Thứ 7, ngày 25 tháng 3 năm 2017  TimKiem
  TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI BỘ
Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 11-2015
10/28/2015 2:05:08 PM

A. VĂN BẢN MỚI

I. VĂN BẢN CỦA TỈNH

1. Ngày 03-10-2015 Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 01-CT/TU về nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV nhiệm kỳ 2015-2020. Nội dung cụ thể sau:

I. Mục đích, yêu cầu

- Tạo sự thống nhất, đồng thuận trong nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2015-2020; kết hợp xây dựng chương trình hành động phù hợp; tạo phong trào thi đua sôi nổi, mạnh mẽ trong toàn Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh, quyết tâm thực hiện Nghị quyết kịp thời, có hiệu quả ngay từ đầu.

- Quá trình tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh trong cán bộ, đảng viên và tuyên truyền sâu rộng trong Nhân dân phải chú ý đổi mới về phương pháp quán triệt và tuyên truyền để mang lại hiệu quả, thiết thực. Các báo cáo viên, tuyên truyền viên phải nghiên cứu kỹ nội dung, tinh thần Nghị quyết, tập trung quán triệt, tuyên truyền những nội dung cơ bản, những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá trong Nghị quyết, nhằm giúp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân nắm vững các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã được đề ra trong Nghị quyết; xác định rõ những thuận lợi, khó khăn trong nhiệm kỳ tới, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn ngành, địa phương, đơn vị để triển khai thực hiện Nghị quyết đảm bảo đạt kết quả cao nhất.

II. Các nội dung chủ yếu cần thực hiện

1. Tổ chức nghiên cứu, quán triệt

- Đối với cấp tỉnh: Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức hội nghị quán triệt Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đến cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, gồm các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy khóa XV, các đồng chí nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, ủy viên ban thường vụ các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; phó chủ tịch hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và báo cáo viên cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương. Hoàn thành trong tháng 11 năm 2015.

- Đối với cấp huyện và tương đương: Ban Thường vụ các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy tổ chức các lớp nghiên cứu, quán triệt đến cán bộ chủ chốt; căn cứ vào các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết đã đề ra kịp thời rà soát nghị quyết Đại hội đảng bộ cấp mình để bổ sung vào chương trình công tác định kỳ cho phù hợp, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện từ tỉnh đến cơ sở, đồng thời xây dựng Chương trình hành động của cấp ủy thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh gắn với điều kiện, tình hình thực tế địa phương; chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân ở cơ sở. Hoàn thành việc nghiên cứu, học tập ở cấp huyện chậm nhất ngày 15 tháng 12 năm 2015.

- Đối với cơ sở: Các tổ chức cơ sở đảng tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân thuộc địa phương, đơn vị mình. Hoàn thành cuối tháng 12 năm 2015.

- Đối với loại hình tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn: Cấp ủy tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh cho toàn thể đảng viên, quần chúng là cán bộ quân dân chính xã, phường, thị trấn, thôn, làng, tổ dân phố; phân công cán bộ, đảng viên về thôn, làng, tổ dân phố tổ chức tuyên truyền, phổ biến đến toàn thể Nhân dân.

- Đối với các loại hình tổ chức cơ sở đảng khác: Cấp ủy phối hợp với thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đến toàn thể đảng viên và quần chúng, phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết trong toàn cơ quan, đơn vị.

2. Tổ chức tuyên truyền

- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan báo chí, truyền thông đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh bằng hình thức phù hợp, bảo đảm mọi người dân được biết và hiểu những vấn đề cơ bản của Nghị quyết.

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị-xã hội tổ chức phổ biến, tuyên tuyền nội dung Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đến các thành viên, đoàn viên, hội viên của tổ chức mình bằng các hình thức phù hợp.

III. Tổ chức thực hiện

1. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội XV ở cấp tỉnh. Biên soạn tài liệu hỏi-đáp về Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh phục vụ việc học tập, quán triệt và các hoạt động tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết trong toàn tỉnh.

2. Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy chỉ đạo chặt chẽ việc nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chương trình hành động của cấp mình; làm tốt công tác sơ kết, tổng kết định kỳ, kịp thời phát huy những ưu điểm và có biện pháp khắc phục những khuyết điểm, yếu kém trong quá trình thực hiện.

3. Trên cơ sở nội dung Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo Hội đồng nhân dân tỉnh cụ thể hóa thành nghị quyết đảm bảo đúng định hướng phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng-an ninh 5 năm 2016-2020 và hằng năm; đồng thời tăng cường công tác giám sát việc triển khai thực hiện các nghị quyết đảm bảo các nhiệm vụ, mục tiêu và đúng tiến độ.

4. Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đã xác định để cụ thể hóa vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020, đồng thời phân công rõ nhiệm vụ cho tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện, xác định chế độ kiểm tra, thông tin, báo cáo, định kỳ sơ kết, tổng kết, đảm bảo tổ chức thực hiện thắng lợi kế hoạch đề ra.

5. Ban Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, đảng đoàn các tổ chức chính trị-xã hội và Ban Thường vụ Tỉnh đoàn tham mưu Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ “củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc” thành các chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo các chương trình, kế hoạch được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.

6. Các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy tập trung tham mưu Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng các chương trình, kế hoạch trong việc tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ “tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh”. Đồng thời, theo chức năng, nhiệm vụ của mình giúp Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh ở các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị.

7. Trường Chính trị tỉnh nghiên cứu đưa nội dung Nghị quyết Đại hôi XV Đảng bộ tỉnh vào chương trình giảng dạy đảm bảo sát hợp với từng đối tượng học viên.

8. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ chủ trì phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, các huyện ủy, thành ủy tham mưu Tỉnh uỷ chỉ đạo việc nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền và tổ chức thực hiện Nghị quyết, báo cáo kết quả theo quy định.

Chỉ thị này phổ biến đến các chi bộ.

2. Ngày 12-10-2015 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 01-HD/BTGTU về hướng dẫn công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2016. Nội dung cụ thể sau:

1. Tổ chức các lớp nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết của hội nghị Trung ương (khóa XII), Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh Kon Tum, thông tin những vấn đề mới về lý luận chính trị và thực tiễn.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII sẽ được tổ chức vào tháng 01 năm 2016. Việc mở các lớp nghiên cứu, quán triệt các văn kiện đại hội và các hội nghị Trung ương (khóa XII), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy sẽ có hướng dẫn cụ thể.

Ban tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ và trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố chủ động đề xuất với cấp ủy tổ chức nghiên cứu, quán triệt và tuyên truyền phổ biến Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh theo tinh thần Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 03-10-2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; thường xuyên tổ chức thông tin tình hình thời sự, những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những vấn đề trọng tâm được dư luận quan tâm ở địa phương, cơ sở.

2. Công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng giảng viên lý luận chính trị.

Trường Chính trị tỉnh phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn về phương pháp giảng dạy cho đội ngũ giảng viên (cả chuyên trách và kiêm chức) của các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, thành phố gắn với việc triển khai nội dung chương trình cập nhật kiến thức cho đối tượng 3, 4.

Để nâng cao chất lượng cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, đề nghị  ban tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ và trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố tham khảo “Tập giáo án Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi năm 2014” do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản.

3. Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công tác giáo dục lý luận chính trị năm 2016.

Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra việc giảng dạy và học tập các chương trình lý luận chính trị tại trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố, các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị do các đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ tổ chức; 6 tháng một lần tổng hợp, gửi báo cáo về Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

Nội dung kiểm tra gồm: phương hướng chính trị, tư tưởng, chất lượng giảng dạy lý luận chính trị, giáo dục công dân, giáo dục đạo đức của các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân tại địa phương.

Ban tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện ủy, thành ủy, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ tham mưu cho cấp ủy triển khai thực hiện Kết luận 94-KL/TW, ngày 28-3-2014 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận trong hệ thống giáo dục quốc dân và Hướng dẫn số 127-HD/BTGTW, ngày 30-6-2014 của Ban Tuyên giáo Trung ương về việc giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời theo dõi, kiểm tra các đơn vị liên quan thực hiện và báo cáo về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy định kỳ 6 tháng một lần. 

4. Tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của   trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện.

Tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả của trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện theo Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 03-9-2008 của Ban Bí thư Trung ương; Quyết định số 1853-QĐ/BTGTW ngày 04- 3- 2010 của Ban Tuyên giáo Trung ương về ban hành Quy chế giảng dạy và học tập của trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thành phố và các văn bản hướng dẫn hiện hành.

5. Giao ban và tập huấn công tác giáo dục lý luận chính trị.

Năm 2016, thực hiện hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức giao ban công tác giáo dục lý luận chính trị hằng quý. Nội dung giao ban tập trung vào những nhiệm vụ chính của công tác giáo dục lý luận chính trị ở địa phương, đơn vị. Ban Tuyên giáo (tuyên huấn) các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy và trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố thực hiện chế độ báo cáo (bằng văn bản) chậm nhất ngày 25 của tháng cuối quý về Ban tuyên giáo Tỉnh ủy tổng hợp trong nội dung giao ban. Đây là nội dung mới so với trước đây, đề nghị các đơn vị chủ động tham mưu cho cấp ủy để thực hiện có hiệu quả.

6. Thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cơ bản.

Sau Đại hội Đảng lần thứ XII, Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ sửa chữa, bổ sung, cập nhật tài liệu theo tinh thần Đại hội Đảng và có hướng dẫn cụ thể thực hiện. Trong khi chưa có tài liệu mới, đề nghị ban tuyên giáo, tuyên huấn các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy và trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố thực hiện theo các hướng dẫn trước đây và bổ sung, cập nhật các quan điểm, nội dung mới của Đại hội XII vào bài giảng. Khi có chương trình mới, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy sẽ có hướng dẫn cụ thể. Trước mắt theo các chương trình cũ, cụ thể như sau:

6.1. Chương trình Sơ cấp lý luận chính trị: Thực hiện theo Hướng dẫn số 65-HD/BTGTW ngày 11- 12- 2012 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình Sơ cấp lý luận chính trị. Tài liệu do Nhà xuất bản chính trị quốc gia ấn hành.

6.2. Chương trình lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng: Thực hiện theo Hướng dẫn số 15- HD/BTGTW ngày 08- 9- 2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình học tập lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng. Tài liệu do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

6.3. Chương trình bồi dưỡng đảng viên mới: Thực hiện theo Hướng dẫn số 14- HD/BTGTW ngày 08- 9- 2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới. Tài liệu  do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

7. Thực hiện các chương trình bồi dưỡng chuyên đề.

Trong năm 2016, Ban tuyên giáo Trung ương sẽ tiến hành sửa chữa, bổ sung các chương trình bồi dưỡng chuyên đề. Khi chưa có tài liệu mới của Ban Tuyên giáo Trung ương, đề nghị Trường Chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố thực hiện bồi dưỡng các chuyên đề theo Hướng dẫn trước đây và bổ sung, cập nhật các thông tin mới của Đại hội XII vào bài giảng.

7.1. Chuyên đề “Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”: Thực hiện theo Hướng dẫn số 60-HD/BTGTW ngày 17- 11- 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về  thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên đề "Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam" dành cho cán bộ, đảng viên và nhân dân (Tài liệu tái bản có sửa chữa, bổ sung cuối năm 2008).

7.2. Chuyên đề “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam”: Thực hiện theo Hướng dẫn số 64-HD/BTGTW ngày 17- 11- 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên đề "Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam" dành cho cán bộ, đảng viên và nhân dân (Tài liệu tái bản có sửa chữa, bổ sung cuối năm 2008).

7.3. Chuyên đề “Vấn đề về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam”: Thực hiện theo Hướng dẫn số 62-HD/BTGTW ngày 17- 11- 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên đề "Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam" dành cho cán bộ, đảng viên và nhân dân (Tài liệu tái bản có sửa chữa, bổ sung cuối năm 2008).

7.4. Chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh: Thực hiện theo Hướng dẫn số 2998-HD/TTVH ngày 25- 4- 2003 và Hướng dẫn số 3022-HD/TTVH ngày 05- 5-  2003 của Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, nay là Ban Tuyên giáo Trung ương.

Ngoài ra, cấp uỷ các cấp tiếp tục tổ chức học tập các chuyên đề về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Kế hoạch học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2016 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (Sau khi Ban Thường vụ Tỉnh ủy có Kế hoạch, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy sẽ gửi đến các đơn vị để triển khai thực hiện).

7.5. Chuyên đề “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”: Thực hiện theo Hướng dẫn số 58-HD/BTGTW ngày 13- 11- 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên đề "Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế" dành cho cán bộ, đảng viên và nhân dân (Tài liệu xuất bản năm 2008), đồng thời cập nhật các văn bản chỉ đạo của Trung ương về quan điểm, chủ trương hội nhập quốc trong thời kỳ mới. 

7.6.  Chuyên đề “Giáo dục đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới”: Thực hiện theo Hướng dẫn số 57-HD/BTGTW ngày 13- 11- 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên đề "Giáo dục đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới" dành cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ( Tài liệu xuất bản năm 2008)

8. Thực hiên các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ.

Trong năm 2016, Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ tiến hành sửa chữa, bổ sung các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ. Khi chưa có tài liệu mới, đề nghị ban tuyên giáo, tuyên huán các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy và trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố thực hiện theo các hướng dẫn trước đây và bổ sung, cập nhật các quan điểm, nội dung mới của Đại hội XII của Đảng và Đại hội XV Đảng bộ tỉnh vào bài giảng. Cụ thể như sau:

8.1. Chương trình “Bồi dưỡng công tác đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở”: Thực hiện theo Hướng dẫn số 59 - HD/BTGTW ngày 31- 8- 2012  của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình "Bồi dưỡng công tác đảng cho bí thư chi bộ và cấp uỷ viên cơ sở". Tài liệu đã sửa chữa, bổ sung phát hành năm 2012 do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

8.2. Chương trình "Bồi dưỡng phương pháp giảng dạy lý luận chính trị cho giảng viên Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện": Thực hiện theo Hướng dẫn số 61 - HD/BTGTW ngày 17- 11- 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên đề "Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị" dành cho giảng viên giảng dạy các chương trình lý luận chính trị tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện. Tài liệu do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

8.3. Chương trình chuyên đề “Bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên giáo lĩnh vực nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị”: Thực hiện theo Hướng dẫn số 58 - HD/BTGTW ngày 31- 8- 2012 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên giáo lĩnh vực nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị, dành cho cán bộ chuyên trách làm công tác nghiên cứu và giáo dục lý luận chính trị các cấp. Tài liệu do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành

8.4. Chương trình “Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên giáo cơ sở”: Thực hiện theo Hướng dẫn số 63 - HD/BTGTW ngày 17- 11- 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ "Công tác tuyên giáo ở cơ sở". Tài liệu do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

8.5. Chương trình "Bồi dưỡng chuyên đề công tác tuyên truyền miệng và báo cáo viên": Thực hiện theo Hướng dẫn số 59 - HD/BTGTW ngày 17- 11- 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương và tài liệu “Công tác tuyên truyền miệng và báo cáo viên”. Tài liệu do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

9. Thực hiện các chương trình lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác đoàn thể.

9.1. Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở: Thực hiện theo Hướng dẫn số 23- HD/BTGTW ngày 17- 11- 2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương và tài liệu "Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

9.2. Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ ở cơ sở: Thực hiện theo Hướng dẫn số 24-HD/BTGTW ngày 17- 11- 2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương và tài liệu "Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ ở cơ sở" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

9.3. Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ công đoàn ở cơ sở: Thực hiện theo Hướng dẫn số 33-HD/BTGTW ngày 12- 01- 2012 của Ban Tuyên giáo Trung ương và tài liệu "Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ công đoàn ở cơ sở" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

9.4. Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Hội Cựu chiến binh ở cơ sở: Thực hiện theo Hướng dẫn số 34-HD/BTGTW ngày 12- 01- 2012 của Ban Tuyên giáo Trung ương và tài liệu "Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Hội Cựu chiến binh ở cơ sở" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

9.5. Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Hội Nông dân Việt Nam: Thực hiện theo Hướng dẫn số 21-HD/BTGTW ngày 01- 11- 2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương và tài liệu "Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Hội Nông dân Việt Nam " do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

9.6. Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở cơ sở: Thực hiện theo Hướng dẫn số 35-HD/BTGTW ngày 12- 01- 2012 của Ban Tuyên giáo Trung ương và tài liệu “Chương trình chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở cơ sở" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

10. Thực hiện chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên các cấp.

Năm 2016, Trường Chính trị tỉnh, các huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ tiếp tục triển khai việc thực hiện chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên các cấp trong tỉnh (thuộc các đối tượng 3,4,5) giai đoạn 2013-2015 theo Kế hoạch số 60-KH/TU ngày 11-12-2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

3. UBND tỉnh công bố đường dây nóng tiếp nhận các ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp

UBND tỉnh vừa công bố đường dây nóng của lãnh đạo UBND tỉnh để tiếp nhận các ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp, nhà đầu tư liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Theo đó:

Chủ tịch UBND tỉnh Đào Xuân Quí - Số điện thoại: 0983 058 900; email: daoxuanqui-kontum@chinhphu.vn hoặc daoxuanqui@gmail.com

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Tuy - Số điện thoại: 0903 516 985; email: pctnguyenductuy-kontum@chinhphu.vn hoặc tuynguyenduc@gmail.com

Chánh Văn phòng UBND tỉnh Bùi Thanh Bình - Số điện thoại: 0914 013 349; email: buithanhbinh-kontum@chinhphu.vn hoặc buithanhbinhub@gmail.com

Định kỳ mỗi tháng 01 lần (trong khoảng thời gian từ ngày 22 đến ngày 25 hàng tháng) lãnh đạo UBND tỉnh tổ chức tiếp xúc với doanh nghiệp, nhà đầu tư để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Các doanh nghiệp, nhà đầu tư có khó khăn, vướng mắc đăng ký nội dung làm việc với lãnh đạo UBND tỉnh thông qua Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc Văn phòng UBND tỉnh trước ngày 20 hàng tháng để sắp xếp thời gian làm việc.

Các Sở, ban, ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, các cơ quan truyền thông công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin, Cổng thông tin điện tử tỉnh, các Trang thông tin điện tử của đơn vị, địa phương để doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh được biết.

4. Ngày 09/10/2015, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch 2360/KH-UBND triển khai Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ, Chương trình số 76-CTr/TU ngày 17/10/2014 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIV) thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Theo đó, giai đoạn 2015 - 2020 các cấp, các ngành tập trung thực hiện các mục tiêu: Từng bước xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh Kon Tum, của đất nước và hội nhập quốc tế; phát huy các chuẩn mực giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp đồng thời từng bước xây dựng các chuẩn mực đạo đức văn minh, tiến bộ góp phần ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức xã hội, xây dựng giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam. Phấn đấu đến năm 2020 đạt các chỉ tiêu sau:

70% thôn, làng, tổ dân phố đạt danh hiệu văn hóa; trên 70% gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”, 80% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; mỗi cộng đồng làng, khu dân cư có đội cồng chiêng, văn nghệ cơ sở; 100% công nhân viên chức, người lao động được tham gia các hoạt động văn hóa, được tuyên truyền phổ biến pháp luật về xây dựng đời sống văn hóa.

Từ 25% đến 30% dân số tập luyện thể dục thể thao thường xuyên; 18% đến 23% số hộ gia đình đạt danh hiệu Gia đình thể thao; hình thành 500 câu lạc bộ thể dục, thể thao; 100% cán bộ, hướng dẫn viên, cộng tác viên thể dục thể thao ở cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ.

100% số trường phổ thông, trường chuyên nghiệp thực hiện tốt chương trình giáo dục thể dục thể chất chính khóa; 90% số trường tổ chức các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa; 50% số trường phổ thông, trường chuyên nghiệp có đủ điều kiện cơ bản về: diện tích đất, sân bãi, phòng tập, dụng cụ thể dục thể thao... để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên; 100% số trường trung học có đủ giáo viên thể dục thể thao.

Trên 40% trường mầm non, 58% trường tiểu học, 40% trường trung học cơ sở, 45% trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia; 100% xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân còn dưới 21%.

Từng bước đầu tư hệ thống thiết chế văn hoá, thể thao từ tỉnh đến cơ sở, cơ sở gắn với phát huy hiệu quả sử dụng: 100% số huyện, thành phố có nhà văn hóa hoặc trung tâm văn hoá, thể thao và thư viện; 50% xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa kiêm hội trường, kiêm trung tâm học tập cộng đồng; 100% các cơ quan đơn vị có các thiết chế thể dục thể thao (tối thiểu có sân bóng chuyền hoặc sân cầu lông, bóng bàn; cán bộ, công chức, viên chức người lao động tập luyện thường xuyên); 100% nhà văn hóa khu dân cư có tủ sách, có đội văn nghệ thường xuyên hoạt động; 100% huyện, thành phố có trụ sở thư viện, được ứng dụng công nghệ thông tin và có 50% số xã, phường, thị trấn xây dựng thư viện đảm bảo tiêu chuẩn của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; phấn đấu đạt 01 bản sách/mỗi người trong thư viện công cộng; ưu tiên đầu tư Trung tâm thể dục thể thao cấp tỉnh, Trung tâm văn hóa và Trung tâm phát hành phim chiếu bóng tỉnh. - Tiếp tục triển khai có kết quả công tác khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; bảo tồn, phát triển các dân tộc có số lượng người ít trên địa bàn; tôn tạo và phát huy các di tích lịch sử cách mạng gắn với phát triển du lịch.

Triển khai thực hiện quy hoạch báo chí tỉnh Kon Tum đến năm 2025 theo quy hoạch báo chí toàn quốc được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, bảo đảm tính chuyên nghiệp và hiện đại, hoạt động đúng quy định pháp luật và phục vụ tốt yêu cầu xã hội; tiếp tục nâng cao chất lượng báo in, phát triển báo điện tử; nâng cấp phát sóng vệ tinh quốc gia đối với truyền hình của tỉnh; nâng cao chất lượng hoạt động của cổng thông tin điện tử tỉnh; thiết lập website chuyên quảng bá về hình ảnh đất và người Kon Tum bằng nhiều thứ tiếng; quản lý hiệu quả các hoạt động cung cấp internet trên địa bàn tỉnh.

Giai đoạn 2021 - 2030: Tiếp tục củng cố và nâng cao tỷ lệ các chỉ tiêu đạt được trong giai đoạn 2015 - 2020; Hoàn thiện và phổ biến các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo dựng những giá trị mới phù hợp để phát triển toàn diện phù hợp với sự phát triển của đất nước; đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức xã hội; Phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam trong giao lưu, hội nhập quốc tế; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; Hoàn thiện cải cách thể chế, bảo đảm môi trường xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trên địa bàn tỉnh Kon Tum phù hợp trong thời kỳ mới.

Trên cơ sở đó, Kế hoạch đề ra 10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp: Tuyên truyền, học tập quán triệt, phổ biến nội dung các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chương trình của BCH Đảng bộ tỉnh (Khóa XIV); Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; Tăng cường xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế; Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa; Huy động các nguồn lực xây dựng và phát triển văn hóa, con người Kon Tum; Hoàn thiện thể chế và các cơ chế, chính sách; Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa; Chủ động hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại giữ gìn bản sắc văn hóa tỉnh Kon Tum; Tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện.

5. Ngày 14/10/2015 UBND tỉnh ban hành Kế hoạch 2398/KH-UBND triển khai thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả và các nội dung được phân công tại Quyết định số 05/QĐ-BCĐ389 ngày 23/9/2015 của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.

Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu: Các cấp, các ngành phải xác định công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và lâu dài; phải có giải pháp cụ thể để thực hiện ngày một có hiệu quả hơn, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục cho cán bộ, chiến sỹ, bố trí lực lượng trực tiếp làm công tác chống buôn lậu và những cán bộ, công chức có đạo đức tốt, có ý chí, bản lĩnh chính trị vững vàng và sẳn sàng đối mặt với mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị với kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm phải thực hiện theo đúng quy trình, đúng đối tượng, có trọng tâm, trọng điểm, mọi hành vi vi phạm đều phải được xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi cố tình gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh doanh; kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, công chức có hành vi tiếp tay, bao che, dung túng hoặc có biểu hiện tiêu cực khác trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

UBND tỉnh giao nhiệm vụ cụ thể của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố và yêu cầu các đơn vị xây dựng kế hoạch chi tiết của đơn vị mình để tổ chức triển khai thực hiện, đảm bảo thiết thực, hiệu quả; đồng thời giao Sở Công Thương (cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 389 tỉnh) đôn đốc các đơn vị thực hiện nghiêm túc Kế hoạch; thường xuyên cập nhật thông tin, nắm chắc tình hình, tổng hợp kết quả thực hiện định kỳ (hàng tháng, quý, 6 tháng, năm) hoặc đột xuất (trong đó có đánh giá về trách nhiệm người đứng đầu lực lượng chống buôn lậu) báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo 389 tỉnh và Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia theo quy định.

6. Thực hiện Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 01/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025; Quyết định số 1543/QĐ-BTP ngày 24/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch triển khai Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 (sau đây gọi tắt là Đề án), UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 trên địa bàn tỉnh.

Mục đích: Triển khai kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp để đạt được mục tiêu của Đề án, tạo điều kiện để đối tượng được trợ giúp pháp lý (TGPL) hưởng dịch vụ TGPL với chất lượng ngày càng tốt hơn. Xác định rõ các nhiệm vụ cụ thể, thời gian thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc triển khai các giải pháp của Đề án.

Yêu cầu: Bám sát các mục tiêu của Đề án, bảo đảm thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và giải pháp được nêu tại Đề án; các hoạt động của Kế hoạch phải bảo đảm tính khả thi, phát huy tối đa nguồn lực hiện có của các ngành, địa phương và tổ chức có liên quan trong việc triển khai Đề án; bảo đảm sự phối hợp có hiệu quả giữa cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc triển khai hiệu quả Đề án.

Các nội dung chủ yếu của Kế hoạch:

- Tổ chức Hội nghị quán triệt về việc triển khai Đề án;

- Rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL để có phương án xử lý theo điểm a khoản 1 mục II Đề án;

- Xây dựng Đề án sắp xếp vị trí, việc làm của các công chức, viên chức Trung tâm TGPL tỉnh phù hợp với nội dung Đề án: Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm TGPL tỉnh, nhu cầu TGPL, điều kiện xã hội hóa công tác TGPL trình UBND tỉnh;

- Công tác truyền thông về TGPL, thiết lập và duy trì đường dây nóng về TGPL

- Rà soát các văn bản QPPL có liên quan đến hoạt động TGPL để xây dựng chương trình, kế hoạch sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản QPPL về TGPL trên địa bàn tỉnh;

-  Xây dựng dự toán kinh phí cho hoạt động TGPL ở địa phương trình UBND tỉnh bao gồm: kinh phí chi lương, chi hành chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Trung tâm TGPL tỉnh và các hoạt động TGPL ngoài nguồn hỗ trợ từ Trung ương và chi cho nghiệp vụ TGPL;

- Triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi);

- Tiếp tục triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thay thế Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ đã được ban hành;

- Sơ kết, tổng kết thực hiện Đề án: UBND tỉnh tổ chức sơ kết (năm 2018), tổng kết (năm 2025) thực hiện Đề án tại địa phương, báo cáo Bộ Tư pháp (Cục TGPL) tổng hợp chung.

Các cơ quan được phân công nhiệm vụ trong Kế hoạch này có trách nhiệm chủ động tổ chức thực hiện nhiệm vụ được phân công. Việc thực hiện phải đảm bảo chất lượng, nội dung và thời gian yêu cầu. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp, trong việc thực hiện các nhiệm vụ được phân công trong Kế hoạch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị phản ánh về UBND tỉnh (qua Sở Tư pháp) để được hướng dẫn. 

7. Ngày 05/10/2015 UBND tỉnh có Quyết định số 792/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020” (giai đoạn I) trên địa bàn tỉnh. Thời gian thực hiện giai đoạn I từ năm 2016 đến năm 2020.

Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai các hoạt động phải bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về hôn nhân và gia đình; tăng cường công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin, phổ biến pháp luật; truyền thông, vận động, tư vấn, can thiệp, hỗ trợ... nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, tăng cường khả năng tiếp cận thông tin và huy động sự tham gia của cộng đồng, nhất là tại các địa bàn vùng dân tộc thiểu số có tỷ lệ hoặc có nguy cơ tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống cao; đề cao trách nhiệm và huy động sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành; phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tham gia công tác tuyên truyền, vận động xóa bỏ những hủ tục lạc hậu trong hôn nhân còn tồn tại của một số dân tộc thiểu số và tăng cường hơn nữa công tác quản lý, kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật liên quan về hôn nhân và gia đình, phân công nhiệm vụ cụ thể, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch.

Đối tượng cần tập trung nhất là thanh niên, vị thành niên là người dân tộc thiểu số chưa kết hôn/tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; phụ huynh học sinh/cha mẹ của nam, nữ thanh niên trong độ tuổi vị thành niên; cán bộ cơ sở tham gia tuyên truyền, ngăn ngừa tảo hôn và kết hôn cận huyết thống ở vùng dân tộc thiểu số;già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số và các tổ chức, cá nhân liên quan tham gia thực hiện Kế hoạch.

Kế hoạch này nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của xã hội, cộng đồng và người dân vùng dân tộc thiếu số trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; tạo sự đồng thuận trong xã hội nhằm ngăn ngừa tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiếu số.

II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG

Thông tư số 36/2015/TT-BLĐTBXH ngày 28/9/2015 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội  hướng dẫn hồ sơ, trình tự thủ tục thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo đối với người có công với cách mạng và con của họ. Thông tư gồm 09 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/11/2015. Một số quy định chủ yếu của Thông tư:

Điều 1: Đối tượng xác lập hồ sơ hưởng chế độ ưu đãi:

(1) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; (2) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; (3) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B (sau đây gọi chung là thương binh); (4) Con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; (5) Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; (6) Con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; (7) Con của liệt sĩ; (8) Con của thương binh; (9) Con của bệnh binh; (10) Con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

Điều 2: Đối tượng áp dụng chế độ ưu đãi:

- Chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo được áp dụng đối với học sinh, sinh viên là: a) Con của người có công với cách mạng quy định tại Điều 1 của Thông tư này (gọi chung là học sinh) đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên (đối với các học viên học theo chương trình trung học cơ sở, trung học phổ thông), phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, trường năng khiếu, trường lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (gọi chung là các cơ sở giáo dục phổ thông); b) Người có công với cách mạng và con của họ quy định tại Điều 1 của Thông tư này (gọi chung là sinh viên) theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có khóa học từ 01 năm trở lên hoặc cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (gọi chung là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học);

- Học sinh, sinh viên thuộc nhiều diện được hưởng chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo thì chỉ hưởng một chế độ ưu đãi mức cao nhất.

- Sinh viên cùng một lúc học ở nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học hoặc nhiều khoa, nhiều ngành trong cùng một cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học thì chỉ được hưởng một chế độ ưu đãi mức cao nhất tại một cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học.

- Không áp dụng chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo đối với học sinh, sinh viên quy định tại Khoản 1 Điều này thuộc một trong các trường hợp sau: a) Đang hưởng lương hoặc sinh hoạt phí khi đi học; b) Đã hưởng chế độ ưu đãi tại một cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học; c) Người có công quy định tại Điều 1 của Thông tư này bị đình chỉ chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.

- Các chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo theo quy định tại Thông tư này không thay thế chế độ học bổng chính sách, chế độ học bổng khuyến khích học tập và rèn luyện theo quy định hiện hành.

Điều 3: Chế độ ưu đãi: (1) Chế độ trợ cấp ưu đãi hàng năm; (2) Chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Các mức trợ cấp được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 20/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với cách mạng. 

B. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG THÁNG 11-2015

Trong tháng 11-2015, công tác tuyên truyền tập trung vào 02 nội dung trọng tâm sau:

1. Công tác tuyên truyền theo chủ đề, chủ điểm

- Tuyên truyền kết quả Hội nghị Trung ương 12, tập trung nêu bật những nội dung đã được Trung ương thảo luận và thống nhất cao về phát triển kinh tế-xã hội, về Đề án bầu cử Quốc hội khóa XIV, đặc biệt là về chuẩn bị nhân sự Đại hội XII.

- Tuyên truyền việc tổ chức lấy ý kiến tham gia của các tầng lớp nhân dân vào dự thảo văn kiện Đại hội XII của Đảng và các hoạt động hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

- Tiếp tục tuyên truyền về kết quả Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XV; những  nội dung cơ bản, những nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu, giải pháp đột phá trong Nghị quyết Đại hội. Thông tin, tuyên truyền kịp thời về tình hình tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV theo Chỉ thị số 01-CT/TU, ngày 03-10-2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

- Tuyên truyền, thông tin nội bộ Chủ tịch nước dự Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc và thăm chính thức Cu-ba; các hoạt động hướng tới chào mừng Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX. Tuyên tuyền các hoạt động chào mừng, kỷ niệm các ngày lễ, các sự kiện chính trị trọng đại của địa phương, đất nước[1]; về cuộc đời, sự nghiệp của Danh nhân văn hóa, Đại thi hào Nguyễn Du.

2. Công tác tuyên truyền thường xuyên

- Tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước; cổ vũ, nhân rộng các tập thể, gương điển hình tiên tiến trên tất cả các lĩnh vực, nhất là trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tiếp tục tuyên truyền việc triển khai thực hiện Kết luận số 1663-KL/TU, ngày 24-4-2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh”.

- Tiếp tục tuyên truyền, cổ vũ các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03-01-2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015; kết quả thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh 3 tháng cuối năm 2015; tình hình triển khai tháng cao điểm Ngày vì người nghèo (từ 17/10 đến 17/11) và kết quả nổi bật trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, sự quan tâm, hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền các cấp cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa…

- Tăng cường tuyên truyền thông tin đối ngoại; các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại; phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh; về xây dựng nông thôn mới, thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo; công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; công tác phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm...

C. ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XV, NHIỆM KỲ 2015-2020 THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP!

Từ ngày 30-9 đến 3-10-2015, Đảng bộ tỉnh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020. Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội dự và chỉ đạo Đại hội. Dự Đại hội có các đồng chí đại diện lãnh đạo các ban đảng Trung ương; các đồng chí lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; đại diện Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động và 342/343 đại biểu chính thức, đại diện cho gần 23.637 đảng viên thuộc 15 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy.

Phát biểu khai mạc Đại hội, đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: Thành công của Đại hội có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh nhà trong những năm tới; đồng thời, góp phần vào sự thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Vì vậy, đề nghị Đại hội phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, tập trung trí tuệ để đánh giá đúng thực trạng tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ tỉnh; làm rõ những thành tựu đạt được, chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém, rút ra những kinh nghiệm sâu sắc trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ; đi sâu phân tích một cách thấu đáo những tiềm năng, lợi thế của tỉnh và dự báo đầy đủ những khó khăn, thách thức trong 5 năm tới. Đồng thời, tích cực thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Từng đại biểu dự Đại hội cần đề cao trách nhiệm, phát huy dân chủ, sáng suốt lựa chọn, bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV những đồng chí có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ; có tinh thần trách nhiệm cao, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm; có phong cách lãnh đạo sâu sát, dân chủ, gắn bó mật thiết và có uy tín cao đối với cán bộ, Nhân dân, đảm bảo Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV thực sự là một tập thể mạnh, có cơ cấu hợp lý, luôn đoàn kết, thống nhất và có quyết tâm chính trị cao, đủ sức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện và tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ tỉnh khóa XIV trình Đại hội khẳng định: Nhiệm kỳ qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn tỉnh Kon Tum đã nỗ lực phấn đấu, phát huy tinh thần đoàn kết, vượt qua khó khăn thách thức và đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực: Kinh tế tiếp tục duy trì mức tăng trưởng trưởng khá, các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực bước đầu được hình thành, hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư nâng cấp (tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 13,94%; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 718 USD năm 2010 lên 1.555 USD năm 2015; thu ngân sách năm 2015 đạt 2.134 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu Đại hội XIV đề ra). Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”  tiếp tục phát triển sâu rộng, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc được chú trọng; chất lượng giáo dục được nâng lên, đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, công tác đào tạo nghề được triển khai tích cực, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 33% lên 42%; hoạt động khoa học công nghệ được tăng cường, chú trọng việc ứng dụng đề tài nghiên cứu, mô hình sản xuất vào thực tiễn có hiệu quả. Quốc phòng, an ninh được tăng cường; tích cực đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với các tỉnh bạn Lào và Căm-pu-chia. Công tác xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt kết quả tích cực. Cấp ủy và tổ chức đảng các cấp đã thường xuyên chú trọng công tác chính trị tư tưởng, công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra, dân vận, trong nhiệm kỳ đã kết nạp gần 7.000 đảng viên (vượt trên 70% chỉ tiêu kế hoạch). Hoạt động của mặt trận và các đoàn thể tiếp tục phát huy tác dụng, góp phần động viên cán bộ hội viên, đoàn viên tích cực tham gia các phong trào thi đua lao động sản xuất, học tập và công tác. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp được nâng lên, công tác quản lý nhà nước, công tác cải cách hành chính có chuyển biến rõ nét. Phương thức lãnh đạo của cấp ủy các cấp tiếp tục được đổi mới, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo. chỉ đạo tại từng đơn vị địa phương, cơ  sở và lĩnh vực. 
Với chủ đề “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực; xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định, phát triển bền vững”, Đại hội xác định phương hướng nhiệm vụ và một số chỉ tiêu chủ yếu nhiệm kỳ 2015-2020: Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt trên 9%/năm; đến năm 2020 thu ngân sách trên địa bàn 3.500 tỷ đồng; trên 52% lao động qua đào tạo; 80% số người trong độ tuổi đạt trình độ trung học phổ thông và tương đương; 100% số xã đạt tiêu chí về y tế; ít nhất có 25 xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ giảm hộ nghèo hằng năm đạt từ 3 đến 4%; độ che phủ rừng đạt 63,75%; trong nhiệm kỳ kết nạp trên 5.000 đảng viên, 100% thôn, làng có tổ chức đảng.

Đại hội xác định 7 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu cho nhiệm kỳ 2015-2020: Một là, tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại. Hai là, thực hiện tái cơ cấu đồng bộ nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh gắn với đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH. Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Bốn là, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại. Năm là, tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ.Sáu là, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Bảy là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hướng về cơ sở.

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân đánh giá cao những kết quả mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Kon Tum đã đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua: Là một tỉnh miền núi, biên giới, điều kiện kinh tế - xã hội rất khó khăn, nhưng toàn thể cán bộ, quân và dân trong tỉnh đã cố gắng nỗ lực vượt qua thử thách, giành được kết quả đáng khích lệ. Đồng thời, Đại hội cần tập trung thời gian thảo luận, đánh giá đúng tình hình, nhất là những hạn chế, tồn tại như: Thu hút đầu tư còn hạn chế, xây dựng nông thôn mới tiến độ chậm, công tác giảm nghèo chưa bền vững, mức sống của vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn. Qua đánh giá tình hình, yêu cầu Đảng bộ cần phân tích, tìm ra nguyên nhân của hạn chế, nhất là những nguyên nhân thuộc về chủ quan, qua đó để làm cơ sở xác định phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp cho nhiệm kỳ tới. Về nhiệm vụ thời gian tới: Đảng bộ, quân và dân tỉnh Kon Tum cần tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả Kết luận số 12 của Bộ Chính trị (khóa XI) về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên; thực hiện tốt công tác quy hoạch, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, khoáng sản; bảo vệ, phát triển rừng theo hướng bền vững; thu hút mạnh đầu tư; tập trung nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới; phát huy thế mạnh của vùng tam giác phát triển; cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tập trung nâng cao chất lượng của các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, nhất là phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo giảm nghèo bền vững, chống tái nghèo; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất Tây Nguyên, nhất là không gian văn hóa cồng chiêng; thường xuyên coi trọng việc giáo dục, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng; tập trung xây dựng Đảng, hệ thống chính trị vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý Nghị quyết Trung ương 4 về “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phó Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị đại biểu đại hội nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, sáng suốt lựa chọn những đồng chí tiêu biểu để bầu vào BCH Đảng bộ tỉnh khóa XV và bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Đại hội đã tiến hành bầu BCH Đảng bộ tỉnh khóa XV, nhiệm kỳ 2015-2020 gồm 54 đồng chí (trong đó: 19 đồng chí tham gia cấp ủy lần đầu; có 8 nữ, tỷ lệ 14,81%; 18 người dân tộc thiểu số, tỷ lệ 33,3%). Tại Hội nghị lần thứ nhất, BCH đã bầu BTV gồm 15 đồng chí (trong đó: tái cử 14); đồng chí Nguyễn Văn Hùng được bầu tái cử giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Y Mửi và đồng chí Đào Xuân Quý tái cử giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy; bầu Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy gồm 11 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Hòa tái cử giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

Đại hội đã bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội XII của Đảng gồm 15 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết.

Phát biểu bế mạc Đại hội, đồng chí Nguyễn Văn Hùng- Bí thư Tỉnh ủy đề nghị: Ngay sau Đại hội, từng cấp uỷ, tổ chức đảng từ tỉnh đến cơ sở phải thực hiện nghiêm túc việc phổ biến và quán triệt Nghị quyết của Đại hội, để Nghị quyết thấm sâu vào từng đảng viên, đoàn viên, hội viên và từng người dân, sớm phát huy tác dụng trong cuộc sống, trở thành hành động cụ thể, thiết thực của mỗi người. Đồng thời, phải lựa chọn những nhiệm vụ trọng tâm, bức xúc nhất để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện một cách kịp thời và quyết liệt, bảo đảm tạo chuyển biến thực sự rõ nét ngay từ những tháng đầu, quý đầu của nhiệm kỳ 2015-2020. Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ cấp thiết đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí đại biểu dự Đại hội phải thống nhất về nhận thức và hành động, đề cao tinh thần đoàn kết, tiền phong gương mẫu, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống, xây dựng phong cách làm việc gần dân, sát cơ sở, bám sát quy chế, quy trình, chương trình, kế hoạch công tác, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; trong điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao phải kịp thời, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, biết làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định và phát triển bền vững.

Đồng chí Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh thêm: Thành công của Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh tạo nên sức mạnh cổ vũ to lớn trong toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân của tỉnh vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ cơ hội mới, phấn đấu vì mục tiêu xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định và phát triển bền vững. Nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV là rất nặng nề nhưng cũng rất vinh dự, vẻ vang. Với những thành quả quan trọng và những bài học, kinh nghiệm quý báu của nhiệm kỳ qua, trong bối cảnh cả nước đang ra sức phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta tin tưởng sâu sắc 5 năm tới đây sẽ là thời kỳ phát triển toàn diện và mạnh mẽ của tỉnh nhà; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh quyết tâm lãnh đạo và tổ chức thực hiện thành công Nghị quyết mà Đại hội đề ra, xứng đáng với niềm tin và sự mong đợi của Đảng bộ, quân và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh tiếp tục chung sức, đồng lòng, phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang và những thành quả to lớn đã đạt được; đoàn kết một lòng, tích cực cống hiến sức lực, tài năng và trí tuệ, cùng nhau vượt qua khó khăn, thử thách, vững bước tiến lên, quyết tâm xây dựng quê hương Kon Tum ngày càng phát triển, cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

D. NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ XV ĐẢNG BỘ TỈNH

Ngày 09-10-2015, thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội, đồng chí Nguyễn Văn Hùng đã ký ban hành Nghị quyết số 08-NQ/ĐH về Đại hội Đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Kon Tum. Nội dung cụ thể sau:

Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Kon Tum nhiệm kỳ 2015-2020 được tổ chức từ ngày 01-10 đến ngày 03-10-2015 tại Hội trường Ngọc Linh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

QUYẾT NGHỊ

I. Tán thành những nội dung đánh giá tình hình 5 năm 2010-2015 và mục tiêu chủ yếu, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp cơ bản 5 năm 2015-2020 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội:

1. Về đánh giá tình hình 5 năm 2010-2015, Đại hội khẳng định nhiệm kỳ qua, với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng: Kinh tế duy trì mức tăng trưởng tương đối cao (bình quân 13,94%/năm) với cơ cấu khá hợp lý. Chất lượng nguồn nhân lực và đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân chuyển biến rõ nét. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền được nâng lên. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị xã hội ổn định. Tuy nhiên, kinh tế tỉnh Kon Tum vẫn còn chậm phát triển, quy mô nhỏ, sức cạnh tranh thấp. Đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận Nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Văn hóa, giáo dục, y tế vẫn còn có mặt hạn chế; một số vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết triệt để. Hệ thống chính trị ở cơ sở có nơi hiệu quả chưa cao. An ninh chính trị còn tiềm ẩn nhân tố gây mất ổn định.

2. Về mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn 2015-2020, Đại hội nhất trí:

2.1. Mục tiêu

a. Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền; củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc; quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế của tỉnh để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn với xây dựng nông thôn mới; duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống. Phấn đấu xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định và phát triển bền vững.

b. Các chỉ tiêu chủ yếu

Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2015-2020 trên 9%/năm. Đến năm 2020, tỷ trọng các ngành trong trong cơ cấu kinh tế[2]: nông-lâm-thuỷ sản là 26-27%, công nghiệp-xây dựng là 31-32%, thương mại-dịch vụ là 35-36%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 2.500 USD; thu ngân sách nhà nước tại địa bàn trên 3.500 tỷ đồng.

Đến năm 2020, dân số khoảng 580 nghìn người; trên 52% lao động qua đào tạo; có 80% người trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương; 100% xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã; 50% xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa; ít nhất 25 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 3-4%/năm.

Đến năm 2020, trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; độ che phủ rừng đạt trên 63,75%.

Đến năm 2020, kết nạp mới trên 5.000 đảng viên; 100% thôn, tổ dân phố có tổ chức đảng; trên 75% quần chúng được tập hợp vào các tổ chức chính trị-xã hội.

2.2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

- Tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại

Rà soát, bổ sung các quy hoạch về kết cấu hạ tầng[3], đa dạng hóa nguồn vốn và phương thức huy động để khắc phục điểm yếu về kết cấu hạ tầng. Thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư cho nhân dân khi thực hiện các công trình, dự án có thu hồi đất. Hoàn thiện hệ thống giao thông có tính chất kết nối đối ngoại và nội tỉnh, phối hợp đầu tư hoàn chỉnh quốc lộ 14C, 24, 40, đầu tư đường Hồ Chí Minh đoạn tránh qua thành phố Kon Tum và các thị xã, thị trấn. Nâng cấp một số tỉnh lộ, đầu tư đường ra biên giới, đến cửa khẩu và đến trung tâm xã, cụm xã.

Đề nghị Trung ương đầu tư các công trình, cụm công trình thủy lợi có quy mô lớn. Nâng cấp, sửa chữa các công trình thủy lợi đã có, xây dựng đồng bộ hệ thống kênh, mương để phát huy tối đa hiệu quả công trình. Rà soát, tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư nguồn và lưới điện trên địa bàn, phấn đấu đến cuối năm 2020 có trên 99% hộ dân được sử dụng điện.

Đầu tư trường lớp, thiết bị dạy và học theo chuẩn quốc gia; nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh đạt tiêu chí bệnh viện hạng II vào năm 2017 và đạt được các tiêu chí cơ bản của bệnh viện hạng I vào năm 2020; đầu tư Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Hồi, Bệnh viện y học cổ truyền và các Trung tâm y tế huyện, cơ sở y tế trên địa bàn và tăng cường cơ sở vật chất để đảm bảo 100% xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế; phát triển nhanh hạ tầng công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình với công nghệ hiện đại; xây dựng hạ tầng khoa học, công nghệ, hình thành khu nông nghiệp công nghệ cao; tiếp tục đầu tư hạ tầng văn hóa, thể thao, du lịch… đáp ứng nhu cầu của Nhân dân.

Ưu tiên đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng đô thị, trước hết tập trung khắc phục vấn đề tiêu thoát nước, xử lý rác thải, cấp nước, điểm vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa… Tập trung nguồn lực để thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới; lồng ghép, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn để đầu tư trung tâm xã, cụm xã, công trình hạ tầng thiết yếu ở vùng dân tộc thiểu số, vùng biên giới và vùng bị thiệt hại do thiên tai.

Huy động và bố trí nguồn lực thỏa đáng để đầu tư kết cấu hạ tầng ba vùng kinh tế động lực: Tại thành phố Kon Tum, tập trung triển khai một số công trình trọng điểm như Khu trung tâm hành chính mới, các khu đô thị mới, các khu, cụm công nghiệp, phấn đấu xây dựng thành phố Kon Tum thành đô thị loại II vào năm 2020. Tại huyện Ngọc Hồi, ưu tiên chỉnh trang đô thị để thành lập thị xã vào nửa đầu nhiệm kỳ 2016-2020; khai thác quỹ đất tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y để phát triển hạ tầng cửa khẩu... Tại huyện Kon Plông, tiếp tục hoàn thiện kết cấu hạ tầng của đô thị loại V để thành lập thị trấn vào nửa đầu nhiệm kỳ 2016-2020.

- Thực hiện tái cơ cấu đồng bộ nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh gắn với đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà

Xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020; tăng cường kỷ luật ngân sách, xử lý có kết quả tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản và nợ đọng thuế. Sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập, các ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp, giảm dần trợ cấp từ ngân sách. Quản lý chặt chẽ doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể.

Đẩy mạnh xúc tiến, thu hút doanh nghiệp, nhà đầu tư có tiềm lực vào địa bàn, hình thành đơn vị kinh tế mạnh của tỉnh. Tăng cường ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực, tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, trong đó:

Tiếp tục phát triển toàn diện nông nghiệp đi vào chiều sâu, theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng một số vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, ứng dụng công nghệ cao. Phấn đấu đến năm 2020, sản lượng cao su đạt 90-95 ngàn tấn, cà phê 35-40 ngàn tấn, sắn trên 400 ngàn tấn, sâm Ngọc Linh trên 150 tấn, rau hoa xứ lạnh 45 ngàn tấn, cá Tầm, cá Hồi 1.000 tấn. Trồng thử nghiệm cây Mắc ca ở những nơi phù hợp. Phát triển chăn nuôi đại gia súc (bò, dê) lấy thịt và sữa tại một số vùng có điều kiện. Phát triển kinh tế lâm nghiệp, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng nguyên liệu theo quy hoạch, thực hiện tốt việc khai thác lâm sản theo hướng bền vững; rà soát, chuyển đổi một phần diện tích đất lâm nghiệp sử dụng không hiệu quả và ở vị trí thuận lợi để bố trí đất sản xuất cho Nhân dân và một số dự án nông nghiệp tập trung.

Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm công nghiệp tỉnh có tiềm năng và phù hợp với nhu cầu thị trường. Phối hợp tháo gỡ khó khăn để Nhà máy bột giấy và giấy, các công trình thuỷ điện đi vào sản xuất; phát triển cơ sở chế biến lâm sản theo quy hoạch; chế biến sâu sản phẩm cà phê, cao su, nông sản khác, phấn đấu đến năm 2020 đạt sản lượng một số sản phẩm chủ yếu: 10 ngàn tấn cà phê bột, 3 ngàn tấn cà phê hòa tan, 136 ngàn tấn tinh bột sắn, 140 triệu lít cồn sinh học, 3 triệu sản phẩm sản xuất từ cao su, 150 ngàn tấn bột giấy và giấy, 2,2 tỷ kwh điện sản xuất tại địa phương. Thu hút đầu tư mới cơ sở công nghiệp có quy mô thích hợp, công nghệ tiên tiến hiện đại, chế biến tinh, thân thiện với môi trường.

Phát triển mạnh thương mại-dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ của Nhân dân. Xã hội hóa việc phát triển hệ thống siêu thị, chợ, trung tâm thương mại ở vùng thuận lợi, hỗ trợ khuyến khích đầu tư chợ, cửa hàng ở vùng khó khăn, hình thành hệ thống phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đến vùng sâu, vùng xa; từng bước phát triển thương mại điện tử. Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin, tư vấn, chăm sóc sức khỏe, giải trí... đáp ứng nhu cầu của Nhân dân. Phát triển hệ thống khách sạn, nhà hàng và hạ tầng thiết yếu khác để phục vụ du lịch. Khai thác tối đa tiềm năng lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, bản sắc văn hóa, di tích lịch sử, di sản vật thể và phi vật thể... để thu hút du khách đến với tỉnh.

Tiếp tục củng cố và phát triển có chiều sâu các mối quan hệ hợp tác đã được thiết lập, nhất là quan hệ với các tỉnh trong khu vực Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia và các địa phương trên trục Đông-Tây từ Đông Bắc Thái Lan-Nam Lào-các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải miền Trung Việt Nam qua cặp cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum, Việt Nam)-Phu Cưa (Attapư, Lào). Nghiên cứu thiết lập quan hệ hợp tác với một số địa phương của Pháp và các nước Âu-Mỹ có thế mạnh về du lịch, quy hoạch và quản lý đô thị...

- Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phấn đấu đến cuối năm 2020 có trên 52% lao động qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề đạt 36,5%. Tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để thu hút nhân lực chất lượng cao đến làm việc tại tỉnh; hình thành thị trường cung ứng nguồn nhân lực và mở rộng hợp tác quốc tế trên lĩnh vực này.

Thực hiện tốt chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học, ưu tiên ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phấn đấu trên 40% trường Mầm non, 58% trường Tiểu học, 40% trường Trung học cơ sở, 45% trường Trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của các cơ sở đào tạo, giáo dục. Tiếp tục thực hiện tốt hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo.

Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Tiếp tục củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế, từng bước hiện đại hoá các trang thiết bị khám, chữa bệnh. Khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập chất lượng cao. Tăng cường hợp tác, liên kết khám, chữa bệnh giữa các cơ sở y tế trong tỉnh với các bệnh viện có chất lượng cao trong nước. 

Chú trọng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong tỉnh, phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao. Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong thời kỳ mới, nhất là các loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể. Đầu tư nâng cấp các di tích lịch sử cách mạng tương xứng với giá trị lịch sử của công trình. Phấn đấu đến năm 2020, có 70% thôn, tổ dân phố đạt danh hiệu văn hóa. Khuyến khích sáng tạo các tác phẩm văn hóa, văn học-nghệ thuật về vùng đất và con người Kon Tum. Chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa. Tạo điều kiện phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng, phát triển các môn thể thao chuyên nghiệp, thành tích cao mà tỉnh có thế mạnh.

Đẩy nhanh công tác giảm nghèo bền vững, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả hơn các chương trình, dự án phục vụ trực tiếp cho công tác giảm nghèo; chú trọng nhân rộng các mô hình giảm nghèo bền vững. Triển khai đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội; quan tâm chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người cao tuổi, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, người khuyết tật. Thực hiện tốt phong trào đền ơn, đáp nghĩa và hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách dân tộc, nhất là hỗ trợ định canh, định cư, đất ở, đất sản xuất, nhà ở đối với dân tộc thiểu số và hộ nghèo.

Tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước; đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trên một số lĩnh vực. Đẩy mạnh hợp tác với các cơ sở nghiên cứu có tiềm lực và kinh nghiệm để triển khai các dự án khoa học phục vụ nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chế biến phát triển sản phẩm mới, sản phẩm dược liệu... Rà soát, bổ sung, sửa đổi quy trình, tiêu chí lựa chọn và ứng dụng các đề tài khoa học; có chế độ khen thưởng hợp lý và hỗ trợ đối với những tổ chức, cá nhân có sáng kiến khoa học tiêu biểu.

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nâng độ che phủ rừng lên trên 63,75% (bao gồm cả cây đa mục tiêu), chú trọng bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Kiên quyết di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư. Nâng cấp hệ thống xử lý nước thải, chất thải, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, khu dân cư, khu sản xuất tập trung, khu chăn nuôi, khu giết mổ gia súc, gia cầm. Triển khai các biện pháp chống xói mòn, sạt lở đất, biến đổi dòng chảy, ô nhiễm nguồn nước, thay đổi hệ sinh thái theo hướng tác động tiêu cực đến môi trường.

- Bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại

Chủ động đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", "bạo loạn, lật đổ" của các thế lực thù địch, phản động; không để xảy ra biểu tình, vượt biên, trốn đi nước ngoài trái phép, nhen nhóm hình thành tổ chức phản động; đấu tranh xóa bỏ triệt để tà đạo Hà Mòn, ngăn chặn hoạt động trái pháp luật.

Thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, chủ động tấn công, trấn áp các loại tội phạm. Chủ động phát hiện, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tài nguyên, tệ nạn xã hội, trật tự an toàn giao thông. Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp. Chủ động thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí.

Triển khai có hiệu quả các hoạt động hội nhập quốc tế, trong đó củng cố, tăng cường quan hệ, hợp tác toàn diện với các tỉnh giáp biên của Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia; thiết lập quan hệ, hợp tác trên một số lĩnh vực với một số tỉnh Đông Bắc Thái Lan. Phấn đấu hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc tuyến biên giới Việt Nam-Campuchia. Sớm mở các cửa khẩu phụ ở những nơi có đủ điều kiện và nâng cấp các cửa khẩu phụ lên cửa khẩu chính để thúc đẩy phát triển kinh tế cửa khẩu trên địa bàn.

- Tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ

Tích cực đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng. Có biện pháp tuyên truyền đa dạng, sát cơ sở, phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn; đấu tranh ngăn ngừa biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng và bố trí đội ngũ báo cáo viên cấp uỷ các cấp, tuyên truyền viên thực sự có năng lực, chuyên môn phù hợp. Tiếp tục sắp xếp tổ chức, bộ máy các cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội các cấp đảm bảo tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; trọng tâm là rà soát, khắc phục có hiệu quả các khuyết điểm, yếu kém đã chỉ ra. Không ngừng đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ. Tích cực tạo nguồn, kết nạp đảng viên mới gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; phấn đấu trên 50% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, trong đó trên 15% đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu; trên 70% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, năng lực, trách nhiệm, tâm huyết với nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác điều động, luân chuyển cán bộ, nhất là lựa chọn, luân chuyển cán bộ giữ chức vụ trưởng, phó phòng các cơ quan tham mưu tổng hợp cấp tỉnh về giữ các chức danh chủ chốt ở cấp huyện để đào tạo, chuẩn bị nguồn cán bộ lâu dài. Thực hiện tốt việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đầu tư đúng mức cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức xã, phường, thị trấn theo tiêu chuẩn chức danh; phấn đấu trên 80% cán bộ chủ chốt và trên 90% công chức cấp xã đạt chuẩn. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy các cấp đối với việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm. Kịp thời xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, đảm bảo đồng bộ giữa kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính và kỷ luật đoàn thể. Tiếp tục thực hiện Quy chế chất vấn trong Đảng.

Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Thực hiện tốt Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa bí thư cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chính quyền các cấp với Nhân dân.

Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của các cấp uỷ, tổ chức đảng theo hướng xác định rõ vấn đề cấp ủy quyết định, vấn đề cấp ủy cho ý kiến và vấn đề chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội chủ động triển khai thực hiện. Kịp thời bổ sung, hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy chế, quy trình công tác; tăng cường đi cơ sở. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp và cải cách thủ tục hành chính trong Đảng.

- Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp

Không ngừng nâng cao chất lượng của Hội đồng nhân dân các cấp trong hoạt động quyết định và giám sát. Đẩy mạnh cải cách hành chính; thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở tất cả các cơ quan hành chính, tiến tới từng bước xây dựng chính quyền điện tử. Đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp. Tập trung củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở; chăm lo xây dựng các thôn, tổ dân phố vững mạnh, an toàn.  

- Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hướng về cơ sở

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội phát huy hơn nữa vai trò trong việc giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; phấn đấu từng tổ chức chính trị-xã hội tập hợp trên 75% quần chúng vào tổ chức; kịp thời nắm bắt tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của đoàn viên, hội viên, các tầng lớp Nhân dân, tham gia với các cơ quan chức năng để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống Nhân dân ngay tại cơ sở; kiện toàn, củng cố các cơ sở hoạt động yếu kém; phân công đoàn viên, hội viên phụ trách hộ, nhóm hộ; xây dựng lực lượng cốt cán ở cơ sở góp phần xây dựng thôn, tổ dân phố vững mạnh toàn diện.

II. Thông qua Báo cáo kiểm điểm, Báo cáo tổng kết Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV cần phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác, bảo đảm lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đề ra.

III. Thông qua Báo cáo tổng hợp ý kiến của tổ chức đảng các cấp và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đại hội để báo cáo Trung ương theo quy định.

IV. Bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV gồm 54 đồng chí và Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng gồm 15 đại biểu chính thức và 02 đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và các cơ quan tham mưu giúp việc Trung ương để chuẩn y theo quy định.

V. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV căn cứ vào Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh và trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, khẩn trương xây dựng chương trình công tác toàn khóa, các kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực hiện trong thực tiễn cuộc sống.

*

*     *

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV nhiệm kỳ 2015-2020 kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ, tận dụng  thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách, chủ động, sáng tạo, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Quyết tâm “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực; xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định, phát triển bền vững", góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng.

E. TIN TỨC- SỰ KIỆN

I. TIN TRONG TỈNH

1. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tháng 10 và 10 tháng năm 2015

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2015: Tổng diện tích gieo trồng  (DTGT) cây hàng năm vụ Mùa 2015 tỉnh Kon Tum là: 64.069 ha, tăng 2,78% (+1.732 ha) so với vụ Mùa năm 2014. DTGT cây hàng năm vụ Mùa tăng chủ yếu do diện tích cây sắn tăng.

Cây lúa DTGT: 16.697 ha, tăng 1,94% (+317 ha) so vụ Mùa năm 2014. Trong đó: Cây lúa ruộng DTGT: 12.083 ha, tăng 5,4% (+624 ha) so vụ Mùa năm 2014; Cây lúa rẫy DTGT: 4.614 ha, giảm 6,2% (-307 ha) so vụ Mùa năm 2014. Diện tích gieo trồng cây lúa rẫy giảm do hiệu quả kinh tế không cao.

Cây ngô DTGT: 5.572 ha, giảm 4,78% (-280 ha) so vụ Mùa năm 2014. Diện tích ngô giảm chủ yếu do diện tích trồng ngô ven sông Đăk Bla, thành phố Kon Tum  nay đã được quy hoạch đất khu đô thị.

Cây sắn DTGT: 39.649 ha, tăng 4,22% (+1.605 ha) so vụ Mùa năm 2014. Diện tích gieo trồng cây sắn tăng do năm nay giá sắn tăng, sản phẩm tiêu thụ ổn định nên người dân đã tận dụng một số diện tích đất trống và diện tích cây ngô, cây lúa rẫy không đạt hiệu quả chuyển sang trồng sắn.

Rau các loại DTGT: 1.198 ha, tăng 7,64% (+86 ha) so vụ Mùa năm 2014.

Đậu các loại DTGT: 418 ha, giảm 0,48% (-2 ha) so vụ Mùa năm 2014.

Cây lạc DTGT: 209 ha, tăng 1,95% (+4 ha) so vụ Mùa năm 2014.

Đến nay cây trồng vụ Mùa sinh trưởng và phát triển tốt, nhưng cũng đã xuất hiện hiện tượng sâu bệnh trên cây lúa. Tuy nhiên, các trạm Bảo vệ thực vật và UBND các xã, phường đã chủ động hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh cho bà con nông dân ngay từ khi bệnh mới xuất hiện nên hầu hết các loại sâu, bệnh hại phát sinh đều được phòng trừ kịp thời.

+ Diện tích cây lâu năm: Tính đến thời điểm ngày 15/10/2015, tổng diện tích cây lâu năm trên địa bàn tỉnh là: 93.183 ha, tăng 1,02% (+944 ha) so cùng kỳ năm trước.

Diện tích cây cao su là 74.625 ha, giảm 0,39% (-292 ha), trong đó: diện tích trồng mới là 384 ha, giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân do giá mủ cao su thời gian gần đây giảm nên người dân giảm đầu tư và trồng mới.

Diện tích cây cà phê là 15.248 ha, tăng 8,1% (+1.141 ha), trong đó: diện tích trồng mới là 1.157 ha. Do những năm gần đây giá cà phê luôn ổn định vì vậy người dân đã tập trung đầu tư trồng mới, chăm sóc cây cà phê.

- Chăn nuôi

Từ ngày 02/10/2015 đến ngày 06/10/2015 tại Thôn Ngọc Yên, Xã Đăk Xú, Huyện Ngọc Hồi có hiện tượng gia cầm ốm và chết tại 01 hộ chăn nuôi, nguyên nhân gia cầm bị chết là do mắc bệnh Cúm gia cầm H5N1, các cơ quan thú y, UBND xã và hộ chăn nuôi đã tiêu hủy 2.701 con, trong đó số gia cầm đã chết khoảng 1.500 con, đến nay không xuất hiện gia cầm ốm và chết.

b) Lâm nghiệp

Tính đến thời điểm 15/10/2015, diện tích rừng trồng mới tập trung trên địa bàn tỉnh đạt 1.998 ha, tăng 2,46% (+48 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã xảy ra 8 vụ cháy rừng, với tổng diện tích thiệt hại (mức độ thiệt hại từ 40-60%) là 34,29 ha, tăng 8 vụ so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến 15/10/2015, trên địa bàn tỉnh xảy ra 55 vụ vi phạm phá rừng với diện tích thiệt hại là 4,15 ha, giảm 55 vụ so với cùng kỳ năm trước.

Công tác khai thác lâm sản: tính đến thời điểm 15/10/2015 sản lượng gỗ khai thác được 20.845 m3, tăng 24,79% (+4.141 m3) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do công tác khai thác gỗ rừng trồng nguyên liệu giấy và khai thác tận dụng tỉa thưa nuôi dưỡng rừng trồng khác tăng so với cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác được là: 228.000 Ste, tăng 11,56% (+23.621 Ste) so với cùng kỳ năm trước.

c) Thủy sản (có đến 15/10/2015)

Diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính là 570 ha tăng 5,17% (+28 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thuỷ sản ước tính 2.758 tấn, tăng 10,28% (+257 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Sản lượng nuôi trồng nước ngọt ước tính 1.638 tấn, tăng 10,15% (+151 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác nước ngọt ước tính 1.120 tấn, tăng 10,45% (+106 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thuỷ sản tăng chủ yếu do diện tích nuôi trồng tăng 5,17% (+28 ha) so với cùng kỳ năm trước, bên cạnh đó việc khai thác đánh bắt trên các lòng hồ thủy lợi, thuỷ điện thuận lợi nên các hộ khai thác đã tăng đầu tư phương tiện đánh bắt, do vậy sản lượng thuỷ sản tăng lên.

2. Công nghiệp

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2015:

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2015 ước tính tăng 5,98% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 10 năm 2015 tăng so cùng kỳ năm trước chủ yếu do chỉ số ở ngành công nghiệp chế biến tăng (tăng 16,35%), nguyên nhân năm nay nguồn cung cấp nguyên liệu sắn tương đối dồi dào, sản  phẩm tinh bột sắn sản xuất ra có thị trường tiêu thụ ổn định nên sản lượng sản xuất tăng; ngành sản xuất cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải tăng 4,60% so cùng kỳ. Riêng 2 ngành sản xuất có chỉ số sản xuất giảm là ngành công nghiệp khai thác khoáng sản và ngành sản xuất và phân phối điện; cụ thể ngành công nghiệp khai thác khoáng sản có chỉ số sản xuất giảm 10,45%, nguyên nhân chủ yếu là do Công ty TNHH MTV khoáng sản Hoàng Anh Gia Lai - Kon Tum  ngừng khai thác quặng sắt trên địa bàn tỉnh; Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,05% do các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết giảm công suất các nhà máy nhằm ổn định lượng nước trên các hồ chứa để duy trì hoạt động.

So với tháng trước chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2015 ước tính tăng 6,87%; Trong đó ngành công nghiệp khai thác tăng 13,55% do nhu cầu tiêu thụ đá xây dựng các tháng cuối năm tăng nên các đơn vị đã tăng sản lượng sản xuất, ngành công nghiệp chế biến tăng 6,95% do các nhà máy sản xuất tinh bột sắn đang trong thời gian sản xuất ổn định, lượng tinh bột sắn sản xuất tăng, ngành sản xuất phân phối điện tăng 6,29% so tháng trước.

- Tình hình hoạt động  sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2015:

Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2015 tăng 6,74% so cùng kỳ năm trước; trong đó tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến (tăng 14,95%), nguyên nhân là do sản phẩm đường, tinh bột sắn sản xuất tăng; ngành khai thác cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải tăng 3,37%; ngành sản xuất điện giảm nhẹ so cùng kỳ (giảm 4,57%), nguyên nhân là do năm nay tình hình nắng hạn kéo dài hơn so với năm trước nên các đơn vị đã chủ động điều tiết giảm công suất hoạt động của các nhà máy nhằm ổn định sản lượng điện sản xuất trong mùa khô; ngành công nghiệp khai thác khoáng sản ước tính chỉ số sản xuất giảm 12,58% do Công ty TNHH MTV khoáng sản Hoàng Anh Gia Lai - Kon Tum  ngừng khai thác quặng sắt trên địa bàn tỉnh.

Ước tính một số sản phẩm sản xuất trong 10 tháng năm 2015 như sau: Đá xây dựng khai thác 484.974 m3, giảm 6,83% so cùng kỳ năm trước; Tinh bột sắn sản xuất 161.224 tấn, tăng 106,17% so cùng kỳ năm trước; lượng đường sản xuất 11.664 tấn, tăng 21,45% so cùng kỳ năm trước; bàn, ghế sản xuất 162.399 chiếc, bằng 86,44% so cùng kỳ, điện sản xuất 636,44 triệu Kwh, bằng 92,23% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng của năm 2015 chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 51,66 % so cùng kỳ năm trước. Trong đó tăng cao nhất thuộc ngành sản xuất chế biến thực phẩm (tăng 83,31%), nguyên nhân chính do sản lượng tinh bột sắn sản xuất tăng cao nên lượng xuất kho tiêu thụ cũng tăng theo đã làm cho chỉ số tiêu thụ nhóm ngành chế biến thực phẩm tăng mạnh; sản phẩm sản xuất thuộc các ngành như sản xuất trang phục, sản xuất hóa chất, sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại… tình hình xuất kho tiêu thụ ổn định và tăng tương ứng theo sản lượng sản xuất ra. Riêng ngành sản xuất bàn, ghế chỉ số tiêu thụ sản phẩm sản xuất giảm (giảm 15,23%) do thị trường xuất khẩu khó khăn, các đơn vị sản xuất ra sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong thị trường nội địa nên lượng tiêu thụ chậm.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thời điểm 01/10/2015 giảm 18,77% so cùng thời điểm tháng trước; trong đó mức giảm thấp nhất thuộc ngành chế biến thực phẩm (giảm 31,42%), nguyên nhân thời điểm hiện tại Công ty cổ phần Đường Kon Tum tạm ngừng sản xuất thời vụ, không có sản phẩm nhập kho, chỉ xuất kho tiêu thụ nên chỉ số tồn kho ngành này giảm mạnh; các ngành sản xuất còn lại tình hình tiêu thụ sản phẩm sản xuất tương đối thuận lợi nên chỉ số tồn kho sản phẩm đều giảm so cùng thời điểm tháng trước. So cùng thời điểm năm trước chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 58,62%; Trong đó tăng cao nhất là ngành chế biến thực phẩm (tăng 115,78%), nguyên nhân tăng do là đang chính vụ thu hoạch nguyên liệu, sản lượng tinh bột sắn sản xuất và nhập kho tăng cao; ngành chế biến gỗ tăng 48,17% do lượng xuất khẩu thấp, chủ yếu bán trong thị trường nội địa nên lượng tiêu thụ chậm; các ngành sản xuất khác chỉ số tồn kho đều giảm so cùng thời điểm năm trước.  

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong 10 tháng năm 2015 vẫn duy trì hoạt động sản xuất ổn định, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao. Đánh giá chung toàn ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất tăng trưởng khá so cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến luôn hoạt động ổn định và có mức tăng trưởng cao nhất, nguyên nhân trong năm nguồn nguyên liệu sắn tương đối dồi dào, sản phẩm tinh bột sắn sản xuất ra có thị trường tiêu thụ ổn định, các đơn vị đã tập trung thu mua nguyên liệu để sản xuất nên sản phẩm tinh bột sắn sản xuất tăng cao; Ngoài ra Công ty cổ phần Đường Kon Tum có thời gian hoạt động sản xuất dài hơn so với năm trước nên sản phẩm đường sản xuất cũng tăng. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…hoạt động tương đối ổn định. Ngành sản xuất sản phẩm bàn, ghế trong năm vẫn còn gặp khó khăn, nguyên nhân là do thiếu nguồn nguyên liệu sản xuất và khó khăn về nguồn tài chính, chưa tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra nên các đơn vị hạn chế sản xuất, tuy nhiên đến các tháng cuối năm tình hình sản xuất có thuận lợi hơn nên các đơn vị sản xuất đang xúc tiến tăng sản lượng sản xuất. Bên cạnh, ngành khai thác khoáng sản có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ, nguyên nhân là do Công ty TNHH MTV khoáng sản Hoàng Anh Gia Lai - Kon Tum đã ngừng khai thác quặng sắt trên địa bàn tỉnh. Đối với ngành sản xuất điện, sản lượng điện sản xuất trong 10 tháng năm 2015 giảm nhẹ so cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu do năm nay tình hình nắng hạn kéo dài hơn so năm trước nên các đơn vị sản xuất điện chủ động điều tiết công suất nhằm ổn định sản xuất.

3. Vốn đầu tư

- Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển tháng  10  năm 2015 thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt: 91.853 triệu đồng, Chia ra:

Nguồn vốn Ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt : 69.808 triệu đồng, chiếm 76,00% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông nông thôn, giáo dục, y tế,  .... Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách tỉnh đạt 9.452  triệu đồng, chiếm 13,54%; Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 30.560 triệu đồng, chiếm 43,78%; Nguồn vốn ODA đạt 21.420 triệu đồng, chiếm 30,68%; Nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 6.090 triệu đồng, chiếm 8,72% và nguồn vốn khác đạt 2.286 triệu đồng, chiếm 3,27% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh.

Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt: 20.795 triệu đồng, chiếm 22,64% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh . Trong đó: Nguồn vốn cân đối Ngân sách huyện đạt 7.025 triệu đồng, chiếm 33,78%; Nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 12.250 triệu đồng, chiếm 58,91% và nguồn vốn khác đạt 1.520 triệu đồng, chiếm 7,31% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện.

Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp xã đạt: 1.250 triệu đồng, chiếm 1,36% trên tổng số nguồn vốn.

- Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum 10 tháng đầu năm 2015 đạt 956.546 triệu đồng, bằng 99,01% so với cùng kỳ, đạt 78,05% kế hoạch, chia ra:

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt: 720.053 triệu đồng, tăng 20,10% so với cùng kỳ, đạt 76,29% kế hoạch.

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt: 231.866 triệu đồng, bằng 63,64% so với cùng kỳ, đạt 82,33% kế hoạch.

Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 4.627 triệu đồng: tăng 211,18% so với cùng kỳ. 

4.  Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 10 năm 2015 đạt 1.000.553 triệu đồng, tăng 2,19% so với tháng trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 828.475 triệu đồng, chiếm 82,80% trong tổng mức và tăng 2,33% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 107.076 triệu đồng, chiếm 10,70% trong tổng mức và tăng 1,62% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 65.003 triệu đồng, chiếm 6,50% trong tổng mức và tăng 1,40% so với tháng trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính 10 tháng năm 2015 đạt 9.986.800 triệu đồng, tăng 17,87% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 8.259.634 triệu đồng, chiếm 82,71% trong tổng mức và tăng 18,75% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 1.080.597 triệu đồng, chiếm 10,82% trong tổng mức và tăng 19,61% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 646.569 triệu đồng, chiếm 6,47% trong tổng mức và tăng 5,37% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 10 tháng năm 2015 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: số lượng doanh nghiệp ngoài Nhà nước đăng ký mới đã đi vào hoạt động, một số doanh nghiệp ngừng hoạt động đã trở lại hoạt động và các cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ cá thể trên địa bàn tỉnh tăng; một số doanh nghiệp đã chủ động mở rộng quy mô, hoạt động đa ngành nghề. Hơn nữa, trong những tháng đầu năm một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã, chất lượng các mặt hàng nhằm kích thích lượng tiêu dùng  cũng như sức mua của người dân đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng.

b) Xuất, nhập khẩu

- Xuất khẩu

Ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tháng 10 năm 2015 đạt 6.027 ngàn USD, tăng 1,25 % so với số thực hiện tháng trước. Sản phẩm chủ yếu: Cà phê nhân 19 tấn; Cao su thô 2.935 tấn; Dây thun cao su 65 tấn; Sản phẩm từ gỗ (bàn, ghế các loại) 10.230 cái; Tinh bột sắn 3.000 tấn.

Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn ước tính 10 tháng năm 2015 đạt 41.221,4 ngàn USD giảm 7,50 % so với số thực hiện cùng kỳ năm trước.  Sản phẩm chủ yếu: Cà phê nhân 1237 tấn; Sắn và các sản phẩm từ sắn 14.521 tấn; Cao su thô 18.354 tấn; Dây thun cao su 1.354 tấn; Sản phẩm từ gỗ (bàn ghế các loại) 96.299 cái; gỗ ván 835,3 m3.

- Nhập khẩu

Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tháng 10 năm 2015 đạt 1.235  ngàn USD tăng 4,22% so với số thực hiện tháng trước. Sản phẩm chủ yếu: Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 220 m3; Bộ phận máy móc, thiết bị sản xuất tinh bột sắn 01 bộ.

Tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn ước tính 10 tháng năm 2015 đạt 9.716 ngàn USD, tăng 33% so với số thực hiện cùng kỳ năm trước. Sản phẩm chủ yếu: Chất dẻo nguyên liệu (Precipitated Silica) 245,8 tấn; Gỗ và sản phẩm từ gỗ (gỗ xẻ và gỗ các loại) 16.056 m3; Khoá thẻ Adel các loại 2.343 cái; Bộ phận máy móc, thiết bị sản xuất tinh bột sắn 02 bộ.

Nguyên nhân: Tổng kim ngạch nhập khẩu 10 tháng năm 2015 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: các doanh nghiệp chủ yếu nhập khẩu gỗ từ Lào về để sản xuất hàng hoá xuất khẩu sang các thị trường khác; mặc khác các doanh nghiệp đã tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm, vì vậy các doanh nghiệp hoạt động nhập khẩu thực hiện nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước.

c) Chỉ số giá

- Trong tháng 10 năm 2015 chỉ số giá của một số nhóm ngành hàng có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước, trong đó giá một số hàng hóa thiết yếu tiếp tục ổn định, tuy nhiên giá ga, xăng, dầu được điều chỉnh tăng trong tháng làm cho chỉ số giá tiêu dùng tăng. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2015 tăng 0,05% so với tháng trước; tăng 0,28% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,3% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 10 tháng đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm trước tăng 0,85%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 5 nhóm tăng: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,79%; May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,06%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,28%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,2%. Có 3 nhóm ổn định: Thuốc và Dịch vụ y tế; Bưu chính Viễn Thông; Giáo dục. Có 3 nhóm hàng giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,01%; Nhà ở điện nước chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,13%; Giao thông giảm 0,13%.

- Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh: Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới với xu hướng giảm hơn tháng trước, hiện giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 10/2015 được bán với giá khoảng là 3.281.000 đồng/chỉ giảm 1,2% so với tháng trước, tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch tại mức 23.219 đồng/USD tăng 0,02% so với tháng trước.

d) Vận tải

- Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 10 năm 2015 đạt 99.637,05 triệu đồng, tăng 2,19 % so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 37.684,73 triệu đồng, tăng      2,2 % so với tháng trước; Vận chuyển ước tính đạt 738 nghìn lượt khách, tăng 1,49 %; Luân chuyển ước tính đạt 94.881 nghìn lượt khách.km, tăng 1,89 % so với tháng trước.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 61.614,32 triệu đồng, tăng 2,17 % so với tháng trước; Vận chuyển ước tính đạt 737 nghìn tấn, tăng 1,94 %; Luân chuyển ước tính đạt 35.959 nghìn tấn.km, tăng 1,4 % so với tháng trước.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước tính đạt 338 triệu đồng, tăng 4,72 % so với tháng trước.

- Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 10 tháng năm 2015 đạt 969.061,69 triệu đồng, tăng 12,04 % so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước tính đạt 364.044,05 triệu đồng, tăng 12,13 % so với cùng kỳ năm trước; Vận chuyển ước tính đạt 7.147 nghìn lượt khách, tăng 10,52 % so với cùng kỳ năm trước; Luân chuyển ước tính đạt 920.965 nghìn lượt khách.km, tăng 11,05 % so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước tính đạt 601.589,82 triệu đồng, tăng  11,99 % so với cùng kỳ năm trước; Vận chuyển ước tính đạt 7.103 nghìn tấn, tăng 10,28 % so với cùng kỳ năm trước; Luân chuyển ước tính đạt 349.835 nghìn tấn.km, tăng 11,61 % so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải ước tính đạt 3.427,82 triệu đồng, tăng 9,68 % so với cùng kỳ năm trước.

5. Một số vấn đề xã hội 

a) Y tế

Bệnh tay - chân - miệng: Ghi nhận 5 ca mắc mới, bằng so với tháng trước và giảm 30 ca so với tháng 9/2014. Lũy tích đến 30/9/2015, ghi nhận 62 ca mắc,  giảm 191 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Bệnh thủy đậu: Ghi nhận 50 ca mắc mới, tăng 32 ca so với tháng trước và tăng 27 ca so với tháng 9/2014. Lũy tích đến 30/9/2015, ghi nhận 614 ca mắc, giảm 167 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Bệnh quai bị: Ghi nhận 102 ca mắc mới, tăng 67 ca so với tháng trước và tăng 86 ca so với tháng 9/2014. Lũy tích đến 30/9/2015, ghi nhận 529 ca mắc, tăng 204 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Bệnh sốt xuất huyết: Ghi nhận 31 ca mắc mới, tăng 16 ca so với tháng trước, tăng 28 ca so với tháng 9/2014. Luỹ tích đến 30/9/2015, ghi nhận 89 ca mắc, tăng 66 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Sốt rét: Ghi nhận 55 ca mắc mới, tăng 31 ca so với tháng trước và giảm 13 ca so với tháng 9/2014. Lũy tích đến 30/9/2015, ghi nhận 349 ca mắc, giảm 214 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Tổng số bệnh nhân lao mới phát hiện trong tháng 21 người (AFB (+): 07; AFB(-): 04; lao ngoài phổi: 10), giảm 04 bệnh nhân so với tháng trước. Tổng số bệnh nhân tâm thần mới phát hiện 11 người (tâm thần phân liệt: 03; động kinh: 8).

Trong tháng không ghi nhận bệnh nhân mắc các bệnh sởi, hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona, cúm A (H5N1, H7N9, H1N1) trên người và không ghi nhận bệnh nhân phong mới.

Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng ghi nhận 03 trường hợp nhiễm HIV mới. Tổng số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đang điều trị thuốc ARV 78 người (người lớn: 73 và trẻ em: 5); điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone cho 40 bệnh nhân và tư vấn điều trị 12 người.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn tỉnh. Tổng số ca mắc lẻ tẻ là 21 ca, nguyên nhân do uống rượu và ăn uống không đảm bảo vệ sinh.

Thanh kiểm tra việc bảo đảm an toàn thực phẩm trong dịp Tết Trung thu năm 2015. Kết quả tổng số cơ sở được kiểm tra 849, số cơ sở đạt chiếm tỷ lệ 73,5%; xử phạt vi phạm hành chính 30 cơ sở, với tổng số tiền là 28,55 triệu đồng. Tiếp và làm việc với Đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp Tết Trung thu năm 2015.

Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em: Sở Y Tế đã tổ chức 04 lớp tập huấn về phá thai an toàn cho cán bộ y tế tuyến huyện, xã; tập huấn cập nhật kiến thức nâng cao cho cô đỡ thôn bản; tập huấn cấp cứu sản khoa cho cán bộ y tế tuyến huyện và Bệnh viện Đa khoa khu vực; triển khai tư vấn điều trị trẻ SDD nặng tại 4 xã thuộc 2 huyện Đăk Tô và Ngọc Hồi; tập huấn về chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng, nhẹ cân bằng phương pháp Kangaroo cho tuyến huyện. Tính đến 30/9/2015, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ đạt 70%; tiêm phòng uốn ván UV2+ (02 mũi trở lên) cho phụ nữ có thai đạt 61,8%; tiêm phòng uốn ván UV2+ cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt 52,4%; tiêm vắc xin sởi cho trẻ 18 tháng đạt 42,6%; tiêm vắc xin DPT cho trẻ 18 tháng đạt 66%; sởi-rubella (trẻ 18 tháng) 24,4%. Nhìn chung, tính đến cuối tháng 9/2015, công tác tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi và tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ tiến độ đạt thấp.

b) Giáo dục

Ngày 08/10/2015, tại Trường THPT chuyên Nguyễn Tất Thành, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum tổ chức kỳ thi chọn Học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 năm học 2015-2016. Tham gia kỳ thi, có 397 học sinh của 26 đơn vị trong tỉnh dự thi 9 môn: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý, Lịch sử, Ngữ văn, Anh văn, Tin học. Kỳ thi chọn Học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 năm học 2015-2016 được tổ chức hàng năm nhằm đánh giá chất lượng dạy và học của các trường trên địa bàn tỉnh, công nhận kết quả phấn đấu rèn luyện của các em học sinh. Đồng thời phát hiện và tuyển chọn những học sinh có năng lực học tập để tiếp tục bồi dưỡng cho các em tham gia kỳ thi tuyển chọn học sinh giỏi cấp quốc gia. Thông qua kỳ thi, tạo điều kiện cho thầy cô giáo và học sinh của các trường trong tỉnh có dịp giao lưu, học hỏi kinh nghiệm về công tác bồi dưỡng và tuyển chọn học sinh giỏi; nhằm tích cực cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp và có hiệu quả, thi đua dạy tốt học tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh nhà.

Hiện nay các trường trung cấp, trường Cao đẳng và phân hiệu đại học trên địa bàn tỉnh đang gấp rút cho đợt tuyển sinh và chuẩn bị khai giảng năm học 2015-2016.

c) Hoạt động văn hóa, thể thao

Cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 2015 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ tuyên truyền kỷ niệm 85 năm ngày truyền thống Đảng bộ tỉnh Kon Tum (25/9/1930-25/9/2015) nhất là phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015- 2020 như: Chương trình nghệ thuật với chủ đề “Sáng mãi niềm tin theo Đảng” chào mừng thành công của Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XV. Chương trình nghệ thuật với nhiều ca khúc ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, tình yêu quê hương, đất nước do các ca sỹ, nghệ sỹ, diễn viên Đoàn Nghệ thuật tỉnh, Trung tâm Văn hóa tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, Trung tâm văn hóa thể thao thành phố Kon Tum và các cháu thiếu nhi trường Tiểu học Lê Hồng Phong biểu diễn, đã góp phần tạo không khí phấn khởi chào mừng thành công của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, đồng thời cổ vũ tạo động lực để Đảng bộ, chính quyền, các ngành, các địa phương và Nhân dân tỉnh Kon Tum tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, hăng hái thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đề ra.

 Đoàn nghệ thuật tỉnh tham gia Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc năm 2015 tổ chức tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tổ chức chương trình nghệ thuật Đại hội thi đua yêu nước tỉnh, Đại hội Hội văn học nghệ thuật tỉnh và phục vụ cơ sở…

d) Tình hình an ninh trật tự - an toàn giao thông

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 9/2015

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 28 vụ (tăng 06 vụ so với tháng trước). Trong đó: Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ, cố ý gây thương tích 08 vụ, chống người thi hành công vụ 01 vụ, dâm ô với trẻ em 01 vụ, giao cấu với trẻ em 01 vụ, trộm cắp tài sản 12 vụ, cưỡng đoạt tài sản 01 vụ, đánh bạc 01 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới 01 vụ. Hậu quả: Chết 01 người, bị thương 14 người. Thiệt hại: mất 01 mô-tô, 01 ĐTDĐ, 112.100.000 đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 20 triệu đồng.

Tai nạn giao thông: Xảy ra 05 vụ (không tăng, giảm so với tháng trước). Hậu quả: Chết 06 người (tăng 02 người so với tháng trước), bị thương 02 người (giảm 02 người so với tháng trước), hư hỏng 01 xe ô tô, 05 xe mô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 2.241 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ, tạm giữ 496 phương tiện, 1.429 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 2.101 trường hợp, thu 1.069.153.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Tình hình ANTT – ATGT 9 tháng đầu năm 2015

Phạm pháp hình sự: Phát hiện 294 vụ. Trong đó: Giết người 10 vụ; trộm cắp tài sản 111 vụ; cướp tài sản 11 vụ; cướp giật tài sản 05 vụ; trộm cắp tài sản + cưỡng đoạt tài sản 01 vụ; cưỡng đoạt tài sản 01 vụ; cố ý làm hư hỏng tài sản 05 vụ; cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 03 vụ; cố ý gây thương tích 68 vụ; làm chết người trong khi thi hành công vụ 01 vụ; hiếp dâm 09 vụ (trong đó hiếp dâm trẻ em 06 vụ); dâm ô với trẻ em 01 vụ; giao cấu với trẻ em 01 vụ; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 vụ; tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy 23 vụ; gây rối trật tự công cộng 01 vụ; xúc phạm quốc kỳ 01 vụ; lừa đảo chiếm đoạt tài sản 03 vụ; chống người thi hành công vụ 04 vụ; hủy hoại tài sản 06 vụ; công nhiên chiếm đoạt tài sản 01 vụ; vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới 02 vụ; tàng trữ, vận chuyển hàng cấm 01 vụ; đánh bạc 17 vụ; khủng bố 01 vụ; vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng 01 vụ; vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm 01 vụ; vận chuyển lâm sản trái phép 01 vụ; tàng trữ động vật hoang dã trái phép 01 vụ. Hậu quả: Chết 15 người, bị thương 83 người. Thiệt hại: Mất 28 xe mô tô, 01 xe đạp, 04 ti vi, 22 ĐTDĐ, 08 máy tính xách tay, khoảng 02 tấn gỗ trắc, 2.400 USD, 180.000đ tiền Đài Loan, 1.057.687.800 đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá khoảng 1.470 triệu đồng. 

Tai nạn giao thông: Xảy ra 66 vụ. Hậu quả: Chết 59 người, bị thương 51 người, hư hỏng 27 xe ô tô, 82 xe mô tô, 01 xe máy điện.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 23.481 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ, tạm giữ 4.854 phương tiện, 16.111 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 22.821 trường hợp, thu 11.911.899.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

e) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng không xảy ra cháy. Lũy kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 18 vụ cháy, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 3.100 triệu đồng.

2. Ngày 13-10, UBND tỉnh tổ chức Lễ Kỷ niệm và tọa đàm với chủ đề “Phát huy vai trò của cộng đồng doanh nghiệp đối với sự phát triển của tỉnh Kon Tum giai đoạn 2015-2020” nhân Kỷ niệm 11 năm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2004 - 13/10/2015).

Tới dự có các đồng chí: Đào Xuân Quí - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Nguyễn Đức Tuy - Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Trần Thị Nga - Phó Chủ tịch UBND; lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp, Hiệp hội Du lịch tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành của tỉnh; Văn phòng Tỉnh ủy-HĐND-UBND, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; các huyện, thành phố, cùng đông đảo lãnh đạo các Công ty, Doanh nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh.

70 năm trước, Bác Hồ đã gửi thư cho giới Doanh nhân động viên tham gia cứu quốc, góp phần kiến thiết đất nước vừa giành lại từ tay thực dân. Xác lập lại vị thế của giới Doanh nhân cũng như những đóng góp to lớn vào quá trình đi lên của đất nước. Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chọn ngày 13-10 hàng năm là Ngày Doanh nhân Việt Nam.

Cũng như doanh nhân cả nước, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân Kon Tum đã có những bước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng và đã có những đóng góp quan trọng vào thành tựu xây dựng và phát triển tỉnh Kon Tum trong thời gian qua. Toàn tỉnh hiện có gần 1.800 doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thu mua, chế bến nông sản; thương mại, dịch vụ; vận tải; xây dựng thủy điện. Hàng năm đóng góp 70% thu NSĐP. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn tham gia tích cực trong phong trào vì cộng đồng, an sinh xã hội, góp phần lớn vào sự phát triển chung của địa phương.

Phát biểu tại buổi Lễ, thay mặt UBND tỉnh, đồng chí Đào Xuân Quí bày tỏ lòng tri ân, khẳng định trong sự phát triển của địa phương có sự đóng góp rất lớn của đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp của tỉnh. Thời gian tới, đề nghị các sở, ban ngành và UBND các huyện, thành phố làm tốt hơn nữa trách nhiệm của mình; bộ phận nào gây ách tắc, khó khăn cho doanh nghiệp phải kịp thời xử lý; tăng cường đối thoại với doanh nghiệp; kịp thời cung cấp thông tin về các lĩnh vực công khai minh bạch, hướng dẫn tận tình cho các doanh nghiệp. Đối với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh phải đoàn kết hơn nữa, phải là người đỡ đầu cho doanh nghiệp khi gặp khó khăn để doanh nghiệp vươn lên; nắm bắt cụ thể tình hình hoạt động của doanh nghiệp, cảnh bảo trước rủi ro không đáng có. Đối với các doanh nghiệp, khắc phục mọi khó khăn, mạnh dạn phản ánh với lãnh đạo tỉnh, nhạy bén với những đổi mới của đất nước, khu vực, lượng sức mình đầu tư hiệu quả, phát huy lợi thế của tỉnh nhà để phát triển hơn...Về phía UBND tỉnh cam kết sẽ luôn đồng hành cùng với cộng đồng doanh nghiệp, sẵn sàng ủng hộ, chia sẽ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ công bố số điện thoại, địa chỉ email của lãnh đạo để các doanh nghiệp, nhà đầu tư phản ánh, kiến nghị trực tiếp với lãnh đạo tỉnh những khó khăn, vướng mắc để chỉ đạo giải quyết kịp thời.

Nhân dịp này, UBND tỉnh đã tặng bằng khen cho 26 doanh nghiệp; Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh tặng giấy khen cho 05 tập thể, 01 cá nhân vì đã có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất và các hoạt động an sinh xã hội.

3. Sáng 20-10, Thường trực Tỉnh ủy đã có buổi làm việc với Thường trực các Huyện ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy nhằm đánh giá những công việc đã triển khai sau Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2015-2020 và công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh chủ trì buổi làm việc.

Qua đánh giá tại buổi làm việc: Nhìn chung các cấp ủy trực thuộc đã tập trung triển khai các công việc sau Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2015-2020 theo đúng kế hoạch đề ra như: Ban hành Quy chế làm việc của cấp ủy khóa mới, phân công cấp ủy viên, xây dựng chương trình công tác toàn khóa để cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ mình...

Kết luận buổi làm việc, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu Bí thư các Huyện ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy phát huy vai trò là người đứng đầu Đảng bộ; chủ động, sáng tạo, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của địa phương, đơn vị; tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; thường xuyên kiểm tra, giám sát, nhất là đối với các lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm...; đồng thời chỉ đạo triển khai một số công việc cần thiết, cấp bách khác từ nay đến cuối năm 2015 và năm 2016, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp mình nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra.

II. TIN TRONG NƯỚC.

1. Một số kết quả Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (khóa XI)

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ mười hai (khóa XI) họp từ ngày 05 đến 11/10/2015, tại Thủ đô Hà Nội, bàn các nội dung: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2015, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016; công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XII; phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021; và một số vấn đề quan trọng khác.

Trong thời gian Hội nghị, các đồng chí Ủy viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, thảo luận dân chủ, thẳng thắn, đóng góp nhiều ý kiến trí tuệ, xác đáng vào các báo cáo, đề án. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Sau đây là một số kết quả chủ yếu của Hội nghị:

- Về tình hình kinh tế - xã hội năm 2015; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016: Ban Chấp hành Trung ương đánh giá, tình hình kinh tế-xã hội nước ta năm 2015 có chuyển biến tích cực và đạt những kết quả quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát khoảng 2%, thấp nhất trong 15 năm qua. Các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Sản xuất kinh doanh tiếp tục phục hồi, tăng trưởng kinh tế dự kiến đạt khoảng 6,5%, vượt kế hoạch đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 4,5%. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền quốc gia được giữ vững...

Tuy nhiên, kinh tế nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn. Năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp. Cân đối ngân sách khó khăn, bội chi còn cao; nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn, nợ xấu còn lớn và xử lý nợ xấu còn nhiều khó khăn; doanh nghiệp trong nước và khu vực nông nghiệp, xuất khẩu nông sản đang rất khó khăn; nhập siêu tăng trở lại. Tái cơ cấu trong các ngành, lĩnh vực còn chậm, tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chưa đạt tiến độ đề ra. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững; tỉ lệ hộ nghèo và tái nghèo ở những nơi đặc biệt khó khăn và trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Đạo đức xã hội ở một bộ phận không nhỏ xuống cấp; tình trạng tham nhũng chưa được đẩy lùi. Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đảo đang đứng trước những khó khăn, thách thức mới...

Mục tiêu và các chỉ tiêu chủ yếu năm 2016: Trung ương xác định mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 là: Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2015 đi liền với cải thiện chất lượng nền kinh tế và khắc phục các yếu kém. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội... Đồng thời, Trung ương xác định các chỉ tiêu chủ yếu sau: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6,7%; kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 10%; tỉ lệ nhập siêu dưới 5%; tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP phấn đấu dưới 5%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 31% GDP; chỉ số tăng giá tiêu dùng (CPI) dưới 5%...

- Về công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XII: Trên cơ sở Phương hướng và quy trình công tác nhân sự, kết quả giới thiệu nhân sự qua hai vòng, Trung ương đã thảo luận dân chủ, xem xét khách quan, công tâm, toàn diện về dự kiến Danh sách nhân sự mới lần đầu được giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XII và các phương án lựa chọn; phân tích, đánh giá, góp nhiều ý kiến bổ sung vào các báo cáo và phương án nhân sự.

Ban Chấp hành Trung ương cơ bản tán thành với Báo cáo của Bộ Chính trị và thảo luận, đề xuất nhiều ý kiến về tiêu chí xem xét trường hợp “đặc biệt” đối với Ủy viên Trung ương và Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XI tái cử khóa XII, tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội); về các phương án lựa chọn các chức danh lãnh đạo chủ chốt.

Trung ương đã bỏ phiếu biểu quyết lần thứ nhất danh sách nhân sự mới lần đầu được dự kiến giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (cả Ủy viên Trung ương chính thức và dự khuyết); Trung ương ghi phiếu đề xuất danh sách các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương kh​óa XI đủ tiêu chuẩn, điều kiện tái cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XII và ghi phiếu đề xuất, giới thiệu nhân sự đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XII.

- Về phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021: Ban Chấp hành Trung ương thống nhất, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp lần này tiếp tục được tổ chức vào cùng một ngày trên phạm vi cả nước. Bầu cử bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý, trong đó lấy tiêu chuẩn, chất lượng đại biểu là ưu tiên hàng đầu, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Phấn đấu bầu đủ 500 đại biểu Quốc hội và đạt tỉ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách theo đúng quy định của Luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Đối với các trường hợp tự ứng cử, phải có quy trình chặt chẽ, đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Quy định rõ việc gì được làm, việc gì không được làm trong vận động bầu cử; tránh tình trạng “vận động” không lành mạnh. Bộ Chính trị sẽ ban hành Chỉ thị về vấn đề này; chỉ đạo đảng Đoàn Quốc hội khẩn trương hoàn chỉnh Đề án để tổ chức thực hiện, bảo đảm chuẩn bị và tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.

2. Một số tình hình kinh tế - xã hội 09 tháng năm 2015

Tình hình kinh tế: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2015 ước tính tăng 6,50% so với cùng kỳ năm 2014.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 2.374,5 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2014. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 909,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2014 và bằng 31,9% GDP.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2015 có 1.432 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 11,04 tỷ USD, tăng 24,3% về số dự án và tăng 44,5% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014.

Tổng thu ngân sách nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2015 ước tính đạt 640,4 nghìn tỷ đồng, bằng 70,3% dự toán năm. Tổng chi ngân sách nhà nước ước tính đạt 776,4 nghìn tỷ đồng, bằng 67,7% dự toán năm.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 120,7 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2014; kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 124,5 tỷ USD, tăng 15,9%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2015 tăng 0,74% so với bình quân cùng kỳ năm 2014.

Một số vấn đề xã hội:

 Cả nước có 227,8 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 25% so với cùng kỳ năm 2014, tương ứng với 938,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 27,3%. Từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 19,2 nghìn tấn lương thực và 8,5 tỷ đồng, riêng tháng 9 hỗ trợ 620 tấn lương thực. Tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 9 tháng năm 2015 là 3.443 tỷ đồng. Hơn 7,7 triệu bảo hiểm y tế được cấp phát miễn phí cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

Bên cạnh những mặt thuận lợi, kinh tế - xã hội nước ta những tháng cuối năm tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Thị trường tài chính được dự báo tiếp tục có những biến động phức tạp, giá dầu thô chưa ổn định. Sự biến động tỷ giá đồng nhân dân tệ của Trung Quốc sẽ còn gây bất ổn cho thị trường tài chính quốc tế và tác động tiêu cực đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Thị trường xuất khẩu nông sản của nước ta có xu hướng bị thu hẹp do có sự cạnh tranh về giá đối với những sản phẩm chủ yếu như gạo, cà phê... của một số nước (Thái Lan, Ấn Độ...).  Nhiều mặt hàng tiêu dùng của nước ta cũng sẽ gặp bất lợi khi phải cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc.

Để tiếp tục giữ ổn định vĩ mô, bảo đảm sản xuất kinh doanh trong nước phát triển tích cực trước những biến động phức tạp của kinh tế thế giới, nhất là kinh tế Trung Quốc, trong những tháng cuối năm, các ngành, các cấp và địa phương cần thực hiện tốt những giải pháp chủ yếu sau đây: 

Một là, tiếp tục giữ ổn định và lành mạnh hệ thống ngân hàng. Tăng cường giám sát, nâng cao chất lượng quản trị rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng. Xử lý nợ xấu quyết liệt, đồng bộ và đúng lộ trình. Cùng với việc điều chỉnh lãi suất hợp lý, cần tiếp tục có những chính sách, giải pháp tích cực để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Hai là, các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng tính cạnh tranh cho các sản phẩm hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp xây dựng phương án kinh doanh hợp lý đi đôi với việc nghiên cứu, xem xét đầy đủ, toàn diện diễn biến tình hình kinh tế trong và ngoài nước để chủ động ứng phó trước biến động của tỷ giá, đồng thời tăng cường đầu tư để đạt hiệu quả sản xuất, kinh doanh tốt nhất khi Việt Nam thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế về mở cửa thị trường.

Ba là, tích cực triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, nhất là hàng nông sản để chủ động đối phó với giá hàng hóa nông sản chịu áp lực giảm khi vào thị trường Trung Quốc trong thời gian tới. Chú trọng công tác xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển các sản phẩm, ngành hàng cụ thể gắn kết với chiến lược phát triển thương hiệu quốc gia nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu hiệu quả và bền vững. Tổ chức sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị toàn cầu, tạo ra sản phẩm có tính đồng nhất cao để tăng khả năng xuất khẩu vào các thị trường khác nhau...

3. Những thuận lợi và thách thức khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có 12 nước tham gia, gồm: Ốt-xtrây-lia, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po, Hoa Kỳ và Việt Nam. Hiệp định TPP được coi là hình mẫu cho hợp tác kinh tế khu vực trong những năm đầu của thế kỷ XXI, là hiệp định toàn diện, chất lượng cao trên cơ sở cân bằng lợi ích và có lưu ý tới trình độ phát triển khác nhau giữa các nước tham gia Hiệp định. Các nước tham gia Hiệp định đồng ý xóa bỏ cho nhau gần như toàn bộ thuế nhập khẩu theo lộ trình; xóa bỏ thuế xuất khẩu hoặc chỉ duy trì ở mức hạn chế, không mở rộng thêm thuế xuất khẩu trong tương lai; tự do hóa dịch vụ và đầu tư trên cơ sở tuân thủ pháp luật của nước sở tại, bảo đảm sự quản lý của Nhà nước; mở cửa đấu thầu mua sắm của các cơ quan trực thuộc Chính phủ; từ đó tạo ra cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp và lợi ích mới cho người tiêu dùng của các nước thành viên. 

Ngày 05/10/2015, Hội nghị Bộ trưởng Thương mại các nước tham gia đàm phán TPP đã hoàn tất quá trình đàm phán Hiệp định. Sau khi kết thúc đàm phán, các nước sẽ tiến hành các thủ tục rà soát pháp lý để chuẩn bị cho việc ký kết chính thức và bắt đầu trình các cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn Hiệp định. Quá trình này thông thường kéo dài tối thiểu 18 tháng; là khoảng thời gian để các nước tham gia chuẩn bị điều kiện cần thiết để có thể thực hiện tốt Hiệp định.

Hiệp định TPP sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, thể hiện trên các mặt như sau:

Một là, về kinh tế, theo tính toán của các chuyên gia kinh tế độc lập, TPP sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 23,5 tỷ USD vào năm 2020 và 33,5 tỷ USD vào năm 2025. Xuất khẩu sẽ tăng thêm 68 tỷ USD vào năm 2025. Đáng chú ý là việc các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ca-na-đa giảm thuế nhập khẩu về 0% sẽ tạo thuận lợi lớn đối với hoạt động xuất khẩu của nước ta. Các ngành xuất khẩu quan trọng như dệt may, giày dép, thủy sản... sẽ có cơ hội phát triển vượt bậc về kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này.

Việt Nam có các cơ hội mới từ chuỗi cung ứng mới hình thành sau khi TPP có hiệu lực. Các nước TPP chiếm tới 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu, bao gồm các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, sẽ mở ra nhiều cơ hội khi chuỗi cung ứng mới hình thành. Cam kết trong TPP về dịch vụ và đầu tư có tác dụng tích cực trong việc cải thiện môi trường đầu tư, góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Hai là, về thể chế, tham gia TPP là cơ hội để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế, trong đó có thể chế kinh tế thị trường; hỗ trợ tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, đồng thời Việt Nam có thêm cơ hội để hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn, từ đó thúc đẩy đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, việc hoàn thiện và tăng cường công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ mở ra cơ hội thu hút đầu tư vào những lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao, như sản xuất dược phẩm, trong đó có thuốc sinh học (đặc biệt là với vắc-xin và một số sản phẩm Việt Nam phát triển mạnh trong các năm qua). Hiệp định TPP với các tiêu chuẩn rất cao về quản trị minh bạch và hành xử khách quan của bộ máy nhà nước sẽ giúp Việt Nam tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy hoàn thiện bộ máy theo hướng tinh gọn, trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương và phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

Ba là, về xã hội, tham gia TPP tạo ra các cơ hội nâng cao tốc độ tăng trưởng, tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần xóa đói, giảm nghèo; từ đó, Việt Nam có thêm nguồn lực để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Do nhập khẩu từ Hoa Kỳ và các nước TPP chưa có hiệp định thương mại tự do với Việt Nam phần lớn không cạnh tranh trực tiếp, nên nếu có lộ trình giảm thuế hợp lý, kết hợp với hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, Việt Nam có thể xử lý được các vấn đề xã hội nảy sinh khi tham gia TPP. Đặc biệt, do Hiệp định TPP bao gồm cả các cam kết về bảo vệ môi trường nên tiến trình mở cửa, tự do hóa thương mại và thu hút đầu tư sẽ được thực hiện theo cách thân thiện với môi trường hơn, giúp tăng trưởng bền vững hơn.

Tuy nhiên, tham gia TPP cũng đặt ra một số thách thức đối với Việt Nam:

Thứ nhất, về kinh tế, thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh, đặc biệt là trong lĩnh vực chăn nuôi. Đây sẽ là ngành gặp nhiều khó khăn nhất khi TPP có hiệu lực. Đối với các ngành kinh tế khác, cạnh tranh ở mức độ không lớn vì các nền kinh tế TPP hiện nay có cơ cấu mặt hàng xuất khẩu mang tính bổ sung hơn là mang tính cạnh tranh với cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Thứ hai, công tác xây dựng pháp luật, thể chế, các tiêu chuẩn cao về quản trị minh bạch và hành xử khách quan của bộ máy nhà nước sẽ đặt ra những thách thức lớn cho bộ máy quản lý.

Thứ ba, về mặt xã hội, cạnh tranh tăng lên khi tham gia TPP có thể làm cho một số doanh nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp vẫn dựa vào sự bao cấp của Nhà nước, các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất và kinh doanh lạc hậu, gặp nhiều khó khăn, thậm chí phá sản, hậu quả là một bộ phận người lao động sẽ bị thất nghiệp. Tuy nhiên, do phần lớn các nền kinh tế trong TPP không cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam, nên ngoại trừ ngành nông nghiệp, dự báo tác động này có tính cục bộ, quy mô không đáng kể và chỉ mang tính ngắn hạn.

Để giảm thiểu những tác động tiêu cực nói trên, Việt Nam phải đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, đặc biệt coi trọng cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi sang mô hình kinh doanh trang trại, đồn điền lớn để giảm chi phí sản xuất, dễ quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, dễ ứng dụng công nghệ sinh học vào lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi. Phải điều chỉnh, sửa đổi một số quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường. Nhà nước cần có các biện pháp trợ giúp để chủ động xử lý kịp thời các tác động tiêu cực có thể xảy ra, như việc tổ chức đào tạo lại đội ngũ lao động.

4. Quy định về khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về bảo hiểm xã hội trong Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi)

a) Sửa đổi quy định về việc phạt đối với số tiền chưa đóng, chậm đóng bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng bảo hiểm xã hội (hiện nay bằng lãi đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội).

b) Bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả của cơ quan bảo hiểm xã hội:

 Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam, Giám đốc cơ quan bảo hiểm xã hội cấp tỉnh và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng Giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định thành lập có thẩm quyền xử phạt, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như sau:

- Tổng Giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam có thẩm quyền theo quy định tại khoản 4, Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

- Giám đốc bảo hiểm xã hội tỉnh có thẩm quyền theo quy định tại khoản 2, Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

- Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng Giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định thành lập có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3, Điều 46 của Luật xử phạt vi phạm hành chính.

Người có thẩm quyền nêu trên được ủy quyền cho cấp phó thực hiện.

- Mức phạt tiền tối đa, các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thủ tục xử phạt và các quy định khác có liên quan về xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.

III. TIN THẾ GIỚI

1. Một số kết quả chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Nhận lời mời của Thủ tướng Nội các Nhật Bản Sin-dô A-bê, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 15-18/9/2015. Đây là hoạt động đối ngoại quan trọng nhằm chủ động triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, thúc đẩy quan hệ có chiều sâu giữa Việt Nam với các đối tác lớn. Mục đích bao trùm của chuyến thăm là nhằm thúc đẩy toàn diện và làm sâu sắc hơn quan hệ “Đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam - Nhật Bản vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”, với trọng tâm là tăng cường tin cậy chính trị; thúc đẩy kết nối và hợp tác kinh tế; tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng; đẩy mạnh hợp tác trong các vấn đề khu vực và quốc tế; đồng thời nhằm tranh thủ sự ủng hộ của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông và các vấn đề khác liên quan đến lợi ích chiến lược của Việt Nam; tăng cường quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với đảng cầm quyền và các chính đảng lớn của Nhật Bản; tiếp tục củng cố và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam; tạo thế và lực cho quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn.

Hiện nay, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đang trong giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất từ trước tới nay, đã đạt đến khuôn khổ “Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” từ tháng 3/2014. Hai nước chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược chung. Nhật Bản khẳng định coi trọng vị trí và vai trò ngày càng tăng của Việt Nam. Hai bên duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao qua các kênh. Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, là nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam. Nhật Bản có lập trường thuận với Việt Nam về vấn đề Biển Đông.

Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp với các kết quả đạt được ở mức cao và toàn diện, góp phần thúc đẩy quan hệ Việt - Nhật phát triển sâu rộng, thực chất, bền vững hơn trong giai đoạn mới.

- Hai bên ra Tuyên bố về tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Tuyên bố chung tổng kết quan hệ giữa hai nước trong hơn 40 năm qua, rút ra những kinh nghiệm, đề ra tầm nhìn, các định hướng và biện pháp lớn nhằm thúc đẩy toàn diện và làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam - Nhật Bản trong thời gian tới. Quá trình đàm phán diễn ra thuận lợi. Phía Nhật Bản thể hiện thiện chí, chân thành, mong muốn đạt Tuyên bố chung với kết quả thực chất, linh hoạt chấp nhận các đề nghị của Việt Nam. Đối với một số vấn đề nhạy cảm như Dự luật An ninh mới, Chủ nghĩa hòa bình tích cực, Phát biểu của Thủ tướng A-bê nhân dịp 70 năm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, phê phán đích danh Triều Tiên..., phía Nhật Bản đã chấp nhận cách thể hiện đáp ứng yêu cầu của Việt Nam, không đề cập trực tiếp tại Tuyên bố chung. Cách diễn đạt về vấn đề Biển Đông phù hợp với lập trường và các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

- Hai bên ký kết 10 văn bản thỏa thuận, bao gồm: Bản ghi nhớ về hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng Dân chủ tự do (LDP); Bản ghi nhớ về hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng Dân chủ (DPJ); Tầm nhìn trung và dài hạn trong hợp tác Nông nghiệp Việt Nam - Nhật Bản giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với Bộ Nông, Lâm, Thủy sản Nhật Bản; Bản ghi nhớ giữa hai Bộ Quốc phòng về hợp tác trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc; Bản ghi nhớ hợp tác (MOC) giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản về thiết lập quan hệ phối hợp nhằm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và phát triển hợp tác chung; Công hàm trao đổi về việc Chính phủ Nhật Bản cung cấp khoản ODA vốn vay trị giá 28,612 tỷ Yên tài khóa 2015 cho Chính phủ Việt Nam để thực hiện dự án Xây dựng Bệnh viện Chợ Rẫy Hữu nghị Việt - Nhật; Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam với Công ty Mitsubishi Công nghiệp nặng về phát triển nguồn nhân lực để phát triển ngành máy công nghiệp chế tạo máy tại Việt Nam; Bản ghi nhớ về Hợp tác chiến lược thu xếp tài chính cho Hợp đồng thuê mua 04 máy bay Airbus; Thỏa thuận hợp tác giữa tỉnh Hưng Yên với tỉnh Ca-na-ga-oa...

2. Một số tình hình thế giới thời gian gần đây

- Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm cấp Nhà nước Mỹ từ ngày 22 đến 25/9/2015: Hai bên thảo luận về quan hệ song phương trong các lĩnh vực như kinh tế, thương mại, năng lượng, biến đổi khí hậu, an ninh mạng, bảo vệ môi trường, tài chính, quốc phòng, hàng không… và những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông. Hai bên đạt được thỏa thuận chung về biến đổi khí hậu, khi cả hai nước đặt mục tiêu ngừng hoặc cắt giảm khí thải. Về an ninh mạng, hai bên cam kết hợp tác chống tội phạm mạng. Hai nước đạt được thỏa thuận chung về các chương trình trong không gian mạng liên quan tới mục đích thương mại.

Tuy nhiên, với những kết quả không mang tính đột phá, cuộc gặp cấp cao Mỹ - Trung vẫn chỉ mang tính xã giao. Đối với vấn đề Biển Đông, hai bên chưa thu hẹp được bất đồng. Tổng thống Ô-ba-ma  bày tỏ quan ngại về những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, cho rằng những hoạt động bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc đang khiến vấn đề trở nên khó khăn hơn khi giải quyết những bất đồng một cách hòa bình. Tổng thống Ô-ba-ma đề nghị Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ bằng luật pháp quốc tế và cần có một nghị quyết giữa các quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông hay biển Hoa Đông. Ông khẳng định dù Mỹ không phải là bên có tranh chấp tại hai vùng biển này, song Mỹ muốn các bên tôn trọng những quy định và luật pháp quốc tế.

Quan hệ Mỹ - Trung luôn là vấn đề phức tạp trong quan hệ quốc tế hiện đại do tầm vóc và sức ảnh hưởng của hai cường quốc này đối với thế giới. Đó là mối quan hệ giữa một bên là cường quốc số một về tiềm lực kinh tế và quân sự đã được thừa nhận, với một bên là một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, muốn thay đổi và không chấp nhận các “luật chơi” của Mỹ.

- Nga không kích các phiến quân của tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS): Ngày 30/9/2015, máy bay chiến đấu của Nga bắt đầu không kích nhiều vị trí của các nhóm khủng bố tại Xy-ri. Sau hơn 10 ngày, Nga đã thực hiện gần 200 lượt không kích, tiêu diệt hơn 100 mục tiêu của IS. Chánh Văn phòng Tổng thống Nga Xéc-gây I-va-nốp cho biết, Nga sử dụng lực lượng không quân tại Xy-ri để tiêu diệt các phiến quân IS theo đề nghị của Tổng thống Xy-ri Ba-Xa An Át-Xát.

Bộ trưởng Ngoại giao Xy-ri A.Mô-a-lem tuyên bố, việc Nga tiến hành không kích chống IS tại Xy-ri là thể theo đề nghị của Chính phủ Xy-ri, tuân thủ nghiêm Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế. Chiến dịch chống IS của Nga tại Xy-ri không vi phạm chủ quyền của Xy-ri vì Nga phối hợp chặt chẽ với Xy-ri.

Tuy nhiên, nhiều nhà quan sát quốc tế cho rằng, mục đích của Nga là triệt tiêu khả năng hoạt động của IS, gây sức ép đối với quân đội của Tổng thống Xy-ri Ba-Xa An Át-Xát, bảo vệ chế độ Ba-Xa An Át-Xát, khẳng định sức mạnh quân sự của Nga, khẳng định vị thế của Nga trên trường quốc tế và bảo vệ các lợi ích trước mắt, lâu dài của Nga.

3. Quan hệ Việt Nam với các nước

- Hội nghị chung lần thứ hai giữa Ủy ban Quốc phòng, An ninh ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia tổ chức ngày 28/9/2015 tại thủ đô Viêng Chăn (Lào). Với chủ đề “Tăng cường vai trò và trách nhiệm giám sát Nghị viện của các ủy ban tương ứng trong việc hỗ trợ Khu vực Tam giác phát triển Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam”, Hội nghị nhất trí ủng hộ hợp tác giữa các đại biểu Quốc hội ba nước trao đổi thông tin, thúc đẩy giải quyết các vấn đề liên quan an ninh, trật tự tại khu vực biên giới; ủng hộ công tác phân giới cắm mốc, thúc đẩy tuyên truyền, hỗ trợ phát triển khu vực biên giới giữa ba nước, phù hợp luật pháp mỗi nước và các cam kết giữa ba nước. Hội nghị thống nhất thúc đẩy hợp tác, trao đổi kinh nghiệm và thông tin về phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự và an toàn trên khu vực biên giới, bảo đảm việc đi lại đúng pháp luật của người dân; thúc đẩy thông thương, góp phần cải thiện đời sống của người dân trong khu vực.

- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm chính thức Cu-ba ngày 29 và 30/9/2015. Hai bên nhất trí đánh giá quan hệ truyền thống đặc biệt Việt Nam - Cu-ba tiếp tục phát triển trên tất cả các lĩnh vực, thể hiện qua việc trao đổi đoàn các cấp, ngành gia tăng, các cơ chế hợp tác song phương được duy trì thường xuyên và ngày càng hiệu quả; việc triển khai “Chương trình nghị sự kinh tế song phương” ký tháng 3/2014 và Dự án Việt Nam hỗ trợ Cu-ba sản xuất lúa gạo giai đoạn 2010 - 2015 đạt nhiều kết quả tích cực; quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực an ninh - quốc phòng và đối ngoại tiếp tục được củng cố. Thời gian tới, hai bên cần tiếp tục duy trì thường xuyên, linh hoạt và nâng cao hiệu quả các cơ chế Ủy ban liên Chính phủ, Đối thoại chiến lược cấp Thứ trưởng Quốc phòng và Tham khảo chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao; rà soát và từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, trong đó ưu tiên đẩy nhanh đàm phán và sớm ký kết Hiệp định Thương mại mới, thay thế Hiệp định ký năm 1996, nhằm tạo thuận lợi tối đa cho các hoạt động hợp tác kinh tế - thương mại và đầu tư. Sau hội đàm, hai bên ký Hiệp định về công nhận tương đương văn bằng trong giáo dục đại học và Bản ghi nhớ về trao đổi thông tin thanh tra, giám sát ngân hàng giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Trung ương Cu-ba. Thay mặt Hội đồng Nhà nước Cu-ba, Chủ tịch Ra-un Ca-xtơ-rô đã trao tặng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang Huân chương Hô-xê Mác-ti, phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Cu-ba dành tặng lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ và danh nhân nước ngoài có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp hòa bình và nhân loại.

4. Về cuộc khủng hoảng di cư ở châu Âu

Cao ủy Liên Hợp quốc về người tỵ nạn ước tính từ đầu năm 2015 đến nay đã có khoảng 442.440 người vượt biển đến châu Âu, trong đó có khoảng hơn 2.900 người đã thiệt mạng trên đường đi. Theo Tổ chức Di cư quốc tế, tổng số người tỵ nạn vào châu Âu trong năm 2015 đã lên tới hơn 473.800 người.

Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới làn sóng người tỵ nạn quy mô lớn đổ vào châu Âu là do chiến tranh, bất ổn kéo dài tại Trung Đông - Bắc Phi từ sau “Mùa xuân Ả-rập” đến nay. Trong năm 2015, sự nổi lên của lực lượng thánh chiến Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) với tính chất đặc biệt nghiêm trọng và tàn bạo, càng khiến tình hình khu vực trở nên phức tạp hơn và tương lai hòa bình ở Trung Đông thêm xa vời. Với hy vọng thoát khỏi chiến tranh, tìm kiếm sự bình yên và những cơ hội cải thiện cuộc sống, những người tỵ nạn đã bất chấp mọi nguy hiểm tìm cách vượt biển Địa Trung Hải, di chuyển bằng đường bộ từ Trung Đông, các nước Trung Á và Đông Âu để đến các nước châu Âu.

Mặc dù đã có nhiều cuộc tranh luận và đề xuất, châu Âu vẫn chưa có giải pháp nào khả thi để tháo gỡ khủng hoảng. Chính phủ Đức đề nghị thỏa thuận về hạn ngạch phân bổ người tỵ nạn ra các nước châu Âu để thực hiện nghĩa vụ nhân đạo. Các nước Đông Âu, như: Cộng hòa Séc, Hung-ga-ri, Ba Lan, Xlô-va-ki-a phản đối việc áp dụng hạn ngạch. Trong chuyến thăm tới trại tỵ nạn ở Jordan tháng 9/2015, Thủ tướng Anh Đa-vít Ca-mê-rôn cho rằng, cần phải giải quyết vấn đề người tỵ nạn từ căn nguyên của nó là các cuộc chiến tranh, xung đột và giữ cho những người này càng ở gần quê hương của họ càng tốt.

Về bản chất, cuộc khủng hoảng tỵ nạn hiện nay không phải là vấn đề của riêng châu Âu mà liên quan tới hàng loạt điểm nóng và nhiều thách thức an ninh của cả thế giới. Nếu để cuộc khủng hoảng này tiếp tục gây căng thẳng, đẩy các thách thức an ninh vượt ra khỏi tầm kiểm soát thì tất cả các bên đều không có lợi, nhất là khi kinh tế châu Âu chưa thực sự khởi sắc và vấn đề miền Đông U-crai-na chưa được giải quyết. Tại cuộc gặp giữa hai Ngoại trưởng Mỹ và Đức ngày 20/9/2015, hai bên thống nhất: Một là, Mỹ sẵn sàng tiếp nhận những người tỵ nạn; hai là, cần thúc đẩy những nỗ lực ngoại giao mới để chấm dứt chiến tranh tại Xy-ri. Các nhà lãnh đạo Liên minh Châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận sẽ dành khoản tiền 1 triệu Ơ-rô để hỗ trợ người tỵ nạn Xy-ri thông qua các cơ quan của Liên Hợp quốc. Tại Hội nghị nhân đạo thế giới tổ chức ngày 01/10/2015, Tổng Thư ký Liên Hợp quốc Ban Ki Mun kêu gọi các nước mở cửa biên giới với người tị nạn, loại bỏ tư tưởng bài ngoại và đưa ra kế hoạch giải quyết cuộc khủng hoảng di cư, trong đó có việc kiểm soát người di cư bằng cách thiết lập các con đường hợp pháp và an toàn.

5. Hội nghị cấp cao Phát triển bền vững của Liên Hợp quốc

Hội nghị cấp cao Phát triển bền vững của Liên Hợp quốc diễn ra từ ngày 25 đến 28/9/2015 tại Niu Óoc (Mỹ). Tham dự Hội nghị có các nguyên thủ quốc gia, thủ tướng chính phủ… đến từ 193 quốc gia thành viên Liên Hợp quốc. Với thông điệp “Tất cả các quốc gia chung tay xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn”, Hội nghị thông qua Chương trình nghị sự Phát triển bền vững toàn cầu đến năm 2030, bao gồm 17 mục tiêu và 169 chỉ tiêu cụ thể nhằm đạt được ba thành tựu là: Chấm dứt đói nghèo; đấu tranh với tình trạng bất bình đẳng và vô luật pháp; giải quyết tình trạng biến đổi khí hậu. Chương trình đề ra những mốc thời gian cụ thể để hoàn thành các mục tiêu như: 800 tuần để chấm dứt hoàn toàn tình trạng nghèo đói cùng cực ở tất cả mọi nơi trên trái đất; 800 tuần để giúp 800 triệu người thoát khỏi nghèo đói; trong vòng 15 năm tới, các chính phủ và tổ chức sẽ tăng gấp đôi nỗ lực phát triển để xây dựng tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người dân trên hành tinh để tất cả các quốc gia được sống trong môi trường hợp tác, hòa bình và thịnh vượng.

Đoàn Việt Nam do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dẫn đầu tham dự Hội nghị. Trong bài phát biểu, Chủ tịch nước nhấn mạnh, Chương trình Nghị sự đã đề ra tầm nhìn chiến lược mới, phản ánh khát vọng chung của toàn nhân loại được sống trong một thế giới hòa bình, an toàn, công bằng, xanh và sạch; tạo khuôn khổ và định hướng mới cho mọi quốc gia trong việc ứng phó các thách thức chung về kinh tế, xã hội và môi trường. Việt Nam cam kết tập trung mọi nguồn lực, huy động tất cả các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, cộng đồng và người dân để thực hiện thành công Chương trình nghị sự và các Mục tiêu phát triển bền vững.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nêu ba thông điệp lớn của Việt Nam là: (1) Các Mục tiêu phát triển bền vững không thể trở thành hiện thực trong điều kiện chiến tranh, xung đột và bất ổn. Do đó, bảo đảm môi trường hòa bình, an ninh trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển bền vững; (2) Cần có quyết tâm chính trị cao, phát huy tối đa nội lực và tiềm năng đất nước, đưa quan điểm bền vững trở thành định hướng thường xuyên, lâu dài và lồng ghép các Mục tiêu phát triển bền vững vào mọi chiến lược và chương trình quốc gia, trong đó con người luôn ở vị trí trung tâm; (3) Cần tăng cường quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển bền vững, trong đó các nước phát triển có trách nhiệm hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện các Mục tiêu trên, đặc biệt là hỗ trợ nâng cao năng lực, chuyển giao công nghệ, tạo thuận lợi trong thương mại, tiếp cận nguồn vốn...

Chủ tịch nước thông báo, Việt Nam và các nước ASEAN đang nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015; đồng thời cùng các nước liên quan duy trì hòa bình, an ninh trong khu vực nhằm tạo môi trường thuận lợi cho phát triển bền vững, trong đó có an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên Biển Đông; khẳng định Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế.

 

________



[1] Cách mạng Tháng Mười Nga (07/11); Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11); Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11); ...                            

[2] Chưa bao gồm thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7-8%.

[3] Bao gồm hệ thống cửa khẩu quốc tế, quốc gia...

 

Số lượt xem:2546
Bài viết trước:
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 09-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 08-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 07-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 06-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 05-2015 (bổ sung Kết luận 1663 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy)
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 04-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 03-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 02-2015
Icon  Tài liệu tuyên truyền trong nội bộ và định hướng đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch trên In-tơ-nét
    LIÊN KẾT
Trang chủ   |   Liên hệ   
Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum; Điện thoại: 060.3862301; Email: thongtintuyengiaokontum@gmail.com hoặc phiemkt@gmail.com.
Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này