục-đào tạo được nâng lên, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số. Khắc phục tình trạng thiếu thầy, thiếu lớp, thiếu phòng học và có nhiều phòng học tạm bợ, tranh tre, nứa lá; số lượng cán bộ quản lý và giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn còn quá thấp của những năm đầu mới thành lập lại, tỉnh đã từng bước thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, từ tập trung mở rộng hệ thống trường, lớp đến nâng cao chất và lượng giáo viên ở các cấp học, ngành học. Năm 1991, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường mới chỉ đạt 60% thì đến năm 2000, tỉnh đã được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010 và hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015. Trong giai đoạn 2010-2015, công tác đào tạo nghề được triển khai tích cực, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chung từ 33% lên 42%; đã tích cực tạo việc làm cho lao động nông thôn và sinh viên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp giáo dục chuyên nghiệp (đại học, cao đẳng, trung cấp...).

- Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Nhân dân đạt nhiều kết quả. Các loại dịch bệnh nguy hiểm được phát hiện, khống chế kịp thời. Tuổi thọ trung bình được nâng lên[8]. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng năm 2010 là 28,3%, đến năm 2015 giảm còn 23,4%. Khi mới thành lập lại tỉnh, cơ sở vật chất của ngành y tế thiếu thốn nghiêm trọng; đội ngũ cán bộ y tế vừa thiếu, vừa yếu; trang thiết bị chuyên môn thiếu thốn, lạc hậu, nhiều xã “trắng” về y tế (không có trạm và cán bộ y tế),... Đến nay[9], mạng lưới y tế được xây dựng, củng cố và kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở; bình quân có gần 10 bác sỹ và 0,6 dược sỹ đại học/ vạn dân; gần 100% trạm y tế xã có bác sỹ; tiêm chủng mở rộng thường xuyên hàng tháng tại tất cả các xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh với tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đạt 96,6%; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 85%.

- Hoạt động văn hóa, nghệ thuật ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng được nâng lên; ý thức thực hiện nếp sống văn minh của người dân có chuyển biến tích cực. Công tác quản lý, sưu tầm, bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, truyền thống quý báu của dân tộc thiểu số được tăng cường, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân và quảng bá hình ảnh địa phương. Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì và có tiến bộ. Thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được đầu tư xây dựng, cơ bản đáp ứng nhu cầu của Nhân dân. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" phát triển sâu rộng; số thôn, tổ dân phố, khu dân cư và hộ gia đình được công nhận đạt tiêu chuẩn văn hóa ngày càng tăng. Tính đến tháng 6 năm 2016, toàn tỉnh có 550/868 khu dân cư văn hóa; 81.541/118.732 hộ gia đình được công nhận danh hiệu Gia đình văn hóa. 

3. Về lĩnh vực quốc phòng-an ninh

Trong 25 năm qua, mặc dù có những lúc tình hình thế giới, trong nước và khu vực diễn biến phức tạp, nhưng tỉnh Kon Tum vẫn bảo đảm ổn định về an ninh chính trị. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân được củng cố, tăng cường; các tiềm lực trong khu vực phòng thủ tỉnh được đầu tư xây dựng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai có hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định chính trị, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn. Diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập chiến đấu trị an được triển khai đúng kế hoạch, đạt chất lượng. Chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Các chính sách đối với lực lượng vũ trang và hậu phương quân đội được triển khai thực hiện có hiệu quả.

An ninh chính trị nội bộ, an ninh biên giới, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh trong vùng tôn giáo, dân tộc, nông thôn và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đã chủ động phòng ngừa, đấu tranh, không để tái nhen nhóm tổ chức phản động FULRO, Tin lành Đê Ga; đấu tranh triệt để xóa bỏ tà đạo Hà Mòn đạt kết quả. Các loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm nguy hiểm, tội phạm kinh tế, môi trường, ma tuý được điều tra, xử lý kịp thời.

Hoạt động đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân được tăng cường. Công tác đối ngoại, hợp tác, nhất là với các tỉnh giáp biên của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia được tích cực đẩy mạnh, tập trung vào các lĩnh vực bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới; phòng, chống tội phạm; phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tìm kiếm, quy tập, cất bốc hài cốt liệt sỹ…, đã thiết lập quan hệ với một số tỉnh Đông Bắc Thái Lan trên một số lĩnh vực giáo dục, văn hóa, du lịch…. Công tác phân giới, cắm mốc trên tuyến biên giới với Campuchia, tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới trên tuyến biên giới với Lào cơ bản hoàn thành.

4. Về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị

Trong 25 năm qua, công tác xây dựng Đảng luôn được coi là nhiệm vụ then chốt và thường xuyên của Đảng bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được chú trọng. Việc tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước ngày càng được đổi mới và hiệu quả hơn; đã kịp thời nắm bắt, phản ánh và định hướng dư luận xã hội. Công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch được chủ động triển khai và đạt kết quả tích cực, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá. Tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; ý thức ngăn ngừa biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được nâng lên.

Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có chuyển biến và mang lại hiệu quả thiết thực. Đã kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm trên địa bàn. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp thực hiện tốt việc đăng ký, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn với trách nhiệm nêu gương theo quy định, có lối sống trong sạch, lành mạnh, đề cao trách nhiệm và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; một số mô hình điển hình tiên tiến được biểu dương và nhân rộng.

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên; chất lượng sinh hoạt chi bộ ngày càng đi vào thực chất. Tổ chức bộ máy tiếp tục được củng cố, kiện toàn, phát huy được vai trò và đáp ứng nhiệm vụ được giao. Công tác phát triển đảng, nhất là ở những nơi khó khăn tiếp tục được chú trọng. Số lượng, chất lượng đảng viên mới kết nạp hằng năm đều tăng, nhất là đảng viên trẻ, nữ, dân tộc thiểu số và đảng viên có tôn giáo.

Khi mới thành lập lại tỉnh, đội ngũ cán bộ còn rất thiếu và yếu. Đến nay, đội ngũ cán bộ các cấp cơ bản đảm bảo cơ cấu, chất lượng, trưởng thành về mọi mặt và đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Công tác cán bộ được thực hiện đúng quy trình, quy định. Chất lượng quy hoạch cán bộ các cấp ngày càng được nâng lên, cơ bản khắc phục tình trạng khép kín. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện quyết liệt, đã góp phần khắc phục tình trạng trì trệ, cục bộ ở một số địa phương, đơn vị. Đa số cán bộ luân chuyển có sự trưởng thành, một số đồng chí phát huy tốt vai trò, trách nhiệm ở cương vị công tác mới. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ tăng về số lượng, nâng dần về chất lượng và hiệu quả công tác, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ, khắc phục được tình trạng hẫng hụt ở nhiều ngành, địa phương. Đội ngũ cán bộ cấp xã ngày được chuẩn hóa. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được chú trọng, nhất là vấn đề chính trị hiện nay.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng tiếp tục được tăng cường. Đã chủ động xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát với những nội dung trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những vụ việc nổi cộm, dư luận quan tâm; qua kiểm tra, giám sát đã phát huy ưu điểm, khắc phục các khuyết điểm, ngăn ngừa sai phạm, đề xuất sửa đổi, bổ sung những vấn đề còn bất cập, xử lý kỷ luật nghiêm đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Giải quyết kịp thời đơn thư tố cáo, hạn chế tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp kéo dài.

Công tác dân vận của hệ thống chính trị có nhiều đổi mới, được triển khai thực hiện có hiệu quả với nhiều hình thức, lực lượng phù hợp, góp phần trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh ở cơ sở. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và tập trung nhiều hơn về cơ sở. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", "Ngày vì người nghèo", ngày hội đại đoàn kết toàn dân, phong trào đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt, xây nhà "Đại đoàn kết", "Tết cho người nghèo", chăm lo các gia đình chính sách, các đối tượng tàn tật, trẻ mồ côi… ngày càng phát huy hiệu quả. Vai trò giám sát, phản biện xã hội đã có sự đổi mới về hình thức và nội dung; hương ước, quy ước ở các thôn, tổ dân phố được thực hiện, qua đó đã phát huy tốt quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn tỉnh.

Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp được nâng lên rõ rệt. Các kỳ họp hội đông nhân dân ngày càng được nâng cao về chất lượng, dân chủ, công khai hơn, từ việc xây dựng nội dung chương trình họp, chất vấn, trả lời chất vấn, đến việc quyết định phân bổ ngân sách và quyết định những vấn đề lớn của địa phương. Công tác giám sát, tiếp xúc cử tri đã có sự đổi mới theo hướng tăng cường phối hợp, thiết thực, hiệu quả.

Năng lực quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện của chính quyền và các cơ quan quản lý Nhà nước tiếp tục được nâng lên. Sự phân cấp, phân quyền ngày càng rõ ràng giữa chính quyền các cấp, các ngành và đã đảm bảo việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được thống nhất, chặt chẽ và có hiệu quả hơn trước. Nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh uỷ được chính quyền cụ thể hoá thành chương trình, kế hoạch, đề án phù hợp và tổ chức thực hiện thống nhất, đồng bộ, sát cơ sở và có hiệu quả rõ rệt trong thực tiễn. Đội ngũ cán bộ chính quyền các cấp được tăng cường, ngày càng nâng cao trình độ nghiệp vụ, năng lực thực tiễn, ý thức trách nhiệm.

Cải cách hành chính có nhiều chuyển biến tích cực. Việc triển khai thực hiện chủ trương cải cách hành chính được chú trọng và triển khai tương đối đồng bộ. Công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” đã được thực hiện ở hầu hết các sở, ngành và huyện, thành phố và xã, phường, thị trấn. Qua đó, góp phần giảm bớt thủ tục hành chính phiền hà, giải quyết kịp thời hơn các yêu cầu, quyền lợi của tổ chức và công dân; tình trạng quan liêu, sách nhiễu trong một bộ phận cán bộ, công chức dần dần được khắc phục.

II. Những định hướng lớn của tỉnh trong thời gian tới

Trong những năm tới, tỉnh Kon Tum có những thuận lợi to lớn mà Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh cần khai thác, phát huy để phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển địa phương. Nằm ở ngã ba Đông Dương, là trung tâm của vùng Tam giác phát triển; có lợi thế về kinh tế cửa khẩu; có tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên, cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc... nên có điều kiện cho phát triển kinh tế rừng, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc; công nghiệp chế biến, thương mại-dịch vụ và du lịch. Quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định. Đảng, Nhà nước có nhiều chính sách đặc thù đối với miền núi, vùng cao nói chung và khu vực Tây Nguyên nói riêng đang được triển khai thực hiện có hiệu quả. Quan hệ hợp tác phát triển giữa Kon Tum với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước đang mở ra nhiều triển vọng. Nhiều công trình, dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn được đầu tư, triển khai thực hiện, nhất là nhiều tuyến đường nối với các tỉnh duyên hải miền Trung và vùng Tam giác phát triển sẽ được đầu tư nâng cấp; Nhân dân các dân tộc trong tỉnh có truyền thống đoàn kết, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ không ngừng được củng cố; đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ bản đảm bảo về số lượng, phẩm chất, đạo đức và năng lực thực tiễn, năng động trong tổ chức thực hiện, đủ khả năng đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi to lớn, tỉnh ta cũng đứng trước những khó khăn, bất cập như: Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém. Nhu cầu về vốn đầu tư lớn, nhưng khả năng đáp ứng rất hạn chế. Quy mô kinh tế còn nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, năng lực cạnh tranh thấp. Dân số ít và sống phân tán; trình độ dân trí không đồng đều; chất lượng nguồn nhân lực thấp; lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao; vị trí địa lý đặc thù tạo ra thuận lợi, song cũng đặt ra những khó khăn giữa phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành về kinh tế, xã hội của các cấp, các ngành còn có mặt hạn chế; chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính chưa thật mạnh mẽ, triệt để. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng về đạo đức, lối sống, yếu kém về trình độ, năng lực, uy tín thấp. Tình hình ngoại biên phức tạp; các thế lực thù địch, phản động tiếp tục các hoạt động kích động, chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc, lôi kéo vượt biên trái phép.

Tình hình thế giới, trong nước, trong tỉnh tạo ra cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều yêu cầu mới, phức tạp hơn đối với việc ổn định và phát triển của tỉnh trong  những năm tới.

Phát huy những lợi thế, thuận lợi, khắc phục, đẩy lùi những khó khăn trong thời gian tới, Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XV đã chỉ ra Mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ 2015-2020 đó là: "Tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền; củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc; quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế của tỉnh để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn với xây dựng nông thôn mới; duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống. Phấn đấu xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định và phát triển bền vững".

Đại hội đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2015-2020 trên 9%/năm. Đến năm 2020, tỷ trọng các ngành trong trong cơ cấu kinh tế[10]: nông-lâm-thuỷ sản là 26-27%, công nghiệp-xây dựng là 31-32%, thương mại-dịch vụ là 35-36%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 2.500 USD; thu ngân sách nhà nước tại địa bàn trên 3.500 tỷ đồng.

Đến năm 2020, dân số khoảng 580 nghìn người; trên 52% lao động qua đào tạo; có 80% người trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương; 100% xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã; 50% xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa; ít nhất 25 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 3-4%/năm.

Đến năm 2020, trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; độ che phủ rừng đạt trên 63,75%.

Đến năm 2020, kết nạp mới trên 5.000 đảng viên; 100% thôn, tổ dân phố có tổ chức đảng; trên 75% quần chúng được tập hợp vào các tổ chức chính trị-xã hội.

Để thực hiện mục tiêu đó, trong nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ tỉnh tập trung lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi toàn diện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

- Tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại.

- Thực hiện tái cơ cấu đồng bộ nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh gắn với đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

- Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân.

- Bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.

- Tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ.

- Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp.

- Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hướng về cơ sở...

D. SÁU NỘI DUNG CHỦ YẾU THỰC HIỆN CHỈ THỊ 05 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2021

Ngày 25-7-2016, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Kế hoạch 03 về thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” từ nay đến năm 2021.

Kế hoạch đề ra mục đích làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành công việc tự giác, thường xuyên của mỗi cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, trước hết là của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên và hội viên.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; chú trọng chỉnh đốn tác phong công tác của cán bộ, khắc phục, ngăn ngừa bệnh thành tích, hình thức, phô trương, xây dựng hình ảnh người cán bộ, đảng viên gần dân, sát dân, lắng nghe, đối thoại với nhân dân, giản dị, khiêm tốn, tận tụy, trung thực và liêm khiết; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên, liên tục, có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để cán bộ, đảng viên, nhân dân học tập và làm theo.

Các cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, các ngành cần lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “học đi đôi với làm theo”. Người đứng đầu phải gương mẫu xây dựng kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên theo chức năng, nhiệm vụ của mình, xây dựng và báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch với chi bộ hoặc với tập thể cơ quan, đơn vị nơi công tác. Lấy kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm và cả nhiệm kỳ.

Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nghị quyết của cấp uỷ và nội dung sinh hoạt định kỳ của chi bộ; gắn với các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; khắc phục, ngăn ngừa bệnh hình thức, thành tích, nói không đi đôi với làm, thiếu trung thực trong thực hiện Chỉ thị.

Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo, hướng dẫn của cấp uỷ cấp trên, đồng thời phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, linh hoạt của các cấp uỷ, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị trực thuộc trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

* Sáu nội dung chủ yếu cần thực hiện:

1- Tổ chức học tập và xây dựng kế hoạch làm theo các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Các cấp uỷ tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên và có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động, các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

 Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên xây dựng kế hoạch và tự giác làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, báo cáo kết quả với cấp uỷ hoặc chi bộ, cơ quan, đơn vị nơi công tác.

Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bí thư cấp uỷ, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch cá nhân về làm theo và gương mẫu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm gương cho cán bộ, đảng viên, quần chúng noi theo.

Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xây dựng nội dung, chương trình, hướng dẫn thực hiện; phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu, làm sâu sắc thêm những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn đưa nội dung học tập về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào sinh hoạt định kỳ ở chi bộ; bổ sung tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm dựa trên kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng kế hoạch và hướng dẫn nội dung thực hiện đối với các tổ chức thành viên, đoàn viên, hội viên.

Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương xây dựng kế hoạch, hướng dẫn nội dung thực hiện trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam.

2- Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề bức xúc, nổi cộm của địa phương, cơ quan, đơn vị

Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành một nội dung quan trọng trong chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ cấp mình, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ chính trị hằng năm và cả nhiệm kỳ.

Gắn kết chặt chẽ việc thực hiện Chỉ thị 05 với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và các nghị quyết Trung ương khoá XII về xây dựng Đảng. Tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề bức xúc, nổi cộm của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Kết hợp chặt chẽ với các cuộc vận động, phong trào thi đua của các cấp, các ngành, đoàn thể, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ ở từng cơ quan, đơn vị với phương châm “sát chức năng, nhiệm vụ, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và đánh giá việc thực hiện”. Hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến đạo đức công vụ.

3- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng, đạo đức phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam

Đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; về kết quả thực hiện Chỉ thị 05; về gương “người tốt, việc tốt”, tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác; phê bình, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, học không đi đôi với làm, bệnh hình thức, báo cáo không trung thực; đấu tranh với các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội.

Đẩy mạnh hoạt động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Tăng cường tuyên truyền đối ngoại và thực hiện nhiệm vụ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với tổ chức và người Việt Nam ở ngoài nước, nhất là trong học sinh, sinh viên, thanh niên đang học tập, làm việc ở ngoài nước.

Ban Bí thư yêu cầu, Ban Tuyên giáo Trung ương xây dựng kế hoạch, chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tăng thời lượng và chất lượng các chuyên mục tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, biểu dương “người tốt, việc tốt”, kinh nghiệm hay; chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức Giải thưởng sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; tiếp tục nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả tuyên truyền của Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh.

Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ chỉ đạo, chủ trì nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hướng dẫn hình thức khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Đảng uỷ Ngoài nước và Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với tổ chức và người Việt Nam ở ngoài nước.

4- Tiếp tục chỉ đạo biên soạn chương trình, giáo trình về tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh

Biên soạn chương trình, giáo trình về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân, giảng dạy ở các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị theo yêu cầu của Chỉ thị 05.

Ban cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo hoàn thành việc xây dựng chương trình và đưa vào giảng dạy nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Ban cán sự đảng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chỉ đạo hoàn thành việc xây dựng chương trình và đưa vào giảng dạy nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các trường dạy nghề.

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Hành chính quốc gia và các tổ chức chính trị - xã hội biên soạn chương trình, giáo trình về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để giảng dạy ở các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp.

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xây dựng kế hoạch về giáo dục tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ.

5- Công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Cấp uỷ, tổ chức đảng thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị 05 và Kế hoạch này của Ban Bí thư.

Hằng năm tổ chức sơ kết việc thực hiện Chỉ thị 05 và Kế hoạch của Ban Bí thư, kết hợp biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.

Ban Bí thư chỉ đạo, chủ trì việc sơ kết hằng năm và tổng kết cuối nhiệm kỳ.

Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ thị 05 trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và chính quyền các cấp.

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và uỷ ban kiểm tra các cấp tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp uỷ các cấp đưa vào kế hoạch kiểm tra, giám sát hằng năm của cấp uỷ nội dung kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện và kết quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của các cấp uỷ, tổ chức đảng, các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; chủ trì nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 10/1/2012 của Ban Bí thư khoá XI về công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên cho phù hợp với Chỉ thị 05.

Văn phòng Trung ương Đảng phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát, sửa đổi và xây dựng mới những quy chế, quy định về đi công tác, làm việc với các ngành, địa phương, hội họp, lễ tân, sử dụng xe công vụ, công tác bảo vệ cán bộ cao cấp của Trung ương...

Ban Nội chính Trung ương chủ trì phối hợp với Uỷ ban Kiểm tra Trung ương xây dựng kế hoạch tăng cường chỉ đạo, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Ban Tổ chức Trung ương chủ trì nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện Quy định 101-QĐ/TW, ngày 06/7/2012 của Ban Bí thư khoá XI, đề cao việc nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Ban Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nghiên cứu xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên.

Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn công tác sơ kết hằng năm và tổng kết toàn khoá.

6- Xác định nội dung đột phá nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Xác định việc xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế làm việc, xác định rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, tác phong công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội là nội dung đột phá trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Các cấp uỷ, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị tuỳ theo tình hình, điều kiện, xác định rõ những nội dung đột phá nhằm làm chuyển biến rõ nét trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngay từ năm đầu nhiệm kỳ, nhất là đổi mới phong cách, tác phong công tác gần dân, sát dân, lắng nghe, đối thoại với nhân dân; chống bệnh thành tích, hình thức; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng; nâng cao tinh thần trách nhiệm, quyết liệt trong công việc, “nói đi đôi với làm”.

Ban thường vụ các tỉnh uỷ, thành uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương; các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang.

Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, bổ sung, xây dựng mới các quy định, quy chế về công tác cán bộ và trách nhiệm người đứng đầu.

Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ và các ban cán sự đảng bộ, ngành rà soát, bổ sung các quy chế, quy định đáp ứng yêu cầu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các cơ quan nhà nước.

Việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị do Ban Bí thư, trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư chỉ đạo trong toàn Đảng và toàn xã hội. Ở địa phương, cơ quan, đơn vị, do ban thường vụ cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, trực tiếp là đồng chí bí thư cấp uỷ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chỉ đạo.

Ban tuyên giáo cấp uỷ các cấp là cơ quan giúp việc của cấp uỷ trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phân công một số cán bộ ban tuyên giáo các cấp chuyên trách nội dung, song không tăng biên chế, tổ chức mới.

Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu, căn cứ Chỉ thị 05 và Kế hoạch của Ban Bí thư, các tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức và hướng dẫn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở địa phương, ngành, tổ chức, cơ quan, đơn vị mình.

E. TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI THÁNG 8 VÀ 8 THÁNG NĂM 2016

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2016

Ước tính đến thời điểm ngày 15/8/2016 tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm vụ Mùa 2016 tỉnh Kon Tum là: 62.639 ha, tăng 0,34% (+211 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm trước.

Cây lúa DTGT: 16.427 ha, tăng 1,87% (+302 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm trước. Trong đó: Cây lúa ruộng DTGT: 12.016 ha, tăng 3,19% (+371 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm trước; Cây lúa rẫy DTGT: 4.411 ha, giảm 1,54% (-69 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm trước.

Cây ngô DTGT: 5.394 ha, giảm 4,24% (-239 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm trước.

Cây sắn DTGT: 38.923 ha, tăng 0,40% (+155 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Khoai lang DTGT: 121 ha, tăng 0,83% (+1 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Cây lạc DTGT: 119 ha, giảm 9,16% (-12 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Rau các loại DTGT: 1.115 ha, tăng 2,39% (+26 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Đậu các loại DTGT: 387 ha, giảm 4,21% (-17 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Các loại cây khác DTGT: 74 ha, giảm 3,54% (-5,6 ha) so với cùng kỳ năm trước.

+ Diện tích cây lâu năm

Kon Tum là tỉnh có sản lượng cây ăn quả không lớn. Khí hậu, thổ nhưỡng ở đây không phù hợp với các loại cây ăn quả. Diện tích chủ yếu trồng rải rác ở các khu vườn hộ dân, sản lượng thu hoạch chủ yếu phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày.

Ước đến thời điểm ngày 15/8/2016, tổng diện tích cây lâu năm hiện có trên địa bàn tỉnh là: 94.101 ha, tăng 1,64% (+1.514 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây cà phê là 15.984 ha, tăng 8,99% (+1.318 ha) so cùng kỳ năm trước; trong đó: diện tích trồng mới ước tính đến ngày 15/8/2016 là 596 ha. Diện tích cây cao su là 74.665 ha, tăng 0,10% (+72 ha) so cùng kỳ năm trước; trong đó, diện tích trồng mới ước đến ngày 15/8/2016 là 78 ha.

- Chăn nuôi: Trong tháng bệnh lở mồm long móng trên đàn gia súc (đàn bò) được phát hiện tại 6 hộ của thôn Kon Hra Chót, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum vào ngày 08/8/2016; tổng số bò bị bệnh là 20 con; tính đến 14/8/2016 số bò đang theo dõi điều trị là 18 con, số bò khỏi bệnh là 02 con, không có số bò chết hoặc tiêu hủy, lực lượng Thú y tiếp tục theo dõi  điều trị, tiêu độc khử trùng kịp thời, không để lây lan ra diện rộng.

b) Lâm nghiệp

Ước tính đến thời điểm 15/8/2016, trên địa bàn tỉnh đã trồng rừng tập trung là 745 ha, giảm 37,13% (-440 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân: là do năm nay thời tiết mưa đến muộn nên doanh nghiệp và Nhân dân triển khai trồng rừng chậm.

Tính đến ngày 15/8/2016 đã xảy ra 4 vụ cháy rừng với diện tích là 30,5 ha, giảm 4 vụ (-3,79 ha) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: 30 ha rừng tự nhiên (01 vụ cháy 10 ha, thiệt hại 40%, 02 vụ cháy 20 ha không gây thiệt hại); 0,5 ha rừng trồng mức độ thiệt hại là 10%. Các vụ cháy rừng trên xảy ra ở các địa bàn huyện Kon Rẫy, Sa Thầy, Ia H’Drai, Ngọc Hồi. Trên địa bàn tỉnh xảy ra 38 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích là 10,18 ha, giảm 03 vụ (+6,64 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Khai thác lâm sản: sản lượng gỗ khai thác được 10.139 m³, giảm 36,30% (-5.778 m³) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân: Là do giá gỗ rừng trồng giảm nên doanh nghiệp và Nhân dân chưa khai thác; Sản lượng củi khai thác là: 190.100 ster, giảm 2,90% (-5.773 ster) so với cùng kỳ năm trước.

c) Thuỷ sản

Ước tính đến 15/8/2016, diện tích nuôi trồng thủy sản là 614 ha, tăng 7,91% (+45 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thuỷ sản là 2.358 tấn, tăng 11,28 % (+239 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng nuôi trồng nước ngọt là 1.463 tấn, tăng 11,93% (+156 tấn) so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng khai thác nước ngọt là 895 tấn, tăng 10,22% (+83 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thuỷ sản tăng so với cùng kỳ năm trước, là do: diện tích nuôi trồng tăng. Bên cạnh đó việc khai thác đánh bắt thủy sản trên các lòng hồ thủy lợi, thuỷ điện, sông suối... thuận lợi nên các hộ đã tăng đầu tư đánh bắt làm cho sản lượng tăng lên.

2. Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 năm 2016 ước tính tăng 1,90% so cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai thác khoáng sản tăng 9,92%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,71%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,95%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 3,43% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân hiện nay trên địa bàn tỉnh đã vào mùa mưa; tuy nhiên lượng mưa tương đối thấp, nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất của các nhà máy, nhằm ổn định lượng nước trên các hồ chứa để duy trì hoạt động.

So với tháng trước chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2016 ước tính tăng 27,65%. Nguyên nhân chủ yếu do ngành công nghiệp chế biến tăng; đến tháng 8 các nhà máy trên địa bàn tỉnh đã bắt đầu thu mua nguyên liệu để hoạt động trở lại sau thời gian nghỉ mùa vụ, lượng tinh bột sắn sản xuất tăng đã làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến tăng mạnh so tháng trước.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2016 tăng 4,21% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (+ 11,44%), ngành khai thác cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải (+6,11%); ngành công nghiệp khai thác khoáng sản tăng nhẹ (+ 1,51%); riêng ngành sản xuất và phân phối điện giảm thấp (-8,83%) so với cùng kỳ năm trước; Nguyên nhân chủ yếu do từ những tháng cuối năm trước đến nay trên địa bàn tỉnh tình hình nắng hạn kéo dài, lượng nước ở các sông, hồ giảm thấp nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy, nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất.

Ước tính một số sản phẩm sản xuất trong 8 tháng  năm 2016 như sau: Đá xây dựng khai thác 384.965 m³, tăng 1,91% so với cùng kỳ năm trước; Tinh bột sắn ước tính sản xuất 116.564 tấn, giảm 1,08% so với cùng kỳ năm trước; lượng đường sản xuất 14.035 tấn, tăng 20,33% so với cùng kỳ năm trước; bàn, ghế ước tính sản xuất 137.258 cái, tăng 13,81% so với cùng kỳ năm trước, điện sản xuất ước tính 398,86 triệu Kwh, bằng 82,83% so với cùng kỳ năm trước.

So cùng thời điểm năm trước chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,45%; Riêng ngành sản xuất tinh bột sắn chỉ số tồn kho tăng cao (+41,53%) do thị trường xuất khẩu khó khăn; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 24,82% do sản lượng sản xuất tăng, lượng sản phẩm nhập kho cao, trong khi đó hiện một số công trình xây dựng chưa tập trung thi công nên lượng tiêu thụ chậm; các ngành còn lại có chỉ số tồn kho giảm so cùng thời điểm năm trước.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong 8 tháng năm 2016 hoạt động sản xuất tương đối ổn định. Một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước; Năm nay Công ty Cổ phần đường Kon Tum ngoài nguồn nguyên liệu mía trong tỉnh còn thu mua thêm nguồn nguyên liệu mía ngoài tỉnh để sản xuất; Thời gian hoạt động sản xuất kéo dài hơn so với năm trước, nên sản phẩm đường sản xuất tăng cao; Ngành chế biến tinh bột sắn tuy thị trường tiêu thụ sản phẩm có khó khăn, nhưng trong những tháng đầu năm các đơn vị vẫn thu mua nguyên liệu và sản xuất bình thường. Ngành sản xuất bàn, ghế đã giảm bớt những khó khăn, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ tương đối thuận lợi hơn. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định, lượng sản phẩm tồn kho tháng sau có xu hướng giảm so tháng trước. Đối với ngành sản xuất điện, sản lượng điện sản xuất trong 8 tháng năm 2016 giảm thấp so cùng kỳ; Nguyên nhân chủ yếu do từ những tháng cuối của năm trước đến nay trên địa bàn tỉnh, nắng hạn kéo dài, lượng nước ở các hồ chứa giảm thấp, nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy, nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất.

3. Vốn đầu tư

- Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển tháng 8 năm 2016 thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt: 103.331 triệu đồng; Chia ra:

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt: 81.309 triệu đồng, chiếm 78,69%  trong tổng số nguồn vốn; Chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, công trình giao thông, giáo dục, y tế, cấp nước sinh hoạt nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới,... Trong đó: Nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 30.140 triệu đồng, chiếm  37,07%; Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 31.540 triệu đồng, chiếm 38,79 %; Nguồn vốn ODA  đạt 15.313 triệu đồng, chiếm 18,83%;  Nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 2.057 triệu đồng, chiếm 2,53% và nguồn vốn khác đạt 2.259 triệu đồng, chiếm 2,78% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh.

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt: 21.892 triệu đồng, chiếm 21,19% trong tổng số nguồn vốn; Chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... trên địa bàn các  huyện, thành phố thuộc tỉnh. Trong đó: Nguồn vốn cân đối ngân sách huyện đạt 9.015 triệu đồng, chiếm 41,18%; Nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 9.856 triệu đồng, chiếm 45,02% và nguồn vốn khác đạt 3.021 triệu đồng, chiếm 13,80% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện.

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt: 130  triệu đồng, chiếm 0,13% trên tổng số nguồn vốn.

- Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển 8 tháng năm 2016 thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt: 784.682 triệu đồng. Chia ra:

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt : 603.406 triệu đồng, chiếm 76,90% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông nông thôn, giáo dục, y tế,... Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách tỉnh đạt 253.806 triệu đồng, chiếm 42,06%; Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 266.812 triệu đồng, chiếm 44,22%; Nguồn vốn ODA đạt 45.675 triệu đồng, chiếm 7,57%; Nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 20.134 triệu đồng, chiếm 3,34% và nguồn vốn khác đạt 16.979  triệu đồng, chiếm 2,81% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh.

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt: 179.951 triệu đồng, chiếm 22,93% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh. Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách huyện đạt 85.649 triệu đồng, chiếm 47,60%; Nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 77.978 triệu đồng, chiếm 43,33% và nguồn vốn khác đạt 16.324 triệu đồng, chiếm 9,07% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện.

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt: 1.325 triệu đồng, chiếm 0,17% trên tổng số nguồn vốn.

Trong 8 tháng năm 2016, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, trụ sở UBND các xã, công trình thủy lợi, công trình cấp nước sinh hoạt, công trình giáo dục, y tế… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh như: Nâng cấp thủy lợi nước Xiệc, huyện Ngọc Hồi; Cấp nước sinh hoạt trung tâm hành chính xã Ia Dal; Đường giao thông Đắk Côi- Đắk Pxy (Km0-39+060); Kè chống sạt lở bờ sông Đắk Bla - Kon Tum; Đường nông thôn liên xã và cầu Đắk Ang, huyện Ngọc Hồi; Đường giao thông Tu Mơ Rông - Ngọc Yêu; Đường liên xã Đắk Xú - Plei Kần; Trung tâm dạy nghề huyện Đak Glei; Cải tạo, sửa chữa nhà khách Quang Trung, Đường nội bộ văn phòng nhà nghỉ rừng đặc dụng; Bổ sung lưới điện Hà Mòn; Nhà khách huyện Đắk Hà; Đường dân sinh thôn Kô Xia 1+2 xã Ngọc Lây, huyện Tu Mơ Rông; Nâng cấp bệnh viện đa khoa Kon Tum từ 400 lên 500 giường; CBĐT Đường bao quanh khu dân cư phía Nam thành phố Kon Tum; CBĐT đường bao quanh khu dân cư phía Bắc thành phố Kon Tum; Nâng cấp  Bệnh viện y học cổ truyền tỉnh Kon Tum... và một số công trình dự án thuộc  các nguồn vốn chương  trình mục tiêu quốc gia: Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững (Chương trình 30a, Chương trình 135); Nguồn vốn đầu tư theo các chương trình mục tiêu: Chương trình phát triển kinh tế xã hội các vùng; Chương trình đầu tư phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình mục tiêu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư; Chương trình mục tiêu cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo; Chương trình mục tiêu đầu tư cơ sở hạ tầng khu kinh tế ven biển, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Chương trình mục tiêu đầu tư hệ thống y tế địa phương giai đoạn 2016-2020; Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa; Chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng du lịch; Chương trình mục tiêu quốc phòng, an ninh trên địa bàn trọng điểm...

4.Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 8 năm 2016 đạt 1.073.179 triệu đồng, giảm 2,48% so với tháng trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ; Chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 885.258 triệu đồng, chiếm 82,49% trong tổng mức và giảm 2,64% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 119.192 triệu đồng, chiếm 11,11% trong tổng mức và giảm 1,96% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 68.339 triệu đồng, chiếm 6,37% trong tổng mức và giảm 1,41% so với tháng trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính 8 tháng năm 2016 đạt 9.007.054 triệu đồng, tăng 12,49% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 7.450.010 triệu đồng, chiếm 82,71% trong tổng mức và tăng 12,51% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 935.160 triệu đồng, chiếm 10,38% trong tổng mức và tăng 8,08% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 618.728 triệu đồng, chiếm 6,87% trong tổng mức và tăng 19,57% so với cùng kỳ năm trước.

b) Xuất, nhập khẩu

- Xuất khẩu

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tháng 8 năm 2016 đạt 5.636 ngàn USD, tăng 10% so với số thực hiện tháng trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 4.066 tấn; Sản phẩm từ gỗ (bàn, ghế các loại) 7.030 cái; Ván bóc 74 m3.

Tính chung 8 tháng năm 2016 tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 46.878 ngàn USD tăng 60,31% so với cùng kỳ năm trước; Chia ra: thành phần kinh tế Nhà nước 760 ngàn USD, chiếm 1,62% tổng kim ngạch xuất khẩu; thành phần kinh tế tư nhân 46.118 ngàn USD, chiếm 98,38% tổng kim ngạch xuất khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Cao su thô 27.437 tấn; Sắn và các sản phẩm từ sắn (Tinh bột sắn) 17.101 tấn; Gỗ xẻ các loại 4.730 m3 ; Dây thun cao su 785 tấn; Cà phê nhân 947 tấn; Sản phẩm từ gỗ (bàn, ghế các loại) 128.753 cái. Bánh kẹo các loại 35,9 tấn; Rau củ quả 60,6 tấn; Ván bóc 204,2 m3.

Tình hình hoạt động xuất khẩu trên địa bàn tỉnh 8 tháng năm 2016 tăng so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân: là do một số doanh nghiệp trên địa bàn có hoạt động xuất khẩu đã tìm được thị trường, có đơn đặt hàng và ký kết được hợp đồng xuất khẩu các mặt hàng sang các nước.

- Nhập khẩu

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tháng 8 năm 2016 đạt 150 ngàn USD. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 115 m3.

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn 8 tháng đầu năm 2016 đạt 2.099 ngàn USD giảm 71,24% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu kinh tế tư nhân thực hiện nhập khẩu. Sản phẩm chủ yếu: Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 7.222 m3; Khoá thẻ Adel các loại 490 cái; Chất dẻo nguyên liệu (Precipitated Silica) 80 tấn; cà phê nhân 660 tấn.

Nguyên nhân: Tổng kim ngạch nhập khẩu 8 tháng năm 2016 giảm so với cùng kỳ năm trước, là do: lượng nhập khẩu mặt hàng gỗ giảm mạnh làm cho kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước.

c) Chỉ số giá

Trong tháng 8 năm 2016 chỉ số giá của nhiều nhóm ngành hàng có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước; Các loại hàng hóa, dịch vụ đảm bảo cân đối cung - cầu, giá một số hàng hóa thiết yếu tiếp tục ổn định hoặc giảm nhẹ, giá xăng, dầu trong tháng giảm.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm 2016 giảm 0,23% so với tháng trước; tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước; tăng 1,22% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2016 so với cùng kỳ năm trước tăng 1,05%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 03 nhóm tăng so với tháng trước: nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,36%; nhóm giáo dục tăng 0,17%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,09%. Có 05 nhóm giảm so với tháng trước: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,06%; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,04%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,54%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,13%; nhóm giao thông giảm 1,69%. Có 03 nhóm ổn định so với tháng trước: nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông và nhóm văn hóa giải trí và du lịch.

- Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới với xu hướng tăng so với tháng trước, hiện giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 8/2016 được bán với giá khoảng 3.469.000 đồng/chỉ tăng 5,38% so với tháng trước; Tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch tại mức 22.146 đồng/USD giảm 0,13% so với tháng trước.

d) Vận tải

 - Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 8 năm 2016

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính thực hiện tháng 8 năm 2016 đạt 108.582,83 triệu đồng, giảm 0,98% so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 41.613,04 triệu đồng, tăng      0,45% so với tháng trước; Vận chuyển ước tính đạt 803,43 nghìn lượt khách, tăng 0,47% so với tháng trước; Luân chuyển ước tính đạt 100.315,9 nghìn lượt khách.km, tăng 0,49% so với tháng trước.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 66.563,9 triệu đồng, giảm 1,86% so với tháng trước; Vận chuyển ước tính đạt 799,94 nghìn tấn, giảm 2,01% so với tháng trước; Luân chuyển ước tính đạt 40.047,87 nghìn tấn.km, giảm 1,91% so với tháng trước.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước tính đạt 405,89 triệu đồng, giảm 0,89% so với tháng trước.

Doanh thu vận tải hành khách tăng là do trong tháng các thí sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông đi nhập học các trường đại học, cao đẳng … nên nhu cầu đi lại tăng. Doanh thu vận tải hàng hoá giảm so với tháng trước là do trong tháng trên địa bàn thời tiết mưa nhiều nên hoạt động vận tải hàng hóa phục vụ cho ngành xây dựng giảm nhiều so với tháng trước.

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính 8 tháng năm 2016

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 8 tháng năm 2016 đạt 871.492,93 triệu đồng, tăng 12,9 % so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 328.554,32 triệu đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước; Vận chuyển hành khách ước tính đạt 6.381 nghìn lượt khách, tăng 12,31% ;so với cùng kỳ năm trước. Luân chuyển hành khách ước tính đạt 809.579  nghìn lượt khách.km, tăng 10,45% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 539.645,61 triệu đồng, tăng  12,5%; Vận chuyển hang hóa ước tính đạt 6.406 nghìn tấn, tăng 13,52 % so với cùng kỳ năm trước; Luân chuyển hang hóa ước tính đạt 320.225 nghìn tấn.km, tăng 15,01% so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước tính đạt 3.229,11 triệu đồng, tăng 16,70% so với cùng kỳ năm trước.

5. Một số vấn đề xã hội 

a) Y Tế

- Tình hình dịch bệnh:

Bệnh tay - chân - miệng: Trong tháng ghi nhận 26 ca mắc mới (Đắk Glei 13, Ngọc Hồi 06, Tu Mơ Rông 04, Đắk Tô 03), tăng 4 ca so với tháng trước và tăng 24 ca so với tháng 7/2015. Lũy tích đến 31/7/2016 ghi nhận 185 ca mắc, tăng 133 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Bệnh sốt xuất huyết: Tổng số ca mắc sốt xuất huyết mới ghi nhận trong tháng 690 trường hợp (Đắk Tô 211, Đắk Hà 203, Kon Tum 134, Đắk Glei 73, Ngọc Hồi 30, Sa Thầy 25, Kon Rẫy 11, Kon Plông 3) tăng 68 ca so với tháng trước và tăng 657 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong. Lũy tích đến 31/7/2016 ghi nhận 1.577 ca mắc, tăng 1.533 ca (gấp 35,8 lần) so với cùng kỳ năm trước, 01 trường hợp tử vong.

Bệnh sốt xuất huyết hiện bùng phát trên diện rộng tại tỉnh Kon Tum, nhiều cơ sở y tế trên địa bàn đã quá tải về phòng, giường điều trị bệnh nhân. Tổng số bệnh nhân bị mắc sốt xuất huyết đến ngày 14/8/2016 là 1.944 người mắc, chết 02 người; Trong đó: huyện Đắk Glei 168 người mắc; huyện Đắk Hà 606 người mắc và 01 người chết; huyện Đắk Tô 594 người mắc; huyện Kon Plông 03 người mắc; huyện Kon Rẫy 15 người mắc; huyện Ngọc Hồi 61 người mắc; huyện Sa Thầy 46 người mắc; huyện Tu Mơ Rông 03 người mắc; thành phố Kon Tum 448 người mắc và 01 người chết. Ngành y tế dự phòng đã tổ chức 3 đợt phun hóa chất, kết hợp dọn vệ sinh môi trường tại 141 ổ dịch sốt xuất huyết. Trước nguy cơ dịch sốt xuất huyết bùng phát, tỉnh Kon Tum đã chỉ đạo ngành y tế tăng cường giám sát chặt chẽ tình hình diễn biến dịch bệnh; Phát hiện sớm và xử lý dứt điểm các trường hợp mắc bệnh và ổ bệnh; Nâng cao năng lực điều trị tại các cơ sở y tế, chuyển tuyến kịp thời những ca nặng, tránh tình trạng người bệnh không được chẩn đoán một cách chính xác.

Bệnh thủy đậu: Trong tháng ghi nhận 14 ca mắc mới (Tu Mơ Rông 06, Đắk Tô 1, Sa Thầy 3, Kon Plông 2, Ngọc Hồi 1, Đắk Glei 1), giảm 28 ca so với tháng trước và giảm 7 ca so với tháng 7/2015. Lũy tích đến 31/7/2016 ghi nhận 601 ca mắc, tăng 55 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong.

Bệnh quai bị: Trong tháng ghi nhận 21 ca mắc mới (Ia H’Drai 07, Ngọc Hồi 06, Đắk Glei 02, Đắk Hà 02, Tu Mơ Rông 02, Đắk Tô 01, Kon Rẫy 01), giảm 64 ca so với tháng trước, giảm 32 ca so với 7/2015. Lũy tích đến 31/7/2016, ghi nhận 497 ca mắc, tăng 105 ca so với cùng kỳ năm trước, không có tử vong.

Sốt rét: Trong tháng, ghi nhận 28 ca mắc mới, giảm 9 ca so với tháng trước và giảm 11 ca so với tháng 7/2015. Lũy tích đến 31/7/2016 toàn tỉnh ghi nhận 199 ca mắc, giảm 71 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Tổng số bệnh nhân lao mới phát hiện trong tháng 26 bệnh nhân (AFB (+): 13; AFB(-): 7; lao ngoài phổi: 6), tăng 9 bệnh nhân so với tháng trước. Tổng số bệnh nhân tâm thần mới phát hiện 8 người (tâm thần phân liệt: 4; động kinh: 3; trầm cảm:1).

Trong tháng tình hình mắc các bệnh tay - chân - miệng và bệnh sốt xuất huyết tăng so với tháng trước; không ghi nhận mắc mới các bệnh bạch hầu, cúm A (H5N1, H7N9, H1N1) ở người, Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona (MERS-CoV), bệnh do vi rút Zika.

Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng ghi nhận 02 trường hợp nhiễm HIV, 04 bệnh nhân AIDS, 07 bệnh nhân tử vong. Số lũy tích nhiễm HIV/AIDS tính đến ngày 31/7/2016 là 421 người, trong đó bệnh nhân AIDS 231 người, tử vong 147 người. Tổng số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị thuốc ARV 94 người (người lớn: 88 và trẻ em: 6), điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone cho 96 bệnh nhân.

- An toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, ghi nhận 01 vụ ngộ độc, nghi do ngộ độc nấm (tại thôn Đắk Da, xã Đắk Ring, huyện Kon Plông) với 12 người mắc, không có tử vong, tổng số ca mắc lẻ tẻ 32 ca.

Kiểm tra công tác bảo đảm an toàn thực phẩm tại 279 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh; trong đó: 207 cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm chiếm tỷ lệ 74,2%.

Thanh tra, Kiểm tra đột xuất về an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất nước uống đóng chai, nước đá; Tổng số cơ sở được kiểm tra 24 cơ sở (14 cơ sở sản xuất nước uống đóng chai, 10 cơ sở sản xuất đá dùng liền); số cơ sở được kiểm tra đạt tiêu chuẩn 06 cơ sở; số cơ sở bị xử phạt vi phạm hành chính 06 cơ sở với tổng số tiền phạt 17,5 triệu đồng; số cơ sở tạm ngừng hoạt động 06 cơ sở (đã có 04 cơ sở báo cáo kết quả khắc phục bằng văn bản); số cơ sở đang xem xét 6 cơ sở.

- Khám chữa bệnh: Tình hình bệnh nhân đến khám, chữa bệnh trong tháng tăng so với tháng trước và tăng ở tất cả các tuyến; Tổng số lượt khám, chữa bệnh trên toàn tỉnh 82.186 lượt người, tăng 1,40% so với tháng trước. Số lượt bệnh nhân điều trị nội trú 7.664 lượt người, tăng 7,00% so với tháng trước; công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các bệnh viện đạt 105,00% (tháng trước 114,00%) và Phòng khám Đa khoa khu vực đạt 65,2% (tháng trước 68,5%).

b) Giáo dục

Chiều ngày 12/8/2016, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2015-2016 và công bố Quyết định ngày 25/3/2016 của Bộ GD-ĐT công nhận tỉnh Kon Tum đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015.

Năm học 2015-2016, toàn ngành Giáo dục tỉnh đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ năm học. Quy mô giáo dục, mạng lưới trường lớp ở các cấp học, ngành học tiếp tục được củng cố, mở rộng và phát triển hợp lý, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của học sinh. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đã từng bước đầu tư theo hướng hiện đại, đáp ứng như cầu dạy và học. Đội ngũ thầy cô giáo đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ ngày càng nhiều.

Giáo dục vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các cấp học đã làm tốt công tác huy động học sinh trong độ tuổi ra lớp và duy trì sĩ số học sinh. Công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi có nhiều khởi sắc và tiến bộ. Số lượng học sinh giỏi các cấp tăng và dự thi các kỳ thi Quốc gia đều đạt thành tích cao trong khu vực. Đặc biệt, kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2016 tổ chức tại Kon Tum, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 94,07%, tăng 4,7% so với tỷ lệ tốt nghiệp năm 2015.

c) Hoạt động văn hóa, thể thao

- Văn hóa

Trong 2 ngày, ngày 7 và ngày 8 tháng 8 năm 2016 Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tổ chức Liên hoan Ca khúc cách mạng tỉnh Kon Tum để chào mừng kỷ niệm 25 năm ngày thành lập lại tỉnh Kon Tum (12/8/1991 - 12/8/2016), 71 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2016) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2/9). Tham gia Liên hoan có 11 đoàn với 221 diễn viên đến từ các cơ quan, ban ngành, lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh. Liên hoan ca khúc cách mạng nhằm khẳng định và tôn vinh những thành tựu đạt được của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc tỉnh Kon Tum trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội; ca ngợi Đảng, Bác Hồ, người lính và quê hương đất nước; khơi dậy niềm tự hào về truyền thống của dân tộc Việt Nam...Ban tổ chức đã trao 39 giải thưởng các loại cho các đoàn tham gia Liên hoan; trong đó: 11 giải tập thể (1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba, 5 giải khuyến khích), 28 giải tiết mục (5 giải A, 10 giải B, 10 giải khuyến khích, 3 giải phong trào) với tổng giá trị tiền thưởng 31,4 triệu đồng.

Từ ngày 12 đến 18 tháng 8 năm 2016 UBND thành phố Kon Tum phối hợp với Công ty TNHH Hà Thanh Trí tổ chức Hội chợ Giao thương doanh nghiệp Kon Tum năm 2016. Hội chợ được tổ chức với quy mô hơn 200 gian hàng của 90 doanh nghiệp; trong đó: Kon Tum có 10 doanh nghiệp tham gia với gần 20 gian hàng. Các mặt hàng được bày bán chủ yếu tại hội chợ lần này là đồ gỗ, may mặc, hoá mỹ phẩm, nông sản, đồ dùng gia đình, giống cây trồng…, hầu hết được sản xuất trong nước. Đây là cơ hội để người dân trên địa bàn tỉnh được tham quan, mua sắm các mặt hàng Việt Nam có chất lượng với giá cả phải chăng; đồng thời cũng là dịp để các doanh nghiệp Kon Tum giao lưu trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp trong cả nước. Ban tổ chức Hội chợ đã trao 25 suất quà cho các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của trường tiểu học Nguyễn Văn Cừ (thành phố Kon Tum), mỗi suất trị giá 400.000 đồng.

- Thể thao

Từ ngày 10-16 tháng 8, Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tổ chức Giải bóng chuyền tỉnh Kon Tum lần thứ II-2016. Tham dự giải có 14 đội (9 đội nam và 5 đội nữ) với gần 200 vận động viên đến từ các cơ quan, đơn vị, công ty, lực lượng vũ trang, huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. 9 đội nam chia thành 2 bảng, thi đấu vòng tròn 1 lượt tính điểm, chọn 2 đội nhất, nhì mỗi bảng vào thi đấu vòng bán kết; 2 cặp thắng ở bán kết sẽ gặp nhau ở trận chung kết để tranh chức vô địch. 5 đội nữ thi đấu vòng tròn một lượt tính điểm để xếp hạng nhất, nhì, ba.

Đây là hoạt động thể thao chào mừng kỷ niệm 25 năm ngày thành lập lại tỉnh Kon Tum (12/8/1991-12/8/2016), 71 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc Khánh 2/9; Đồng thời thúc đẩy phong trào rèn luyện thể dục thể thao trong cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân theo gương Bác Hồ vĩ đại.

d) Tình hình an ninh trật tự - an toàn giao thông

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 7/2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 28 vụ (giảm 13 vụ so với tháng trước). Trong đó: Cướp tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản 15 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cố ý gây thương tích 05 vụ, hủy hoại tài sản 01 vụ, hiếp dâm 01 vụ, đánh bạc 01 vụ, môi giới mại dâm 01 vụ, tàng trữ mua bán trái phép chất ma túy 02 vụ. Thiệt hại:  Mất 02 xe mô tô, 03 ĐTDĐ, 448.350.000 đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 670.000.000 đồng. Thu giữ 0,17gam heroin, 01 gói ma túy đá.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 05 vụ (giảm 05 vụ so với tháng trước). Hậu quả: Chết 06 người (giảm 04 người so với tháng trước), hư hỏng 03 xe ô tô, 06 xe mô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 1.579 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 412 phương tiện, 781 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 1.855 trường hợp, thu 916.298.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước

- Tình hình ANTT – ATGT 7 tháng đầu năm 2016

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 238 vụ. Trong đó: Giết người 03 vụ, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ, cố ý gây thương tích 49 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 05 vụ, cố ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản 98 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 03 vụ, cưỡng đoạt tài sản 01 vụ, tàng trữ mua bán trái phép chất ma túy 16 vụ, đánh bạc 17 vụ, gây rối trật tự công cộng 05 vụ, vận chuyển buôn bán hàng cấm 04 vụ, cướp giật tài sản 02 vụ, cướp tài sản 05 vụ, cưỡng đoạt tài sản 02 vụ, trốn khỏi nơi giam giữ 01 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 04 vụ, hiếp dâm 08 vụ (trong đó hiếp dâm trẻ em 05 vụ), giao cấu với trẻ em 04 vụ, môi giới mại dâm 01 vụ, hủy hoại tài sản 07 vụ, tàng trữ  trái phép vũ khí quân dụng 01 vụ. Hậu quả: Chết 04 người, bị thương 56 người. Thiệt hại: mất 30 xe mô tô, 01 ti vi, 24 ĐTDĐ, 02 bộ máy tính để bàn, 02 laptop, 4.199.100.000  đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 1.764.734.000 đồng. Thu giữ: 13 xe mô tô, 19 ĐTDĐ, 01 mã tấu, 3,273 gam  ma túy tổng hợp, 20 gói ma túy, 1,534 gam heroin, 10,45 kg pháo nổ, 1.540 gói thuốc lá, 09 quả pháo, 01 hộp pháo (loại 36 ống) và 75.400.000 đồng tiền mặt.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 46 vụ; Hậu quả: Chết 47 người, bị thương 38 người, hư hỏng 27 xe ô tô, 55 xe mô tô, 01 máy cày.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 11.216 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 3.521 phương tiện, 5.783 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 12.630 trường hợp, thu 4.280.202.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

e) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng xảy ra 02 vụ cháy. Thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 47 triệu đồng; Nguyên nhân do chập điện. Lũy kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 17 vụ cháy, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 2.427 triệu đồng.

F. TIN TỨC- SỰ KIỆN

I. TIN TRONG TỈNH

1. Ngày 5-8, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến tháng 7 với thường trực các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy. Đồng chí Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.

Trong tháng 7, các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy đã quán triệt và xây dựng chương trình thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 1/6/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2016 - 2020, có tính đến năm 2025; tổ chức các hoạt động hè có chất lượng; phối hợp tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2016 và thực hiện công tác tuyển sinh năm học 2016 - 2017. Đảng ủy Quân sự tỉnh, Ban Thường vụ Thành ủy Kon Tum đã chỉ đạo tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ đảm bảo đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Ban Tổ chức Tỉnh ủy phối hợp với Sở Nội vụ tham mưu Thường trực Tỉnh ủy quy trình điều động cán bộ từ khối Đảng, Mặt trận và các đoàn thể cấp huyện sang khối chính quyền và ngược lại. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính Tỉnh ủy và các cơ quan liên quan tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Kết luận số 04 ngày 13/1/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động khai thác, vận chuyển, cất giữ, mua bán lâm sản trái pháp luật…

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Y Mửi ghi nhận những ý kiến, kiến nghị của các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc. Đồng thời, nhấn mạnh các nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong thời gian tới. Đó là: Thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết để chủ động triển khai các biện pháp, kế hoạch phòng, chống thiên tai, lũ lụt; kịp thời có phương án ứng phó, cứu hộ, cứu nạn trong mùa mưa năm 2016. Triển khai các biện pháp phòng, chống các loại dịch bệnh trên người và vật nuôi, nhất là bệnh sốt xuất huyết trong giai đoạn giao mùa như hiện nay. Sớm tổ chức nghiên cứu, quán triệt và xây dựng chương trình thực hiện 3 nghị quyết vừa được Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV thông qua. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị chu đáo nội dung và tổ chức thành công kỳ họp thứ 2 HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021; đại hội đại biểu phụ nữ cấp huyện nhiệm kỳ 2016 - 2021; đại hội Hội Chữ thập đỏ các cấp; đại hội Hội Cựu chiến binh các cấp. Tăng cường lực lượng đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm về hình sự, ma túy, kinh tế và môi trường, quan tâm chỉ đạo việc kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, khai thác khoáng sản, quản lý bảo vệ rừng. Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong việc chỉ đạo kiểm tra, rà soát, xử lý dứt điểm tình trạng các phương tiện giao thông không đảm bảo điều kiện lưu thông trên địa bàn…

2. Sáng 8-8, tỉnh Kon Tum long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 55 năm Thảm họa da cam ở Việt Nam (10/8/1961- 10/8/2016).

Dự lễ kỷ niệm có Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Y Mửi, Thường trực HĐND tỉnh, UBND, UBMTTQVN tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn tỉnh và đông đảo hội viên Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh.

Theo thống kê sơ bộ, trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 8.000 người bị nhiễm chất độc da cam, trong đó có gần 1.000 người trực tiếp chiến đấu ở chiến trường và con đẻ của người trực tiếp chiến đấu ở chiến trường do ảnh hưởng chất độc da cam hiện đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng. Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Hội Nạn nhân chất độc da cam/ dioxin tỉnh phối hợp với các ngành liên quan tham mưu tích cực cho các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể chung tay góp sức giải quyết hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

Với sự giúp đỡ nhiệt tình của hơn 600 lượt tập thể, cá nhân, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong và ngoài tỉnh, với số tiền gần 4 tỷ đồng, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh đã thực hiện hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà tình thương, thăm và tặng quà cho nạn nhân và gia đình nạn nhân nhân ngày Vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, các ngày lễ, tết và hỗ trợ cho một số nạn nhân có hoàn cảnh khó khăn đi khám chữa bệnh. Tuy nhiên, đời sống của một bộ phận nạn nhân chất độc da cam trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn.

Tại Lễ kỷ niệm, có 84 đơn vị, tập thể đăng ký ủng hộ Quỹ Nạn nhân chất độc da cam của tỉnh, với số tiền hơn 1,4 tỷ đồng.

Nhân dịp này, Tỉnh ủy – HĐND – UBND – UBMTTQVN tỉnh  đã tặng 20 suất quà, mỗi suất 1 triệu đồng cho 20 gia đình nạn nhân chất độc da cam có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. UBND tỉnh trao 9 Kỷ niệm chương, 6 Bảng tri ân tấm lòng vàng, 6 Bằng khen của Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin và trao 45 Bằng khen của UBND tỉnh  cho 15 tập thể, 30 cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua Vì nạn nhân da cam/dioxin.

3. Kỳ họp thứ 2 HĐND tỉnh khóa XI: Biểu quyết thông qua 13 Nghị quyết quan trọng

Kỳ họp diễn ra trong hai ngày (10 và 11-8), dưới sự chủ trì của Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Văn Hùng.

Báo cáo của UBND tỉnh về tình hình phát triển KT-XH, QPAN 6 tháng đầu năm cho biết, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần trách nhiệm cao của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và toàn dân nên kinh tế của tỉnh vẫn tăng trưởng 5,03% so với cùng kỳ năm trước; giá trị sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng khá; xuất khẩu cơ bản đạt kế hoạch; sản phẩm chủ lực của tỉnh được chú trọng đầu tư phát triển; thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc; công tác chống hạn, phá rừng, khai thác tài nguyên, khoáng sản trái phép được quan tâm chỉ đạo tích cực; tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 thực hiện tốt; an sinh xã hội được quan tâm; QPAN giữ vững, TTATXH đảm bảo; đối ngoại địa phương ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, thu ngân sách nhà nước đạt thấp so với cùng kỳ năm trước; sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn; khai thác lâm sản trái phép vẫn còn phức tạp, xây dựng trái phép chưa được ngăn chặn triệt để; sản xuất kinh doanh còn gặp khó khăn... Phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2016 được xác định: Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu ngân sách; đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; tiếp tục cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào địa bàn tỉnh; tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân; triển khai thực hiện tốt kế hoạch, phương án đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và tăng cường công tác đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực.

Tại kỳ họp này, cùng với việc xem xét, cho ý kiến vào báo cáo công tác 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2016 của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, UBND tỉnh và một số cơ quan tư pháp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, các đại biểu dành nhiều thời gian thảo luận và biểu quyết thông qua 13 nghị quyết với đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng năm 2016 và cho những năm tiếp theo.

Phát biểu bế mạc kỳ họp, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh: 13 nghị quyết đã được thông qua là cơ sở pháp lý, đồng thời có khá đầy đủ nhiệm vụ, giải pháp để UBND tỉnh, các cấp, các ngành khẩn trương xem xét, rà soát, làm rõ nguyên nhân các mục tiêu, chỉ tiêu không đạt để từ đó có giải pháp cụ thể, quyết liệt khắc phục, đảm bảo hoàn thành ở mức cao nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 đã đề ra.

Trước mắt, UBND tỉnh cần chỉ đạo quyết liệt hơn nữa công tác quản lý bảo vệ rừng, phục hồi rừng bền vững và chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, không chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cây công nghiệp theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; tăng cường công tác phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai; di dời dân ra khỏi các điểm có nguy cơ sạt lở, tránh để bị động, bất ngờ và giảm thấp nhất thiệt hại. Các ngành, địa phương phải làm tốt công tác chuẩn bị và triển khai các nhiệm vụ của năm học mới 2016 -2017; tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, xử lý nghiêm các hành vi gian lận thương mại, buôn bán thực phẩm kém an toàn; chủ động phòng ngừa không để lây lan dịch bệnh trên diện rộng…

* 13 Nghị quyết được thông qua tại kỳ họp: (1) Nghị quyết về chương trình giám sát 6 tháng cuối năm 2016 và năm 2017 của HĐND tỉnh. (2) Phương hướng, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh 6 tháng cuối năm 2016. (3) Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối. (4) Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Kon Tum đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. (5) Quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Kon Tum đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. (6) Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Kon Tum giai đoạn 2016-2025, có xét đến 2035. (7) Ban hành thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh. (8) Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, có tính đến năm 2025. (9) Đề án thu phí sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng (đối với phương tiện ra vào cửa khẩu) trong Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y. (10) Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum. (11) Chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh. (12) Quy định mức thu học phí giáo dục công lập năm học 2016-2017 trên địa bàn tỉnh Kon Tum. (13) Nghị quyết về việc chấm dứt hiệu lực thi hành khoản 3 Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Nghị số 01/2007/NQ-HĐND ngày 27/3/2007 của HĐND tỉnh về điều chỉnh và ban hành mới các loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh.

4. Chiều 26-8, UBND tỉnh đã long trọng tổ chức Lễ công bố Quyết định và đón nhận Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ.

Dự buổi lễ về phía trung ương có Thứ trưởng Bộ KH&CN, kiêm Cục trưởng Cục Sở hữu-Trí tuệ (Bộ KH&CN) Trần Việt Thanh; về phía tỉnh Kon Tum có Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Y Mửi, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa; Thường trực HĐND- UBND-UBMTTQVN tỉnh; đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; nguyên lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh; lãnh đạo Sở KHCN tỉnh Quảng Nam và Gia Lai; các cơ quan nghiên cứu, nhà khoa học, nhà sản xuất Sâm Ngọc Linh; và đông đảo phóng viên báo chí Trung ương và địa phương cùng tham dự.

Báo cáo tóm tắt tại buổi Lễ, Giám đốc Sở KH&CN Trần Thị Tuyết cho biết: Cây Sâm Ngọc Linh là loài cây thuốc “giấu” của đồng bào Xê Đăng, được Đoàn điều tra dược liệu của Ban dân y Khu V phát hiện năm 1973 tại núi Ngọc Linh thuộc hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam; đến năm 1985, sâm Ngọc Linh được xác định là một loài mới, đặc hữu của hệ thực vật Việt Nam, thuộc chi Panax L., họ nhân sâm (Araliaceae) và đặt tên khoa học là Panax vietnamensis Ha et Grushv. Hiện nay, cây sâm Ngọc Linh trong tự nhiên hầu như bị khai thác cạn kiệt, có nguy cơ tuyệt chủng và thuộc 250 loài quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam.

Nhận thức về giá trị kinh tế, xã hội, khoa học và môi trường của cây sâm Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum đã xác định đây là cây hàng hóa chủ lực có lợi thế cạnh tranh cao trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; trong những năm qua, tỉnh đã phối hợp với các nhà khoa học triển khai nhiều đề tài, dự án nghiên cứu việc bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh.

Sau nhiều năm hoàn thiện các thủ tục pháp lý, ngày 16/8/2016 Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã có Quyết định số 3235/QĐ-SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00049 cho sản phẩm sâm củ Ngọc Linh tại khu vực địa lý các xã Măng Ri, Ngọc Lây, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum và xã Trà Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Các xã này thuộc núi Ngọc Linh ở độ cao từ 1.800 đến 2.500m. Đơn vị tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý là Sở Khoa học và Công nghệ hai tỉnh Kon Tum, Quảng Nam.

Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý sản phẩm Sâm củ Ngọc Linh thể hiện rõ tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm; đặc thù về điện kiện địa lý; quy trình kỹ thuật sản xuất; chỉ dẫn địa lý này được bảo hộ vô thời hạn trên lãnh thổ Việt Nam kể từ ngày ký. Trong đó, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bản chính văn bằng công nhận Chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ tỉnh Kon Tum và cấp Phó bản văn bằng Chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ tỉnh Quảng Nam.

Việc sâm củ được cấp chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” mở ra nhiều triển vọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Về lâu dài có thể đưa sản phẩm sâm Ngọc Linh ra thị trường trong và ngoài nước với quy mô lớn mà không mất đi nguồn gốc địa lý, tính đặc thù về chất lượng sản phẩm, tên gọi, xuất xứ đảm bảo củ sâm Ngọc Linh là hàng hóa chiến lược của Việt Nam nói chung và cây đặc hữu của núi rừng Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum nói riêng.

Hiện tỉnh Kon Tum đã trồng được trên 320 ha sâm, quy hoạch vùng trồng sâm đến năm 2020 đạt 1.000 ha và đến năm 2025 đạt 9.343,6 ha.

Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Việt Thanh lưu ý, việc chỉ dẫn địa lý sâm Ngọc Linh nằm trên phạm vi của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc quản lý và trong hoạt động sản xuất, thương mại sản phẩm nhằm duy trì danh tiếng, uy tín về chất lượng của sản phẩm trên thị trường. Vì vậy, để hiệu quả trong quản lý chỉ dẫn địa lý sâm Ngọc Linh trong thời gian tới, tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Nam cần có sự trao đổi, thống nhất về phương án tổ chức và quản lý, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền sử dụng, các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, tổ chức kiếm soát… nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người dân ở hai địa phương; việc kiểm soát hoạt động sản xuất đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi hoạt động quản lý cần có những giải pháp cụ thể vừa đảm bảo kiểm soát được nguồn gốc, chất lượng sản phẩm nhưng cũng phải duy trì sự ổn định của hệ sinh thái; nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp về công nghệ trong việc trồng và chế biến sản phẩm; tỉnh cần có những đầu tư hợp lý trong thời gian tới nhằm giúp người dân có những giải pháp để có thể nâng cao sản lượng, duy trì chất lượng và tiếp cận hiệu quả vào thị trường.

Thứ trưởng Trần Việt Thanh cho biết thêm: Đối với sản phẩm sâm Ngọc Linh, Bộ KH&CN đã phê duyệt dự án đầu tư 567 tỷ đồng trong giai đoạn 2014-2024 nhằm xây dựng sâm Ngọc Linh trở thành sản phẩm quốc gia; mong rằng với dự án này, sâm Ngọc Linh sẽ phát huy được tối đa giá trị, mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp, người dân sản xuất, kinh doanh trên địa bàn 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam và người tiêu dùng trên cả nước. Bộ KH&CN luôn đồng hành cùng với các địa phương, hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp hoạt động, hình thành những doanh nghiệp khởi tạo trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó có các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các đặc sản đã được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Phát biểu tại buổi Lễ, thay mặt Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hòa biểu dương những nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp tỉnh Kon Tum và sự quan tâm giúp đỡ của Bộ KH&CN, Cục Sở hữu trí tuệ và các ngành liên quan trong việc xây dựng thành công chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ, góp phần nâng cao vị thế, sức cạnh tranh của sâm Ngọc Linh trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho đồng bào các dân tộc sống trong vùng núi Ngọc Linh của tỉnh Kon Tum.

Chủ tịch Nguyễn Văn Hòa nhấn mạnh: Việc sản phẩm sâm củ Ngọc Linh được cấp Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý vừa là niềm tự hào đồng thời cũng gắn liền với trách nhiệm gìn giữ và quảng bá danh tiếng, chất lượng sản phẩm của các cấp chính quyền, các nhà quản lý và người dân Kon Tum. Vì vậy, đề nghị thời gian tới các cấp, các ngành cần tập trung đẩy mạnh công tác quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động thương mại có tính quảng bá cao nhằm mục đích xây dựng, củng cố uy tín, hình ảnh, tên tuổi của sâm Ngọc Linh trên thị trường trong và ngoài nước, mở ra một tiềm năng phát triển kinh tế mới cho tỉnh Kon Tum, cho các ngành sử dụng nguyên liệu chế biến dược phẩm từ sâm. Xây dựng hệ thống văn bản làm cơ sở cho hoạt động quản lý chỉ dẫn địa lý; Tập trung triển khai thực hiện tốt quy hoạch phát triển sâm Ngọc Linh tỉnh Kon Tum giai đoạn 2012 - 2020, tầm nhìn đến năm 2025 gắn với quản lý phát triển chỉ dẫn địa lý Ngọc Linh; hướng đến việc tạo thương hiệu quốc gia về sâm Ngọc Linh. Từ các giải pháp tích cực, thiết thực và đồng bộ, tỉnh Kon Tum sẽ phát triển cây sâm Ngọc Linh trở thành một vùng chuyên canh sản xuất với số lượng lớn tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống của nhân dân. Mong muốn các nhà quản lý, các nhà khoa học, các doanh nghiệp tiếp tục giúp Kon Tum phát triển cây sâm Ngọc Linh tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh.

Tại buổi Lễ, thay mặt Bộ KH&CN, Thứ trưởng Trần Việt Thanh đã trao Quyết định và Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ cho lãnh đạo tỉnh Kon Tum.

II. TIN TRONG NƯỚC

1. Một số kết quả quan trọng kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XIV

Sau 8 ngày làm việc (từ ngày 20 đến 29/7/2016), với tinh thần tích cực, khẩn trương, trách nhiệm cao, kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XIV đã thành công tốt đẹp. Tại Kỳ họp này, các đại biểu Quốc hội đã xem xét, quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước:

(1) Xem xét, quyết định cơ cấu tổ chức, bầu và phê chuẩn nhân sự cấp cao của các cơ quan nhà nước đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện và đúng quy trình, thủ tục (theo quy định của pháp luật):

- Bầu Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm: Chủ tịch Quốc hội, 4 Phó Chủ tịch Quốc hội, và 13 Ủy viên; bầu Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm 9 Ủy ban của Quốc hội, Tổng thư ký Quốc hội, Tổng kiểm toán nhà nước.

- Bầu Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ. Bầu Thủ tướng Chính phủ; phê chuẩn việc bổ nhiệm 05 Phó Thủ tướng Chính phủ (01 Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao), 17 Bộ trưởng và 4 Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Sau khi được Quốc hội bầu, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã thực hiện thủ tục tuyên thệ, thể hiện mạnh mẽ sự quyết tâm hoàn thành trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

(2) Quốc hội cho ý kiến về Báo cáo bổ sung kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội năm 2015 và những tháng đầu năm 2016 của Chính phủ; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2014 và đặc biệt lưu ý Chính phủ tăng cường chỉ đạo, có giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt hơn để khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước, giảm bội chi, bảo đảm an toàn nợ công.

(3) Trên cơ sở phân tích kỹ tình hình thực tế những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội đang được cử tri đặc biệt quan tâm, Quốc hội đã quyết định Chương trình hoạt động giám sát năm 2017 với hai chuyên đề: “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011- 2016” và “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2016”, đồng thời quyết định thành lập Đoàn giám sát để tiến hành giám sát hai chuyên đề đã được lựa chọn.

(4) Đánh giá, rút kinh nghiệm sâu sắc việc triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong nhiệm kỳ khóa XIII, Quốc hội đã xem xét kỹ lưỡng các đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh và thông qua Nghị quyết về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017. Trong đó, Quốc hội xác định về thứ tự ưu tiên các dự án luật cần ban hành và quyết tâm tập trung thực hiện, đảm bảo tiến độ, tránh tình trạng phải điều chỉnh.

Quốc hội kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết dân tộc, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, góp phần đưa đất nước phát triển toàn diện, vững chắc, đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng.

2. Chính phủ tăng cường công tác chỉ đạo khắc phục hậu quả do cơn bão số 1, 2 và 3 gây ra

Cơn bão số 1, hoàn lưu cơn bão số 2 và cơn bão số 3 vừa qua đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền núi phía Bắc, gây thiệt hại lớn về người, sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống lưới điện, đường giao thông, nhà cửa và cây xanh. Tính đến ngày 31/7/2016, bão số 1 đã làm 4 người chết, 3 người mất tích và 21 người bị thương, 16.808 cột điện bị gãy, đổ (riêng Nam Định 14.200 cột); 32.000 ngôi nhà bị tốc mái, hư hỏng, 5.620 nhà bị ngập nước, 88 nhà bị sập hoàn toàn; 215.000 ha lúa bị ngập úng, hơn 15.000 ha cây trồng lâu năm, cây ăn quả bị phá huỷ, 60.000 cây xanh bị đổ, gãy; gần 80.000 gia súc, gia cầm bị chết, cuốn trôi; 91 tàu thuyền bị nhấn chìm, hư hỏng, gần 13.000 lồng bè nuôi trồng thủy sản với gần 9.000 ha bị ảnh hưởng. Ước tính tổng thiệt hại ban đầu trên 3.400 tỉ đồng.

Theo thống kê của Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Lào Cai, tính đến ngày 05/8/2016, mưa lũ, sạt lở đất do hoàn lưu cơn bão số 2, đã làm chết 3 người, mất tích 7 người (Sa Pa 1 người, Bát Xát 6 người) và làm 1 người bị thương nặng. Mưa lũ cũng làm sập đổ hoàn toàn 8 ngôi nhà; làm ngập 450 ngôi nhà và làm tốc mái 185 ngôi nhà. Ngoài ra, mưa lũ làm thiệt hại 400,23 ha hoa màu, 8,8 ha rừng gãy đổ và 15 ha ao nuôi thủy sản bị vỡ…

Về cơn bão số 3, tính đến ngày 20/8/2016, mưa lớn và hoàn lưu bão số 3 gây ra đã làm 3 người chết, 1 người mất tích, 4 người bị thương; 13 nhà bị đổ sập, cuốn trôi; hơn 500 nhà bị tốc mái, hư hại, ngập nước. Khoảng 5.844 ha lúa và hoa màu bị ngập úng; 595 ha cây trồng lâu năm bị thiệt hại; 251 cây bóng mát, cây xanh đô thị bị gãy đổ và 63 cột điện bị gãy, đổ.

Ngay sau mỗi cơn bão, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã sớm chỉ đạo và trực tiếp đi thị sát thực tế, chỉ đạo quyết liệt công tác khắc phục các hậu quả do mưa bão, lũ gây ra, cụ thể là:

(1) Yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai huy động mọi lực lượng, phương tiện tập trung nỗ lực cao nhất tìm kiếm, cứu nạn người còn mất tích; tổ chức thăm hỏi, động viên các gia đình bị thiệt hại, hỗ trợ, cứu chữa người bị thương, mai tang chu đáo cho người thiệt mạng; bố trí chỗ tạm cho các hộ bị mất nhà cửa, cứu trợ lương thực, nhu yếu phẩm, đảm bảo không để người dân bị đói…

(2) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng Công ty Điện lực miền Bắc cùng các địa phương tập trung cao về nhân lực, vật lực để tiêu úng kịp thời cho khoảng 11.000 ha lúa vẫn còn đang bị ngập sâu; triển khai phương án gieo trồng bổ sung đối với diện tích lúa bị thiệt hại, tinh thần là không được để đất trống; tập trung khắc phục diện tích nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là khoảng 2.200 ha diện tích nuôi ngao của tỉnh Thái Bình, Nam Định; giao Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định khẩn trương lập phương án xử lý khẩn cấp đảm bảo an toàn cho tuyến đê hữu sông Hồng thuộc huyện Nam Trực tỉnh Nam Định.

(3) Chính phủ xuất quỹ dự phòng quốc gia để hỗ trợ cho 4 tỉnh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình) 620 tấn lúa giống, 230 tấn ngô giống và 24 tấn hạt rau.

(4) Yêu cầu Bộ Công thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam tiếp tục tập trung nguồn lực, khắc phục nhanh hệ thống lưới điện nhằm đảm bảo cung cấp điện ổn định phục vụ sản xuất, đời sống sinh hoạt cho người dân vùng ảnh hưởng của bão.

(5) Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các địa phương và các cơ quan có liên quan sớm tổng kết, rút kinh nghiệm về cơn bão số 1,2 và 3, đánh giá cụ thể những mặt được, chưa được trong công tác dự báo, cảnh báo, thông tin, chỉ đạo, ứng phó để kịp thời khắc phục những hạn chế, đồng thời nâng cao năng lực dự báo nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của xã hội, sát với thực tế nhất là trong những tình huống thiên tai diễn biến bất thường, phức tạp.

3. Một số giải pháp tăng cường công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin

Những năm gần đây, sự phát triển khoa học - công nghệ ở Việt Nam đã đem lại nhiều tiện ích cho người dân, nhất là các tiện ích mang lại từ internet, máy tính, điện thoại di dộng. Tính đến cuối năm 2015, Việt Nam có 120.607.726 thuê bao di động, có 36,28 triệu thuê bao internet băng thông rộng, tỷ lệ người dùng Internet đạt 52% dân số. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ ứng dụng công nghệ thông tin, các cuộc tấn công, xâm nhập trái phép vào hệ thống mạng của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân để phá hoại hoặc thu thập lấy cắp thông tin ngày càng gia tăng. Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT), từ tháng 12-2014 đến tháng 12-2015, đã có 31.585 sự cố an ninh thông tin tại Việt Nam, gồm 5.898 sự cố tấn công lừa đảo, 8.850 sự cố tấn công thay đổi giao diện và 16.837 sự cố cài mã độc. Mới đây nhất, ngày 29/7/2016, Hacker đã tấn công hệ thống công nghệ thông tin của Vietnam Airlines tại sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất, chiếm quyền kiểm soát trang mạng chính thức của Vietnam Airlines và chuyển sang trang mạng xấu ở nước ngoài. Dữ liệu của trên 400.000 hội viên khách hàng thường xuyên của Vietnam Airlines đã bị công bố.

Để công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin có hiệu quả hơn, các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về an toàn thông tin mạng của toàn xã hội, trực tiếp là các cá nhân, tổ chức sử dụng internet trong giao dịch.

Thứ hai, các cơ quan chuyên môn về công nghệ thông tin tăng cường công tác dự báo, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những đợt tấn công của tin tặc vào Việt Nam; VNCERT cần đẩy mạnh công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, cần có biện pháp hỗ trợ trực tuyến 24/24 giờ tới các bộ, ngành từ Trung ương và địa phương để ngăn chặn, xử lý kịp thời những nguy cơ tấn công từ bên ngoài qua internet, bảo đảm an ninh quốc gia.

Thứ ba, Chính phủ tập trung ưu tiên hỗ trợ, tạo điều kiện để lĩnh vực khoa học công nghệ cao của nước ta phát triển mạnh mẽ hơn, đặc biệt là khâu làm chủ hệ thống mạng, thiết bị công nghệ cao nhằm kiểm soát tốt những nguy cơ gây hại có thể xảy ra.

Thứ tư, các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát, nghiên cứu và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý vững chắc, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

4. Tăng cường công tác triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm y tế

Trong thời gian qua, công tác Bảo hiểm y tế (BHYT) của nước ta đạt được nhiều kết quả quan trọng: không những tạo ra sự thay đổi hiệu quả về cơ chế, chính sách tài chính y tế mà còn tác động đến nhiều mặt của hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân. Đối tượng tham gia BHYT ngày càng được mở rộng và tăng dần số lượng. Năm 2009 – năm đầu tiên Luật BHYT có hiệu lực, cả nước có khoảng 50 triệu người tham gia BHYT, đến nay số người tham gia là 70,8 triệu người. Quyền lợi của người tham gia BHYT ngày càng đầy đủ hơn. Mỗi năm đã có hơn 130 triệu lượt người được khám chữa bệnh theo chế độ BHYT và Quỹ BHYT đã đóng góp hơn 70% nguồn tài chính trực tiếp dành cho khám chữa bệnh. Đáng chú ý là, có sự dịch chuyển ở các nhóm đối tượng tham gia BHYT. Đối tượng được ngân sách nhà nước đóng có xu hướng giảm, trong khi đối tượng cá nhân tự đóng tăng. Điều này thể hiện nhận thức của người dân về sự cần thiết của BHYT đang có sự chuyển biến rõ rệt. Cơ sở khám chữa bệnh BHYT ngày càng được mở rộng, cả khu vực công lập và tư nhân… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách BHYT còn có khó khăn, vướng mắc trong phát triển đối tượng tham gia BHYT. Lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế chưa bảo đảm sự công bằng giữa những người bệnh có thẻ BHYT và người chưa tham gia BHYT, chưa tạo được động lực khuyến khích người dân tham gia BHYT. Chưa có giải pháp phù hợp để đảm bảo quyền lợi được tham gia BHYT cho các đối tượng sinh sống ở các vùng ven biển và hải đảo thuộc diện vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Để BHYT phát huy hiệu quả ngày càng cao trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và đạt mục tiêu hơn 90% dân số có BHYT vào năm 2020 cần tổ chức, triển khai thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền về tính ưu việt, nhân văn của BHYT, tham gia BHYT góp phần chia sẻ và giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người khi ốm đau, đồng thời tạo nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt động y tế, thực hiện công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

Thứ hai, Bộ Y tế chỉ đạo các bệnh viện đẩy nhanh việc kết nối liên thông toàn bộ hệ thống khám chữa bệnh trong toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám chữa bệnh cũng như quyền lợi của người tham gia BHYT được bảo đảm; cơ sở khám chữa bệnh phải xây dựng và quán triệt đầy đủ nội quy hoạt động để các bác sỹ và nhân viên y tế có tinh thần, thái độ phục vụ chu đáo người tham gia BHYT đến khám bệnh, chữa bệnh, không phân biệt đối với người bệnh khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện khám chữa bệnh của các bệnh viện.

Thứ ba, cơ quan BHYT phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách để huy động tối đa sự tham gia BHYT đối với các đối tượng do ngân sách nhà nước đóng ổn định, phấn đấu đến năm 2017 có 100% đối tượng học sinh, sinh viên tham gia và đến năm 2018 đạt 100% số quân nhân, cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang tham gia BHYT. 

5. Một số kết quả thực hiện quản lý đầu tư và công tác giám sát, đánh giá đầu tư năm 2015

- Về quản lý các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước: Năm 2015, cả nước có 13.705 dự án có kế hoạch lập hồ sơ phê duyệt chủ trương đầu tư. Trong đó, đã được thẩm định 12.470 dự án (đạt 91% so với kế hoạch), được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương là 10.755 dự án (đạt 78,5% so với kế hoạch).

Có 29.506 dự án thực hiện đầu tư; 12.491 dự án kết thúc đầu tư đưa vào khai thác sử dụng (chiếm 42,3% số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ); 926 dự án chậm tiến độ (chiếm 3,1% số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ); 1.106 dự án thực hiện đầu tư trong năm phải điều chỉnh (chiếm 3,8% tổng số dự án thực hiện trong kỳ).

Trong năm 2015, kế hoạch vốn nhà nước cho các cơ quan là 523.687 tỉ đồng, đã bố trí trả nợ đọng xây dựng cơ bản 26.696 tỉ đồng (số nợ đọng còn lại là 39.951 tỉ đồng), còn thực hiện đầu tư là 496.991 tỉ đồng; tổng khối lượng đầu tư thực hiện là 490.696 tỉ đồng (đạt 98,8% so với kế hoạch).

- Về quản lý các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP): Có 161 dự án theo hình thức PPP thực hiện các thủ tục đề xuất dự án; 80 dự án có quyết định đầu tư, 77 dự án hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư, 49 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, 45 dự án hoàn tất thủ tục về Hợp đồng dự án. Tổng vốn đầu tư của các dự án PPP theo kế hoạch là 97.952 tỉ đồng; tổng giá trị thực hiện là 51.406 tỉ đồng (đạt 52,5% so với kế hoạch).

- Về quản lý các dự án đầu tư sử dụng các nguồn vốn khác: Có 2.460 dự án nộp hồ sơ đề nghị phê duyệt chủ trương đầu tư, 2.190 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, 1.052 dự án được điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Số dự án thực hiện đầu tư trong năm là 3.592 dự án; tổng vốn đầu tư đăng ký là 506.495 tỉ đồng, tổng vốn đầu tư đã thực hiện là 172.742 tỉ đồng (đạt 34%).

- Về giám sát đầu tư của cộng đồng: Có 10.861 dự án đã được cộng đồng giám sát, trong đó có 261 dự án có phát hiện vi phạm; 1.413 dự án chưa được cộng đồng giám sát, trong đó có 611 dự án do các cơ quan, chủ đầu tư chưa công khai thông tin.

- Về công tác giám sát, đánh giá đầu tư: Có 24.849 dự án trên tổng số 29.506 dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước thực hiện đầu tư trong kỳ thực hiện báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư (đạt tỉ lệ 84,2%); các cơ quan quản lý nhà nước đã tiến hành kiểm tra 10.380 dự án (chiếm 35,2% tổng số dự án thực biện đầu tư trong kỳ), tổ chức đánh giá 8.843 dự án (chiếm 30% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ).

Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện quản lý đầu tư và công tác giám sát, đánh giá đầu tư năm 2015 còn một số hạn chế, tồn tại: Mặc dù Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo quyết liệt, song nhiều dự án vẫn chậm tiến độ, tỉ lệ các dự án phải điều chỉnh còn khá cao. Tỉ lệ thực hiện vốn đầu tư và số dự án hoàn thành các thủ tục quyết toán trong thời gian qua còn thấp. Một số địa phương có số nợ đọng xây dựng cơ bản chưa thanh toán tương đối cao (từ 1.067 - 5.711 tỉ đồng). Công tác kiểm tra, đánh giá đầu tư các dự án từ các nguồn vốn khác còn hạn chế. Chất lượng báo cáo của một số chủ đầu tư gửi đến các bộ, ngành, địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều chủ đầu tư không báo cáo theo quy định hoặc có báo cáo nhưng mang tính hình thức. Một số cơ quan chưa cập nhật được thông tin tổng hợp trên Hệ thống thông tin. Một số nghị định, hướng dẫn thực hiện Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp năm 2015 chưa được ban hành kịp thời cũng đã phần nào ảnh hưởng tới việc đầu tư.

III. TIN THẾ GIỚI

1. Phán quyết của Tòa Trọng tài vụ Phi-lip-pin kiện Trung Quốc có tác động như thế nào đến nước ta

Ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài vụ Phi-lip-pin kiện Trung Quốc đã ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện. Sự việc này đã tác động rất lớn đến nước ta:

- Những tác động tích cực.

 Thứ nhất, Phán quyết của Tòa đã thu hẹp các tranh chấp mà Trung Quốc cố tình tạo ra ở Biển Đông. Giá trị lớn nhất của Phán quyết là bác bỏ cái gọi là “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Phán quyết đã mang lại cho Việt Nam nhiều thuận lợi, bởi cái gọi là “đường lưỡi bò” và qui chế cấu trúc các đảo, đá mà Trung Quốc dựa vào đó làm cái cớ để đòi quyền lợi đã bị Tòa bác bỏ; và vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và thềm lục địa mở rộng hợp pháp của Việt Nam được Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) công nhận. Việt Nam có căn cứ pháp lý để đấu tranh và tìm kiếm sự ủng hộ của dư luận quốc tế.

Thứ hai, phán quyết của Tòa Trọng tài với một số thực thể mà Phi-líp-pin đề xuất cũng góp phần thu hẹp tranh chấp và gợi mở cho các bên tiếp tục công cuộc đấu tranh loại bỏ cái gọi là “đường lưỡi bò” phi pháp mà Trung Quốc tự đặt ra bằng con đường pháp lý. Bởi lẽ, để hiện thực hóa đường lưỡi bò, Trung Quốc sẽ tìm cách áp đặt yêu sách 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Sca-bô-râu và bãi ngầm Macclesfield.

 Thứ ba, Phán quyết đã tạo thêm căn cứ pháp lý vững chắc, góp phần củng cố niềm tin chiến lược giữa các quốc gia trong ASEAN đã từng bị rạn nứt trước sức ép của Trung Quốc; đồng thời giúp cho quá trình đàm phán để ký Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) có thể vượt qua được trở ngại khi bàn đến phạm vi áp dụng của COC mà rào cản chính là sự tồn tại của yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý.

- Những tác động tiêu cực: Ngay sau khi Tòa Trọng tài ra Phán quyết, Trung Quốc đã ra tuyên bố không chấp nhận Phán quyết và đang triển khai mạnh mẽ các hoạt động gây hấn cả trên phương diện ngoại giao lẫn ngoài thực địa để tìm cách vô hiệu hóa Phán quyết của Tòa. Vì vậy, điều này, có thể gây cho chúng ta những tình huống phức tạp sau:

Về đối nội: Các thế lực chống đối, phần tử cực đoan đã và đang khai thác sự kiện này để kích động dư luận, gây chia rẽ nội bộ với các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật.

Về đối ngoại: Việt Nam là nước trong khối ASEAN có tuyên bố sớm nhất của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao, ngay sau khi Tòa Trọng tài công bố Phán quyết, được dư luận quốc tế đánh giá cao. Tuyên bố này đã thể hiện lập trường nhất quán, trước sau như một của Việt Nam về vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm cố tình xuyên tạc, kích động, cho rằng Việt Nam và Trung Quốc “ngầm thỏa thuận” để không đẩy nóng và làm căng thẳng tình hình Biển Đông, không để cho Mỹ có cơ hội can thiệp.

Trên thực địa, Trung Quốc đang gia tăng nhiều hoạt động gây căng thẳng trên Biển Đông như: ngăn cản hoạt động của ngư dân Việt Nam; triển khai tập trận quy mô lớn, đưa nhiều máy bay tàu chiến xuống Biển Đông; tạo hiệu ứng bức xúc trong dư luận… Đây là những khó khăn mà Việt Nam đang phải đối phó.

2. Một số tình hình thế giới đáng chú ý thời gian gần đây

- Trung Quốc công khai nhiều tuyên bố phi lý về chủ quyền của họ tại Biển Đông: Cơ quan Dữ liệu biển Quốc gia và Dịch vụ thông tin (NMDIS) Trung Quốc  đã công khai một trang web gồm 10 mục chứa các tư liệu và bản đồ không chính xác về Biển Đông nhằm tuyên truyền sai lệch về cái gọi là “sự thật về chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông”. Trước sự việc trên, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ: “Việc làm này của phía Trung Quốc không thể thay đổi được thực tế là Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Sau Phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế vụ Phi-lip-pin kiện Trung Quốc, ngày 01/8/2016, Trung Quốc thông báo đã hoàn thành xây dựng một nghĩa trang trên đảo Quang Hòa Đông thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, nhằm tưởng niệm “18 liệt sỹ Trung Quốc hy sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974” (theo cách gọi của Trung Quốc). Đáng chú ý là, nghĩa trang có dựng bia tưởng niệm cao 9,8m, phía sau ghi lại trận chiến Hoàng Sa “ngày 19/1/1974 chính quyền Việt Nam lúc đó đã bất chấp cảnh báo của Trung Quốc, đã cho tàu chiến và máy bay xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, quân đội Trung Quốc ngay lập tức phản kích tự vệ, bắn chìm 01 tàu hộ vệ và bắn làm hư 03 tàu khu trục của phía Việt Nam, thu hồi 3 đảo”. Về vấn đề này, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa. Mọi hoạt động của các bên tại các khu vực thuộc quần đảo Hoàng Sa dù dưới bất kỳ mục đích gì đều là phi pháp và không làm thay đổi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”.

- Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) lần thứ 48 và các hội nghị liên quan tổ chức từ ngày 03 đến 06/8/2016 tại Thủ đô Viêng Chăn (Lào). Đây là sự kiện thường niên quan trọng để Bộ trưởng Kinh tế của 10 nước ASEAN và các đối tác (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, New Zealand, Hoa Kỳ, Nga, Canada, Hồng Công) trao đổi về tình hình hợp tác kinh tế trong nội khối ASEAN cũng như giữa ASEAN với các đối tác; chuẩn bị nội dung cho Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 28, 29 và các hội nghị liên quan vào tháng 9 tới, nhằm triển khai lộ trình tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (thành lập ngày 31/12/2015).

Các nước trong khối ASEAN đã tập trung xem xét và thông qua nhiều khuôn khổ cho tăng cường hợp tác kinh tế, gồm có: Khuôn khổ Thuận lợi hóa thương mại ASEAN; Khuôn khổ Quản lý an toàn thực phẩm ASEAN; Khuôn khổ thể chế ASEAN về tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ; Chương trình làm việc về khởi nghiệp trong ASEAN; Chỉ dẫn phát triển và phối hợp về đặc khu kinh tế;…

Tại Hội nghị, Việt Nam cùng các nước Campuchia, Lào, Myanma đã thống nhất Kế hoạch hành động chung giai đoạn 2017-2018 và xem xét xây dựng Chiến lược tổng thể về phát triển CLMV (bao gồm Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanma) dài hạn. Việt Nam tiếp tục thúc đẩy các sáng kiến về hợp tác khu vực giữa các nước tiểu vùng sông Mekong và Nhật Bản nhằm tăng cường kết nối kinh tế, tạo ra các khu vực kinh tế tiểu vùng có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của nhiều tỉnh và thành phố của Việt Nam ở khu vực miền Trung và Nam Bộ Việt Nam.

3. Mỹ lựa chọn chính sách chiến lược nào ở Biển Đông 

Thứ nhất, tăng cường và mở rộng sự minh bạch hàng hải ở Biển Đông: Mỹ, đồng minh và các đối tác gia tăng sự hiện diện nhằm thể hiện rõ Biển Đông là một vùng biển quốc tế mở đối với tất cả các quốc gia; hỗ trợ về lĩnh vực hàng hải cho các nước trong khu vực nhằm tạo điều kiện cho việc định vị, quá cảnh an toàn, tìm kiếm và cứu nạn, đối phó với thảm họa thiên nhiên khi xảy ra.

Thứ hai, tiếp tục gia tăng sự hỗ trợ về quân sự và sự hiện diện của Mỹ tại Philippin: Phối hợp quân sự và các cuộc tập trận chung Mỹ- Philippin nhằm đảm bảo lực lượng Hải quân Mỹ và Philippin có thể đổ bộ nhanh nhất vào quần đảo Palawan, khu vực tiếp giáp với “đường 9 đoạn” của Trung Quốc; tiếp tục cải thiện cơ sở vật chất tại các căn cứ quân sự mà cả hai nước có thể sử dụng khi có xung đột.

Thứ ba, đẩy mạnh quan hệ quân sự với Việt Nam: Quan hệ song phương Mỹ-Việt được cải thiện trong những năm gần đây. Tổng thống Obama dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam (tháng 5/2016) và các chuyến thăm cảng Việt Nam của tàu Hải quân quân đội Mỹ gần đây thể hiện sự tăng cường quan hệ quân sự giữa Mỹ và Việt Nam.

Thứ tư, duy trì sự hiện diện Lực lượng Bảo vệ Bờ biển của Mỹ cũng như của các nước khác tại Biển Đông: Trung Quốc đã và đang sử dụng tàu thương mại và tàu tuần tra biển để củng cố chủ quyền của họ và đe dọa các nước láng giềng tại Biển Đông trong nhiều năm thay vì sử dụng các tàu hải quân. Vì vậy, Mỹ và các đối tác sẽ tăng cường triển khai lực lượng này.

Thứ năm, tăng cường các hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông: Định kỳ tuần tra Biển Đông bằng tàu sân bay lớp Nimitz và tàu sân bay có thể đỗ trên cạn với mức độ thường xuyên hơn; tăng cường các hoạt động do thám trên các hòn đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền; giảm nguy cơ gia tăng căng thẳng quân sự bằng việc khuyến khích sự tham gia của quốc tế và thông báo trước về các hoạt động này. Động thái này của Mỹ nhằm bảo đảm khả năng tấn công nhanh của Mỹ trong trường hợp có xung đột, có thể làm đối trọng với các trang thiết bị của Trung Quốc được xây dựng trên các đảo nhân tạo.

Thứ sáu, xây dựng các căn cứ quân sự di động trên Biển Đông: Mỹ có thể phản ứng với việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo bằng cách xây dựng những căn cứ quân sự di động tạm thời, kiểu như ESB, JMOB (tương tự như các giàn khoan nổi liên kết lại với nhau) để có thể hỗ trợ nhiệm vụ quan trọng thường xuyên trong đó có các cuộc tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển và tạo điều kiện cho Hải quân Mỹ có được khả năng nhanh chóng triển khai lực lượng trong khu vực nếu có xung đột.

Hiện nay, tình hình Biển Đông đã có những diễn biến rất phức tạp và nếu không được quản lý, xử lý đúng sẽ làm tăng rủi ro, dẫn đến bất ổn, xung đột, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chính trị, chiến lược an ninh, kinh tế - thương mại của nhiều quốc gia cả trong và ngoài khu vực. Tại Đối thoại Shangri La tổ chức tháng 6/2016, Việt Nam khẳng định, lợi ích quốc gia dân tộc cần được nhìn nhận một cách khách quan, phù hợp, có cơ sở vững chắc và được đặt trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích của các quốc gia khác và của cộng đồng quốc tế. Tránh đơn phương áp đặt, không tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác cũng như hòa bình, ổn định khu vực và trên toàn thế giới. Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở Biển Đông hiện nay, Việt Nam kiên quyết giữ vững độc lập, tự chủ và coi đây là nguyên tắc cao nhất, vừa hợp tác vừa đấu tranh để phát triển cũng như giải quyết tranh chấp, bất đồng. Việt Nam dựa vào sức mình là chính để bảo vệ các lợi ích quốc gia, dân tộc, không đi với nước này để chống nước khác.

4. Một số nét chính về tình hình Thổ Nhĩ Kỳ sau cuộc đảo chính quân sự bất thành 

Đêm ngày 15/7/2016, tại Thủ đô Ankara của Thổ Nhĩ Kỳ, một số tướng lĩnh và sỹ quan quân đội đã tiến hành đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Ê-đô-gan. Cuộc đảo chính đã không thành công. Tuy nhiên, hậu quả để lại là rất nặng nề, đã làm 265 người chết, khoảng 1.440 người bị thương và gây ra những hiệu ứng tiêu cực trong xã hội Thổ Nhĩ Kỳ.

Đảo chính mang đến sự thanh trừng nội bộ: Ngay sau khi dập tắt cuộc đảo chính, Tổng thống Ê-đô-gan tuyên bố đặt đất nước vào tình trạng khẩn cấp trong 3 tháng và trừng phạt tất cả những người có liên quan tới cuộc đảo chính: bắt giữ gần 3.000 quân nhân và 2.745 thẩm phán, công tố viên; thu hồi giấy phép của 21.738 giáo viên đang làm việc tại một số trường tư nhân, 15.200 nhân viên Bộ giáo dục bị đình chỉ, 1.577 hiệu trưởng trường đại học hoặc chủ nhiệm khoa buộc phải từ chức; sa thải 255 nhân viên thuộc Văn phòng Thủ tướng, 492 giáo sỹ làm việc tại cơ quan quản lý tôn giáo, 399 nhân viên thuộc Bộ Gia đình và Chính sách xã hội; thu hồi giấy phép của 24 công ty phát thanh và truyền hình bị tố cáo có liên quan đến cuộc đảo chính. Chiến dịch trừng phạt khắc nghiệt mà Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đang tiến hành có thể khiến xã hội Thổ Nhĩ Kỳ bị phân cực ngày càng sâu sắc và chịu sự chi phối ngày càng tăng từ các lực lượng Hồi giáo chính trị.

Vốn đầu tư nước ngoài giảm đi nhanh chóng và tiền tệ trái phiếu chịu sức ép: Năm 2015, đầu tư nước ngoài ở Thổ Nhĩ Kỳ là 16,5 tỷ USD, chỉ bằng 36% năm 2014. Trong 5 tháng đầu năm 2016, đầu tư nước ngoài chỉ có 2,3 tỷ USD, dự báo sau cuộc đảo chính bất thành thì vốn đầu tư nước ngoài vào Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục giảm.

Quan hệ đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ có sự thay đổi:

- Quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ - Nga: Sau lời xin lỗi của Tổng thống Ê- đô-gan gửi đến người đồng cấp Nga V.Pu-tin, quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ và Nga đã bắt đầu thay đổi theo chiều hướng tích cực. Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ đã sang thăm Nga và hai bên đã tuyên bố bình thường hóa quan hệ. Thổ Nhĩ Kỳ hy vọng Nga sẽ giúp Thổ Nhĩ Kỳ ngăn chặn khả năng tạo ra một nhà nước độc lập của người Cuốc.

- Quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ - Phương Tây: Trước khi xảy ra cuộc đảo chính, quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ với phương Tây tương đối tốt. Theo đó, Mỹ đã sử dụng các căn cứ quân sự In-xơ-linh của Thổ Nhĩ Kỳ để ủng hộ các “lực lượng đối lập ôn hòa” tiến hành cuộc chiến nhằm lật đổ Tổng thống Xy-ri Ba-xa An At-xat. Sau vụ đảo chính lần này, sự nghi kị giữa Tổng thống Ê-đô-gan và Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma trở nên sâu sắc. Tổng thống Ê-đô-gan cho rằng Mỹ dính líu đến cuộc đảo chính này và yêu cầu Mỹ dẫn độ giáo sĩ Hồi giáo Gu-len đang tị nạn ở Mỹ. Phía Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố, nếu Mỹ không dẫn độ Giáo sĩ Gu-len về Thổ Nhĩ Kỳ thì Mỹ “không thể là đồng minh của Thổ Nhĩ Kỳ”.

- Đối với Liên minh châu Âu (EU), sau cuộc đảo chính này, mọi thứ sẽ thay đổi. Chủ tịch Nghị viện châu Âu Mac-tin Sun-xơ lên án chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành trả thù đối với phe đối lập và những người chống đối. EU cảnh báo, việc Tổng thống Ê-đô-gan dự kiến khôi phục án tử hình để tiêu diệt “những kẻ phản quốc” là dấu chấm hết cho quá trình đàm phán gia nhập EU của Thổ Nhĩ Kỳ. Còn Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố chấm dứt đàm phán với EU về vấn đề người di cư.

- Quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ - Xy-ri: Kể từ khi bùng phát “Mùa xuân A-rập” đầu năm 2011 ở Xy-ri, Thổ Nhĩ Kỳ luôn đứng về phía các lực lượng đối lập đòi lật đổ Tổng thống Xy-ri, ông Ba-sa An Át-xát, và gần đây tham gia Liên minh quốc tế chống khủng bố do Mỹ dẫn đầu. Tuy nhiên đến nay, chính sách đó của Thổ Nhĩ Kỳ đã bị phá sản mà hậu quả là Thổ Nhĩ Kỳ lại trở thành tâm điểm tấn công của khủng bố và bị cô lập. Gần đây, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã quyết định điều chỉnh chính sách đối ngoại. Do vậy, sau đảo chính, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ có sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại với Xy-ri. Đây là bước ngoặt lớn có tác động thay đổi căn bản cục diện chính trị ở Trung Đông.

 

________



[1] Đến cuối năm 2015, diện tích cà phê toàn tỉnh đạt 14.866 ha, tăng 3.216 ha so với năm 2010; diện tích cây cao su đạt 74.653 ha, tăng 30.783 ha so với năm 2010; diện tích Sâm Ngọc Linh đạt 180,24 ha.

[2] Sản lượng thủy sản năm 2015 ước đạt 3.175 tấn, tăng 43,5% so với năm 2010.

[3] Cà phê Đăk Hà, Rượu sâm Ngọc Linh, Cà phê Thanh Hương, Cà phê Da Vàng, đường Kon Tum, đồ gỗ….

[4] Vùng kinh tế động lực thành phố Kon Tum gắn với Khu công nghiệp Hòa Bình và các đô thị mới; vùng kinh tế động lực huyện Ngọc Hồi gắn với Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y; vùng kinh tế động lực huyện Kon Plông gắn với Khu du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen.

[5] Khu đô thị phía Nam cầu Đăk Bla; Khu đô thị Sân Bay cũ; Khu đô thị Bắc Duy Tân; Khu dân cư Hoàng Thành, xã Đăk Cấm; Khu dân cư phía Bắc thành phố Kon Tum; Khu dân cư phía Nam thành phố Kon Tum; Khu dân cư, dịch vụ thương mại trong khu Trung tâm hành chính mới của tỉnh; Khu dân cư mới các huyện...

[6] Mở rộng Khu công nghiệp Hòa Bình, Khu công nghiệp trong Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Cụm công nghiệp Đăk La, Cụm công nghiệp Đăk Tô...

[7] Toàn tỉnh có Sân vận động tỉnh; 6/9 sân vận động ở huyện, thành phố; 643 sân bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, tennis... do các tổ chức, hộ gia đình đầu tư xây dựng.

[8] Năm 2015, tuổi thọ trung bình khoảng 66,2 tuổi

[9] Tính đến 31-12-2015

[10] Chưa bao gồm thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7-8%.

 

Số lượt xem:1749
Bài viết trước:
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 08-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 07-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 06-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 05-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 04-2016
Icon  Tài liệu tập huấn công tác tuyên truyền miệng, tổ chức tại Đà Nẵng, tháng 3-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 03-2016
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 02-2016
Icon  TÀI LIỆU HỎI - ĐÁP VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XV ĐẢNG BỘ TỈNH KON TUM
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 01-2016
    LIÊN KẾT
Trang chủ   |   Liên hệ   
Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum; Điện thoại: 060.3862301; Email: phiemkt@gmail.com.
Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

Treo chân mày bằng chỉkhông phẫu thuật


Bệnh viện thẩm mỹ JW hàn quốc


Bệnh viện thẩm mỹ uy tín nhất tphcm


Cắt mí mắt hàn quốc đẹp


Phẫu thuật hàm móm có nguy hiểm không


Phẫu thuật hàm móm giá bao nhiêu tiền


Phẫu thuật chỉnh hàm móm


Phẫu thuật hàm hô móm


Phẫu thuật vẩu hàm trên


Điều trị khớp cắn ngược