Thứ 7, ngày 25 tháng 3 năm 2017  TimKiem
  TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI BỘ
Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 06-2015
5/28/2015 9:34:07 AM

A. VĂN BẢN MỚI

I. VĂN BẢN CỦA TỈNH

1. Ngày 24-4-2015 Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 1663-KL/TU về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Kết luận 1663-KL/TU nhận định:

Trong thời gian qua, việc chấp hành nội quy, quy chế, thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã từng bước đi vào nền nếp, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa chấp hành nghiêm các quy định, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị; lạm dụng việc uống rượu, bia và các đồ uống có cồn khác đã ảnh hưởng đến hiệu quả công tác và tác phong, uy tín của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các cơ quan, đơn vị.

Để kịp thời chấn chỉnh và khắc phục những hạn chế, khuyết điểm nêu trên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu:

1. Các ban, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; các huyện ủy, thành ủy; các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31-01-2008 của Thủ tướng Chính phủ "về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước"; Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá; Quyết định 244/QĐ-TTg, ngày 12-02-2014 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020.

Thực hiện nghiêm quy định cấm hút thuốc lá nơi làm việc, nơi công cộng; không uống rượu, bia và các đồ uống có cồn khác trước, trong giờ hành chính và giờ nghỉ trưa của ngày làm việc.

2. BCSĐ Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể và hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện.

3. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung của Kết luận này.

4. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện Kết luận, xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với các trường hợp vi phạm, định kỳ hằng quý báo cáo kết quả với Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Kết luận này được phổ biến đến chi bộ.

2. Ngày 25-4-2015 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 86-HD/BTGTU về tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945- 19/8/2015) và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005-19/8/2015). Nội dung cụ thể sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:

1. Thông qua các hoạt động tuyên truyền nhằm giáo dục và khơi dậy niềm tự hào về truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc và của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân; khẳng định vai trò to lớn của Công an nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong 70 năm qua và trách nhiệm lớn lao trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong thời kỳ mới; biểu dương những thành tự to lớn của 10 năm thực hiện Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

2. Củng cố niềm tin, phát huy trách nhiệm cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn lực lượng Công an nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với cán bộ, chiến sỹ Công an nhằm phát huy bản chất cách mạng, không ngừng học tập, rèn luyện, phấn đấu xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, năng lực chuyên môn; cùng với toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” và hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia.

4. Các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm phải thiết thực, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, có tác động làm chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn lực lượng Công an nhân dân về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh. Gắn với tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2015) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2015), tạo ra không khí phấn khởi, hăng hái thi đua chào mừng Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của đất nước trong năm 2015.

II. NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN:

1. Nêu bật quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong 70 năm qua; phân tích, làm rõ những thuận lợi, khó khăn, thời cơ, thách thức và những nhiệm vụ trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.

2. Phổ biến, giải thích những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; xây dựng thế trận an ninh nhân dân; sự phối hợp chặt chẽ giữa Công an với nhân dân tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội của đất nước.

3. Tuyên truyền về những thành tích, chiến công, gương chiến đấu dũng cảm của lực lượng Công an nhân dân trong đấu tranh giải phóng dân tộc, phòng chống tội phạm; những gương người tốt, việc tốt trong phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc”, phong trào Công an nhân dân học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy và phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

4. Tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; kết quả và nhiệm vụ thực hiện các chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên lĩnh vực an ninh trật tự trong tình hình mới.

5. Biểu dương những thành tựu to lớn trong 10 năm thực hiện Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc của nhân dân các địa phương trong cả nước, trong tỉnh; sự nỗ lực cố gắng của lực lượng Công an nhân dân trong tham mưu và làm tốt vai trò nòng cốt, đưa phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc liên tục phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, góp phần tích cực giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội của đất nước; những bài học kinh nghiệm và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong việc thực hiện Ngày hội  toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

6. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch nhằm phi chính trị hóa lực lượng Công an nhân dân, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân, với các tầng lớp Nhân dân và các ngành, các cấp… làm suy yếu lực lượng Công an nhân dân.

7. Tuyên truyền, phản ánh các hoạt động kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc của các địa phương, đơn vị nhất là trong lực lượng Công an nhân dân.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Ban Tuyên giáo các huyện, thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, các đoàn thể tỉnh: Căn cứ vào Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc do Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Công an biên soạn (gửi kèm theo), tham mưu cho cấp uỷ hướng dẫn công tác tuyên truyền, đồng thời theo dõi, đôn đốc, kiểm tra nội dung thông tin trên các cụm thông tin cổ động, áp phích, khẩu hiệu đảm bảo tính thời sự và mang ý nghĩa tuyên truyền giáo dục tốt.

2. Sở Thông tin và Truyền thông: Tham mưu UBND tỉnh hướng dẫn các cơ quan báo chí của tỉnh; các trang thông tin điện tử của tỉnh, các cơ quan, đơn vị, các tập san, bản tin, website các sở, ngành, địa phương về sự kiện và các hoạt động kỷ niệm.

3. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc, phòng Văn hoá-Thông tin các huyện, thành phố tổ chức các hoạt động thông tin, cổ động, văn hoá, văn nghệ, thể thao, du lịch, triển lãm, chiếu phim… phục vụ nhân dân trong đợt kỷ niệm nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng.

4. Hội Nhà báo tỉnh: Chỉ đạo các chi hội tăng cường hoạt động thông tin, tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với nhiều hình thức sáng tạo, sinh động, hấp dẫn; động viên văn nghệ sĩ sáng tác về đề tài Công an nhân dân Việt Nam- 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị.

5.  Báo Kon Tum, Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh:

Xây dựng kế hoạch tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc  với hình thức phong phú, hấp dẫn, thiết thực, có tính giáo dục chính trị tư tưởng sâu sắc; tập trung cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đưa tin, phản ánh kịp thời các hoạt động kỷ niệm ở các ngành, địa phương trong tỉnh.

- Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh phối hợp với Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, các ban, ngành có liên quan tổ chức xây dựng và phát sóng các phim tài liệu, phóng sự 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc để tuyên truyền rộng rãi trong Đảng bộ và nhân dân.

6. Công an tỉnh: Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn lực lượng Công an nhân dân hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc; tổ chức các phong trào thi đua, các chương trình hành động cách mạng lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và các ngày lễ lớn trong năm 2015 trong toàn ngành.

IV. KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN:

1. Nhiệt liệt chào mừng 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945- 19/8/2015) và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005-19/8/2015)!

2. Phát huy truyền thống 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ!

3. Lực lượng Công an nhân dân quyết tâm thực hiện tốt khẩu hiệu hành động “Chủ động, kỷ cương, trách nhiệm, hiệu quả”!

4. Kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945-19/8/2015) và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005-19/8/2015), cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân thi đua làm nhiều việc tốt phục vụ nhân dân!

5. Lực lượng Công an nhân dân quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa!

6. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Công an nhân dân học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy, giai đoạn 2013-2018”!

7. Công an nhân dân Việt Nam nguyện hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân!

8. Đẩy mạnh các phong trào thi đua thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội năm 2015!

9. Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!

10. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!

11. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG

Nghị định số 39/2015/NĐ-CP ngày 27/4/2015 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số, gồm 6 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/6/2015. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:

- Đối tượng được hỗ trợ: Phụ nữ là người dân tộc thiểu số hoặc phụ nữ là người Kinh có chồng là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn (trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc) khi sinh con thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Sinh một hoặc hai con;

+ Sinh con thứ ba, nếu cả hai vợ chồng hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

+ Sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên;

+ Đã có một con đẻ, nhưng sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên;

+ Sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi;

+ Sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận;

+ Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai vợ chồng đã có con riêng (con đẻ);

+ Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai vợ chồng đã có con riêng (con đẻ); không áp dụng cho trường hợp hai vợ chồng đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống;

+ Phụ nữ thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số chưa kết hôn, cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh.

- Định mức hỗ trợ, thời điểm hỗ trợ và phương thức hỗ trợ:

+ Định mức hỗ trợ: Hai triệu đồng/người.

+ Thời điểm hỗ trợ: Tính từ tháng đầu sau khi sinh con thuộc đối tượng được hỗ trợ.

+ Phương thức hỗ trợ: Bằng tiền, cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng. Đối tượng thụ hưởng tự nguyện cam kết bằng văn bản không sinh thêm con, nếu vi phạm phải hoàn trả lại kinh phí đã nhận hỗ trợ.

B. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG THÁNG 06-2015

I. Trong tháng 06-2015, công tác tuyên truyền tập trung vào 07 nội dung trọng tâm sau:

1. Tuyên truyền đại hội cấp cơ sở; công tác chuẩn bị đại hội đảng bộ cấp huyện và tương đương; việc lấy ý kiến góp ý của các tầng lớp nhân dân vào dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV.

2. Tuyên truyền các ngày kỷ niệm trong tháng 6-2015; kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (01/7/1915- 01/7/2015); các hoạt động chào mừng 90 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6) và Đại hội Hội Nhà báo tỉnh Kon Tum lần thứ V, nhiệm kỳ 2015-2020; việc triển khai tháng hành động vì trẻ em với chủ đề “Lắng nghe trẻ em nói”.

3. Quán triệt, triển khai Thông báo Kết luận Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và kết quả triển khai kinh tế- xã hội của tỉnh tháng 5-2015 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 6-2015.

4. Tuyên truyền cuộc thi viết về gương người tốt, việc tốt; gương tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua toàn tỉnh giai đoạn 2011-2015. Cuộc thi tìm hiểu “70 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945- 19/8/2015) và 10 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và cuộc thi tìm hiểu 70 năm Ngày truyền thống lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum (25/8/1945- 25/8/2015).

5. Tuyên truyền kết quả thực hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, về xây dựng nông thôn mới; các chính sách an sinh xã hội; đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cho xã vùng sâu, vùng xa. Tuyên truyền về phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Tăng cường thông tin đối ngoại, trao đổi thông tin nhằm quảng bá hình ảnh, thế mạnh và tiềm năng của tỉnh thu hút các nhà đầu tư, khách du lịch.

6. Tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước; cổ vũ, nhân rộng các tập thể, gương điển hình tiên tiến trên tất cả các lĩnh vực, nhất là trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

7. Tuyên truyền công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, khoáng sản, môi trường; an ninh trật tự, an toàn giao thông; phòng chống bệnh giao mùa; công tác phòng chống cháy, nổ, thiên tai. Tiếp tục tuyên truyền các văn bản pháp luật mới; về chủ quyền an ninh biên giới, chủ quyền biển, đảo.

II. Mạng xã hội là một sản phẩm văn minh của công nghệ thông tin, có nhiều tiện ích to lớn trong đời sống hiện đại. Thế nhưng nếu chủ quan, đơn giản, nhiều người sẽ bị “lạc lối” trên mạng xã hội, thậm chí nguy hiểm hơn là vô hình trung gián tiếp tán phát những thông tin xấu độc, hoặc rò rỉ thông tin bí mật Nhà nước, gây hại cho cộng đồng; thậm chí tiếp tay cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nướcBBT đăng tải bài viết trên báo QĐND với tiêu đề: Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”: Phòng, chống "tự diễn biến, tự chuyển hóa" trong sử dụng mạng xã hội để các đồng chí và bạn đọc tham khảo.

Từ vô tình bị lợi dụng đến vi phạm pháp luật

Trong một cuộc trao đổi với chúng tôi gần đây, TS Lê Văn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng Viện Đại học Mở Hà Nội, cho biết, rất cần định hướng cho cán bộ, giảng viên và sinh viên trước “ma trận thông tin” trên mạng xã hội. Chẳng hạn, thông tin về một số cuộc tuần hành liên quan tới biển, đảo, bảo vệ cây xanh trên mạng xã hội được gắn với cái mũ “yêu nước”. Nếu không biết bản chất sự thật của thông tin, giới trẻ rất dễ bị “lạc lối” trên mạng xã hội, bị lôi kéo hoặc ít ra là đồng tình, sẻ chia, tán phát thông tin xấu độc mà không biết.

Trung tá Uông Thiện Hoàng, giảng viên Khoa Lịch sử nghệ thuật quân sự (Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng), là người đã tham gia giảng dạy nhiều khóa giáo dục quốc phòng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội cũng rất trăn trở trước thực tế có cán bộ, giáo viên, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, người có uy tín sử dụng trang mạng xã hội cá nhân đã tán phát thông tin xấu độc, sai sự thật. Trong đó có thầy giáo ở một trường THPT ở Hà Tĩnh dạy giỏi và hiện vẫn có rất nhiều học sinh đến học thêm khi ông nghỉ hưu. Tuy nhiên, đáng tiếc là trên trang facebook cá nhân, ông thường xuyên đăng lại các bài về những hạn chế, tiêu cực xã hội kèm theo các bình luận, suy diễn chủ quan... cổ xúy học sinh, sinh viên nói xấu chế độ, gieo rắc tâm lý chán chường, bi quan cho giới trẻ. Đáng phê phán hơn phải kể đến một dịch giả, nhà thơ, nhà văn nguyên là cán bộ của một bộ, nay là cán bộ một ban của Hội Nhà văn Việt Nam. Thời chống Mỹ, ông này được Nhà nước cho đi học tập ở nước ngoài nhưng nay nghỉ hưu lại thường xuyên có những bài thơ dạng thơ 5 chữ với nội dung nói xấu Đảng, Nhà nước. Không ít người chưa hiểu rõ bản chất nhân vật này nên thường chia sẻ những bài thơ trên cho bạn bè qua trang cá nhân.

Người dùng mạng xã hội khi phản biện xã hội cũng dễ mắc nhiều sai lầm. Những ngày qua, cả nước tưng bừng kỷ niệm 40 năm Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước thì trên facebook của một nhà báo đang làm việc tại cơ quan báo chí của tổ chức Đoàn lại đăng tải nhiều bài viết, bài thơ có biểu hiện “xét lại lịch sử”. Thậm chí trên trang cá nhân, đi kèm link các bài đăng báo của mình, anh này còn có những lời lẽ xúc phạm cả lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Trên thực tế đã có nhiều vụ việc vi phạm pháp luật đáng tiếc trong sử dụng mạng xã hội. Vụ việc nhóm thanh niên dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai khi tham gia facebook đã bị các đối tượng phản động nước ngoài lôi kéo dùng trang cá nhân tuyên truyền cho “Tin lành Đề Ga” quả là một bài học đắt giá. Tương tự, vụ việc một thầy giáo dạy ngoại ngữ ở thị xã Phú Thọ dùng facebook để đăng tải những thông tin cho các lực lượng “dân chủ” khiến nhiều học sinh hoang mang. Tuy nhiên, ông này đã bị cơ quan chức năng xử lý dù bao bọc dưới cái vỏ tinh vi “thông tin do bạn bè chia sẻ”.

Theo lãnh đạo Cục An ninh Thông tin và Truyền thông (Bộ Công an), hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch bên ngoài đã tác động không nhỏ, gây ra những hiện tượng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nước. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong những vụ, viện, trường học viết bài có nội dung trái với quan điểm của Đảng và Nhà nước rồi phát tán trên internet. Những người này có thể bị kích động, lôi kéo, lợi dụng; từ việc được kẻ xấu phỏng vấn, đăng tải, khuếch trương các bài viết của họ tới việc sử dụng hình ảnh, đưa họ tham gia vào những hoạt động mang danh dân chủ, bảo vệ chủ quyền, bảo vệ cây xanh… nhưng thực chất là để chống phá chế độ. Nhiều trang mạng xã hội tuy không trực tiếp đăng tin, bài có nội dung chống Đảng, Nhà nước nhưng có đường liên kết đến các trang phản động là thực trạng khá phổ biến, gây hậu quả phức tạp, vô hình trung tiếp tay cho các luận điệu sai trái. Một thống kê của Công an TP Hà Nội cho biết, có tới hơn 70% hoạt động thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hóa” được tiến hành bằng phương thức tác động tư tưởng thông qua internet, mà nhiều nhất là qua facebook và blog.

Tỉnh táo và chủ động đấu tranh

Mặc dù facebook được coi là mạng xã hội lớn nhất thế giới nhưng nó vẫn bị vắng bóng và hạn chế ở nhiều nước như: Bra-xin, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ả-rập Xê-út… Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng nhu cầu sử dụng mạng xã hội của người dân. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, ở Việt Nam hiện có khoảng 30 triệu người sử dụng internet và hơn 100 triệu thuê bao điện thoại di động, khoảng 25 triệu người sử dụng facebook.

Một số chuyên gia cho rằng, cần có biện pháp quản lý chặt chẽ hơn nữa mạng xã hội. Theo TS Nguyễn Công Dũng, Phó tổng biên tập thường trực Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, cần tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới trong quản lý mạng xã hội như ở Nga, từ năm 2013, “mạng xã hội facebook được nhà nước Nga yêu cầu loại bỏ "thông tin cấm”.

Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ và Thông tư số 09/2014/BTTTT ngày 19-8-2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông đã có nhiều quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội. Trong đó có nhiều hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng mạng xã hội như: Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc; đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm; giả mạo tổ chức, cá nhân và tán phát thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân… Còn không ít người dùng mạng xã hội chưa nắm vững các quy định này nên đã có sai phạm. Đây là vấn đề cần khắc phục trong thời gian tới.

Với cán bộ, chiến sĩ LLVT, việc sử dụng mạng xã hội không bị cấm như ở nhiều quân đội trên thế giới nhưng Bộ Quốc phòng cũng đã có những quy định cụ thể để quản lý. Trong đó, mỗi quân nhân phải chú ý việc không được sử dụng mạng xã hội với tư cách quân nhân; không đăng tải, tán phát thông tin về hoạt động của các đơn vị quân đội, để lộ thông tin về quân số, vũ khí trang bị, biên chế tổ chức, hoạt động tác chiến, nghiệp vụ… Các quân nhân không được để lộ, lọt thông tin bí mật quân sự, không sử dụng mạng máy tính, thiết bị của cơ quan, đơn vị quân đội truy nhập mạng xã hội…

Mạng xã hội với đặc trưng nổi bật mang tính cá nhân, tính tương tác cộng đồng cao nhưng lại là không gian ảo rất khó kiểm chứng, kiểm soát thông tin và các mối quan hệ. Vì vậy, người sử dụng mạng xã hội phải luôn tỉnh táo, có bản lĩnh vững vàng để không bị “lạc lối”. Đặc biệt, với người dùng là cán bộ, đảng viên, công chức, người tham gia các đoàn thể xã hội thì việc dùng mạng xã hội tuy chỉ là trang cá nhân nhưng có thể gây ảnh hưởng tới uy tín của tập thể, đoàn thể họ đang công tác. Việc đăng tải những thông tin, hình ảnh liên quan đến đơn vị mình hoạt động nếu thiếu cân nhắc có thể gây ra những nguy hại khôn lường.

Người sử dụng mạng xã hội cần phải thận trọng, cảnh giác, sàng lọc thông tin. Không nên đăng tải, chia sẻ thông tin từ những trang web, trang mạng xã hội không rõ nguồn gốc… vì những thông tin này rất khó kiểm chứng. Vụ việc kẻ xấu tung tin bịa đặt về Hội nghị Thành Đô gần đây là một ví dụ. Chỉ từ một đường link bịa đặt của một đối tượng xấu được đài, báo hải ngoại dẫn lại; không ít trang mạng xã hội trong nước đã chia sẻ, gây dư luận xấu, sự hoang mang trong dư luận.

Mặt khác, việc dẫn nguồn, chia sẻ thông tin từ các trang báo điện tử, mạng xã hội phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Người dùng mạng xã hội không được dùng trang cá nhân chia sẻ, tổng hợp như một trang thông tin điện tử và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những lời bình luận, những thông tin đi kèm đường link mình chia sẻ. Nên chọn lựa thông tin chính thống. Theo Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn: “Mỗi người phải tự chắt lọc thông tin cho mình vì mạng xã hội không phải là kênh thông tin chính thống. Những người dùng mạng xã hội phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin mình đưa ra”.

Đối với cán bộ, đảng viên, cần gương mẫu chấp hành 19 điều đảng viên không được làm, có nhiều điều liên quan đến phát ngôn. Đây cũng là vấn đề thời gian qua, còn một số cán bộ, đảng viên vi phạm. Trong đó, đáng chú ý có cả phát biểu của cán bộ cấp cao về kinh tế thị trường, hoài nghi về con đường xã hội chủ nghĩa, gây phân tâm trong cán bộ, đảng viên, bị nhiều đài, báo nước ngoài lợi dụng, xuyên tạc. Theo GS, TS Lê Hữu Nghĩa, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, không ít cấp ủy, cơ quan chính quyền, nhiều cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đúng tính chất nguy hiểm của “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ; thậm chí có người còn phụ họa theo những quan điểm sai trái. 

Sinh thời, Lê-nin từng căn dặn: Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa XI) cũng nhấn mạnh: “Chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng”. Những biểu hiện sai lệch trên mạng xã hội cần được cảnh báo và xử lý.

C. TIN TỨC- SỰ KIỆN

I. TIN TRONG TỈNH

1. Ngày 12-5 tại Nghĩa trang huyện Ngọc Hồi, Tỉnh ủy-HĐND-UBND-Ủy ban MTTQVN tỉnh long trọng tổ chức Lễ truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ Việt Nam hy sinh trong khi làm nhiệm vụ quốc tế qua các thời kỳ chiến tranh tại đất bạn Lào và Campuchia, do đội K53 (Tỉnh đội Kon Tum) cất bốc trong mùa khô 2014-2015.

Mùa khô 2014-2015, Đội K53 tiếp tục triển khai nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào và Campuchia trong điều kiện ngày càng khó khăn do thiếu thông tin về nơi an táng các liệt sĩ, địa hình có nhiều thay đổi, các nhân chứng biết thông tin đa phần đã mất hoặc già yếu, nhưng được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban công tác đặc biệt 3 tỉnh Nam Lào và Ban chuyên trách tỉnh Rattanakiri (Campuchia), trong mùa khô 2014-2015, Đội K53 tỉnh Kon Tum đã khảo sát, khai quật trên 600 vị trí, đào bới trên 1.200m3 đất đá,  tìm kiếm, cất bốc, đưa về nước được 09 hài cốt liệt sĩ (trong đó có 03 hài cốt liệt sĩ được tìm thấy ở Lào, 06 hài cốt liệt sĩ được tìm thấy ở Campuchia); trong đó chỉ có 01 hài cốt xác định được tên là liệt sĩ Bùi Văn Hảo, quê ở Hải Phòng.

Đọc điếu văn tại buổi lễ, đồng chí Lê Thị Kim Đơn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh bày tỏ niềm xúc động: Tổ quốc và nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn của các liệt sĩ đã cống hiến trọn đời mình cho độc lập tự do của Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả. Ghi nhớ công ơn những người cha, người mẹ Việt Nam anh hùng đã dày công sinh thành, dưỡng dục, cống hiến cho Tổ quốc những người con trung hiếu, dám xả thân vì nghĩa lớn. Những hi sinh cống hiến đó là tượng đài hùng vĩ, mãi mãi khắc sâu trong lòng các thế hệ người Việt Nam. Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Kon Tum luôn ghi nhớ sự hi sinh cao cả và anh dũng của các liệt sĩ, sẽ làm hết sức mình để từng bước đưa đồng bào các dân tộc trong tỉnh được ấm no, hạnh phúc.Sẽ tiếp tục giữ gìn, củng cố và phát triển hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp sẵn có giữa Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia trong tình hình mới, vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình hợp tác hữu nghị và tiến bộ xã hội.

2. Ngày 18-5, Tỉnh ủy tổ chức Lễ trao thưởng cho 35 tập thể và 42 cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2014, nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là những tập thể, cá nhân thật sự tiêu biểu trên các lĩnh vực lao động sản xuất, học tập, công tác, chiến đấu bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và trong các sinh hoạt hàng ngày.

Tới dự có đồng chí Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; đồng chí Phạm Thanh Hà - Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Bộ phận giúp việc BTV Tỉnh ủy về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thành viên Bộ phận giúp việc BTV Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị; đại diện các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh Kon Tum đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, từng bước đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đi vào chiều sâu, ngày càng xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, điển hình làm theo Bác, có tác dụng lan tỏa trong đời sống xã hội. Hằng năm, có hằng trăm tập thể, cá nhân được các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở biểu dương, khen thưởng về thành tích tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. 

Từ năm 2012 đến nay, tỉnh Kon Tum đã tổ chức biểu dương, khen thưởng cho 178 tập thể, cá nhân tiêu biểu, điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Trong đó, có 01 tập thể được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; 01 tập thể và 03 cá nhân được Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương tặng bằng khen.

Phát biểu tại buổi Lễ, đồng chí Phạm Thanh Hà nhấn mạnh: Để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong thời gian tới tiếp tục được đẩy mạnh và đạt được hiệu quả thiết thực, đề nghị: Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị; đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành sinh hoạt thường xuyên, nền nếp ở các chi bộ, gắn với tiếp tục thực hiện NQTW4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban Chấp hành TW Đảng (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Các cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, đơn vị tiếp tục lựa chọn nhữngvấn đề bức xúc, nổi cộm hoặc còn yếu kém, hạn chế ở địa phương, đơn vị mình để tập trung giải quyết trong năm, đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác thực sự hiệu quả, thiết thực, lập thành tích chào mừng đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải thực hiện tốt trách nhiệm nêu gường. Phải nêu cao tinh thần trung thực; gắn bó với Nhân dân; đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; tự giác học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thể hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong thực tiễn. Các tập thể, cá nhân tiêu biểu, điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được biểu dương, tôn vinh tiếp tục phát huy tốt hơn nữa những thành tích đã đạt được để thật sự xứng đáng với sự ghi nhận, đánh giá của Đảng bộ, chính quyền tỉnh và là tấm gương cho mọi người học tập, làm theo.

3. Ngày 27-5, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị quán triệt các văn kiện Hội nghị Trung ương 11, khóa XI. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì Hội nghị.

Hội nghị đã nghe đồng chí Phạm Thanh Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy quán triệt các văn kiện Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

Thực hiện chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 04-07/7/2015 tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã họp Hội nghị lần thứ 11 để thảo luận, cho ý kiến về: Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; số lượng đại biểu và việc phân bổ đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; mô hình tổ chức chính quyền địa phương; về việc thực hiện chủ trương đầu tư Dự án cảng hàng không Quốc tế Long Thành và một số vấn đề quan trọng khác. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị.

Sau 4 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, với tinh thần đổi mới, thiết thực Ban Chấp hành Trung ương đã biểu quyết thống nhất cao thông qua các nội dung của Hội nghị.

Cùng ngày (27-5), dưới sự chủ trì của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Văn Hùng, Tỉnh ủy tiến hành Hội nghị rút kinh nghiệm Đại hội điểm cấp huyện, nhiệm kỳ 2015-2020.

Dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy; các ban tham mưu giúp việc các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; Chủ nhiệm chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự và Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh.

Thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 30-5-2014 của Bộ Chính trị “về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”; Kế hoạch số 79-KH/TU, ngày 09-9-2014 của Tỉnh ủy “về chuẩn bị và tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015- 2020”. Từ ngày 05-20/5/2015, Tỉnh ủy đã chỉ đạo tổ chức xong Đại hội điểm 3 Đảng bộ huyện là Kon Plông, Ngọc Hồi và Đăk Glei; trong đó, huyện Đăk Glei thực hiện thí điểm chủ trương Đại hội trực tiếp bầu bí thư huyện ủy. Tổng số đại biểu triệu tập 650 đại biểu trong tổng số 5.754 đảng viên.

Nhìn chung, 03 đảng bộ đều làm khá tốt từ khâu chuẩn bị đến tổ chức Đại hội và triển khai một số nhiệm vụ sau Đại hội. Đặc biệt là công tác bầu cử tại Đại hội và Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa mới thực hiện nghiêm túc, dân chủ và theo đúng quy chế bầu cử trong Đảng. Đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ DTTS theo đúng quy định.

Công tác tuyên truyền, phát động các phong trào thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội được triển khai nghiêm túc; công tác phục vụ, điều hành được chuẩn bị công phu, khoa học. Báo cáo chính trị đã tập trung đánh giá được kết quả thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ nhiệm kỳ 2010- 2015; nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, đột phá giai đoạn 2015- 2020 phù hợp với điều kiện của địa phương; báo cáo kiểm điểm đã tập trung kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, rút ra bài học kinh nghiệm và xác định những vấn đề trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ tới.

Đại hội điểm 03 đảng bộ huyện đã bầu 127 cấp ủy viên; 61 đại biểu chính thức và 06 đại biểu dự khuyết đi dự Đại hội cấp trên; bầu 36 ủy viên ban thường vụ; bầu trực tiếp Bí thư Huyện ủy Đăk Glei, trúng cử đạt 226/234 phiếu, chiếm 96,58%; bầu 2 Bí thư Huyện ủy, 8 Phó Bí thư Huyện ủy; bầu 20 Ủy viên và 3 Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy.

Tuy nhiên, vẫn còn Đại hội trang trí hội trường chưa bám sát văn bản hướng dẫn của Trung ương; thực hiện nội quy, quy chế làm việc chưa nghiêm túc; một số nội dung phổ biến, thực hiện biểu quyết và xin ý kiến tại Đại hội chưa đảm bảo theo quy định; các ý kiến tham gia thảo luận chủ yếu tập trung vào báo cáo chính trị, chưa có ý kiến tranh luận. Báo cáo kiểm điểm, dự thảo Nghị quyết có nơi còn dài.

Để tổ chức tốt Đại hội các Đảng bộ cấp huyện và tương đương ra diện rộng (12 Đảng bộ còn lại), Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị: Công tác chuẩn bị và tổ chức Đại hội cần bám sát các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, của Tỉnh ủy và BTV Tỉnh ủy, nhất là Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị, Hướng dẫn 26-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương, Kế hoạch 79-KH/TU của Tỉnh ủy và Hướng dẫn 06-HD/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền trước, trong và sau Đại hội; không đưa các tiết mục văn nghệ vào chương trình chính thức mà sau Đại hội nên đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn nghệ, thể thao ở cơ quan, đơn vị và khu dân cư để mừng thành công Đại hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tổ chức Đảng, đảng viên. Thành lập đầy đủ các tiểu ban, bộ phận giúp việc Đại hội, gắn với trách nhiệm của các đồng chí trong cấp ủy được phân công phụ trách. Phân công các nội dung điều hành của đoàn chủ tịch phải hợp lý, khoa học. Hoàn chỉnh có chất lượng, dung lượng hợp lý nội dung báo cáo chính trị, báo cáo kiểm điểm và dự thảo Nghị quyết. Công tác nhân sự phải thực hiện theo đúng đề án nhân sự được Ban Thường vụ Tỉnh ủy thống nhất. Thực hiện quy trình bầu cử phải đúng theo Quyết định 244-QĐ/TW của BCH Trung ương Đảng. Sau khi kết thúc Đại hội phải bám sát nội dung Nghị quyết để xây dựng chương trình hành động thực hiện có hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị Đại hội đề ra.

II. TIN TRONG NƯỚC

1. Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI)

Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) họp từ ngày 04 đến 07/5/2015, xem xét, quyết định: Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XII; số lượng và việc phân bổ đại biểu dự Đại hội XII; cho ý kiến về một số vấn đề quan trọng khác.

- Về phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XII:

Yêu cầu xây dựng Ban Chấp hành Trung ương khoá XII: Việc xác định tiêu chuẩn Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương khoá XII phải căn cứ vào tiêu chuẩn chung của cán bộ được quy định trong các nghị quyết của Đảng; đặc biệt phải: (1) Có tinh thần yêu nước sâu sắc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và lợi ích của dân tộc; có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, nói đi đôi với làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động, làm việc có hiệu quả. (2) Có phẩm chất đạo đức và lối sống trong sáng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tín nhiệm; có tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ với công việc; dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước. Bản thân không tham nhũng, quan liêu, cơ hội, vụ lợi, tham vọng quyền lực và kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng; không để vợ, chồng, con, người thân lợi dụng chức quyền để trục lợi; có ý thức giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, gương mẫu chấp hành sự phân công và nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình; công minh, công bằng trong đánh giá, sử dụng cán bộ. (3) Có trí tuệ, tầm nhìn, tư duy chiến lược để tham gia hoạch định đường lối, chính sách và sự lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương; có năng lực cụ thể hoá và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, nhiệm vụ của Đảng, chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới; qua thực tiễn thể hiện rõ là người có năng lực, sáng tạo, làm việc có hiệu quả, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đoàn kết, quy tụ, phát huy được đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực, địa bàn được phân công, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; có ý thức, trách nhiệm và khả năng tham gia thảo luận, đóng góp vào các quyết định chung của Ban Chấp hành Trung ương; đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ.

Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư là những đồng chí tiêu biểu của Ban Chấp hành Trung ương về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý, có tầm nhìn và tư duy chiến lược, có khả năng phân tích, dự báo, tổng hợp, đề xuất những vấn đề mới một cách đúng đắn; có trình độ hiểu biết sâu sắc về lý luận chính trị, biết phát hiện và sử dụng người có đức, có tài; đã tham gia Ban Chấp hành Trung ương, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, còn trong độ tuổi theo quy định và đủ sức khoẻ để đảm đương nhiệm vụ.

Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, Ban Chấp hành Trung ương cần có số lượng và cơ cấu hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, có tính kế thừa và phát triển. Tăng số lượng Uỷ viên Trung ương ở các vị trí, địa bàn chiến lược, lĩnh vực công tác quan trọng; tăng thêm tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Ban Chấp hành Trung ương khoá XII cần có 3 độ tuổi (dưới 50; 50 - 60 và từ 61 tuổi trở lên). Trường hợp đặc biệt nào cần phải cơ cấu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ngoài độ tuổi theo quy định thì Bộ Chính trị cân nhắc, trình Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định việc đề cử với Đại hội Đảng.

Phương pháp và quy trình giới thiệu, lựa chọn nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XII: Trung ương nhất trí cao với báo cáo của Bộ Chính trị, trong đó có khâu giới thiệu của các đồng chí Uỷ viên Trung ương khoá XI, giới thiệu của các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương. Việc giới thiệu nhân sự, nói chung phải trên cơ sở quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 - 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo.

- Về việc phân bổ đại biểu dự Đại hội XII của Đảng: Trung ương nhất trí cao với những nguyên tắc, các căn cứ phân bổ đại biểu và dự kiến số lượng phân bổ đại biểu đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương; giao Bộ Chính trị quyết định cụ thể việc phân bổ đại biểu.

- Về mô hình tổ chức chính quyền địa phương: Ban Chấp hành Trung ương quyết định chọn phương án “Tất cả các đơn vị hành chính quy định tại khoản 1, Điều 110 Hiến pháp năm 2013 đều tổ chức cấp chính quyền địa phương (gồm có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân)”.

- Về Dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đã xác định: “Huy động nguồn vốn ODA và khuyến khích hợp tác công tư để đầu tư xây dựng mới Cảng trung chuyển Hàng không quốc tế Long Thành”. Tại Hội nghị Trung ương lần này, được sự ủy quyền của Bộ Chính trị, Ban cán sự đảng Chính phủ đã trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho ý kiến về việc thực hiện chủ trương đầu tư Dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành. Sau khi thảo luận, xem xét các vấn đề nêu trong Tờ trình và Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, Trung ương tiếp tục khẳng định sự cần thiết, đúng đắn của chủ trương đầu tư xây dựng Cảng Hàng không trung chuyển quốc tế Long Thành đã được Hội nghị Trung ương 4 khoá XI (tháng 12/2011) đề ra, coi đây là Dự án đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trung ương yêu cầu, trong quá trình nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện Dự án, cần lưu ý xác định rõ những tiêu chí, điều kiện tiền đề để trở thành một cảng trung chuyển hàng không quốc tế trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các sân bay trung chuyển quốc tế trong khu vực Đông Nam Á. Tính toán kỹ hiệu quả đầu tư, lộ trình, phân kỳ đầu tư sao cho khả thi, phù hợp với tình hình phát triển của ngành hàng không Việt Nam và khả năng huy động nguồn lực cho đầu tư, phát triển.

Ngay trong giai đoạn xây dựng Báo cáo đầu tư trình Quốc hội cần phải cố gắng cung cấp một cách tương đối chuẩn xác tình hình, số liệu để chứng minh có sức thuyết phục về các phương án, đề xuất nêu trong Tờ trình như: Sự cần thiết phải lựa chọn địa điểm Long Thành; sự phù hợp của Dự án với các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh; vấn đề sử dụng đất, phương án giải phóng mặt bằng và tái định cư; việc lựa chọn công nghệ, kỹ thuật và mô hình quản lý, vận hành, khai thác sau khi Dự án hoàn thành; hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả đầu tư của Dự án; tổng mức đầu tư và cơ cấu nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vấn đề huy động các nguồn vốn đầu tư của xã hội, khả năng hoàn vốn; biện pháp khắc phục tình trạng lâu nay các dự án thường vượt quá cao so với dự toán ban đầu… Nghiêm túc lắng nghe và tiếp thu các ý kiến góp ý xác đáng và giải trình rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, nhất là ý kiến phản biện của các tổ chức, cá nhân có trình độ chuyên môn về các lĩnh vực có liên quan đến Dự án. Bảo đảm tính công khai, minh bạch; làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và sự đồng thuận cao trong xã hội.

Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ tiếp thu ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị này để hoàn chỉnh Dự án trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII.

2. Một số nhiệm vụ, giải pháp tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Những năm qua, các cấp, các ngành đã tích cực triển khai chủ trương của Đảng về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đạt được một số kết quả quan trọng. Tuy nhiên, hiệu quả công tác này còn hạn chế, tổng số biên chế có xu hướng tăng lên. Cơ cấu công chức, viên chức còn chưa hợp lý về số lượng, chức danh ngạch, chức danh nghề nghiệp... Thời gian tới, các cấp, các ngành cần thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp sau:

- Tiếp tục rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế

+ Về tổ chức bộ máy: Kiện toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm bộ máy đồng bộ, tinh gọn, ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Tập trung rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Trước mắt, giữ ổn định tổ chức như hiện nay. Không thành lập các tổ chức trung gian; chỉ thành lập tổ chức mới trong trường hợp cá biệt thật sự cần thiết do yêu cầu của thực tiễn. Kiện toàn tổ chức bộ máy phải gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ. Tiếp tục củng cố và nâng cao hoạt động của mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Xem xét để hợp nhất các tổng cục, cục, vụ; cơ bản không để cấp phòng trong các đơn vị tham mưu thuộc cơ quan Trung ương. Phân loại các cơ quan hành chính làm cơ sở xác định tổ chức, bộ máy phù hợp với yêu cầu quản lý và nâng cao chất lượng cung ứng các nhu cầu cơ bản thiết yếu phục vụ nhân dân. Những nhiệm vụ mà cơ quan nhà nước không cần thiết phải trực tiếp thực hiện hoặc thực hiện không có hiệu quả thì chuyển sang các tổ chức ngoài nhà nước đảm nhận. Rà soát lại bộ máy các sở, ban, ngành ở địa phương để kiện toàn các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng thu gọn đầu mối, giảm bớt khâu trung gian, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Chú ý phân biệt rõ mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn.

+Về tinh giản biên chế: Kiên trì thực hiện chủ trương tinh giản biên chế cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm không tăng tổng biên chế của cả hệ thống chính trị. Trường hợp phải thành lập tổ chức mới hoặc được giao nhiệm vụ mới thì các cơ quan tổ chức, đơn vị tự cân đối, điều chỉnh trong tổng số biên chế hiện có. Đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo, thành lập mới trường, tăng lớp, tăng học sinh; lĩnh vực y tế thành lập mới tổ chức, tăng quy mô giường bệnh... thì có thể bổ sung biên chế phù hợp, nhưng phải quản lý chặt chẽ. Giữ ổn định biên chế của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp đến hết năm 2016. Từ năm 2017, thực hiện khoán hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao. Từng cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế trong 7 năm (2015 - 2021) và từng năm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để tổ chức thực hiện. Trong đó, phải xác định tỉ lệ tinh giản biên chế đến năm 2021 tối thiểu là 10% biên chế của bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xã hội hóa, thay thế nguồn trả lương từ ngân sách nhà nước bằng việc trả lương từ nguồn thu sự nghiệp. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ tuyển dụng số cán bộ, công chức, viên chức mới không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã thực hiện tinh giản biên chế và không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã giải quyết chế độ nghỉ hưu hoặc thôi việc theo quy định. Sớm hoàn thành việc xác định vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội để làm căn cứ xác định biên chế phù hợp. Rà soát trình độ đào tạo, năng lực của công chức, viên chức để có kế hoạch sắp xếp, bố trí sử dụng phù hợp với vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ. Có biện pháp đồng bộ để tinh giản biên chế đối với những cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, không đạt tiêu chuẩn quy định, những người dôi dư do sắp xếp lại tổ chức. Đẩy mạnh thực hiện kiêm nhiệm đối với một số chức danh của cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã, nhất là kiêm nhiệm đối với các chức danh cán bộ không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố. Khoán kinh phí chi trả phụ cấp để khuyến khích giảm dần số lượng những người hoạt động không chuyên trách và tăng thu nhập của cán bộ, công chức cấp xã. Sớm sửa đổi Quy định về cán bộ, công chức cấp xã theo hướng tinh gọn, giảm bớt chức danh. Giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ chuyên trách cấp xã khi hết nhiệm kỳ mà không đủ điều kiện tái cử...

- Xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo ngạch, chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và trình độ đào tạo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm cơ cấu phù hợp về nữ, người dân tộc thiểu số. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, chức vụ công chức, viên chức từ thứ trưởng, chuyên gia, chuyên viên cao cấp và tương đương trở xuống theo hướng chú trọng phẩm chất, trình độ, năng lực. Mỗi tiêu chuẩn của chức vụ lãnh đạo, quản lý đều phải quy định ngạch công chức hoặc chức danh nghề nghiệp của viên chức tương ứng. Chỉ bổ nhiệm chức danh chuyên gia, chuyên viên cao cấp đối với công chức làm nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu tổng hợp chiến lược ở các bộ, ban, ngành Trung ương, lãnh đạo cấp ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân và người đứng đầu các sở, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh.

3. Một số tình hình đại hội điểm và thí điểm đại hội đảng bộ cơ sở trực tiếp bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư nhiệm kỳ 2015-2020

Đến hết tháng 3/2015, đã có 1.103 đảng bộ, chi bộ cơ sở (913 đảng bộ, 190 chi bộ) tiến hành đại hội điểm, thí điểm trực tiếp bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư tại đại hội. Hầu hết, đại hội thí điểm diễn ra trong 1,5 ngày (phiên trù bị 0,5 ngày, phiên chính thức 1 ngày); đại hội thí điểm trực tiếp bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư tại đại hội, diễn ra trong 2 ngày. Về cơ bản, trước khi tiến hành đại hội, các cấp ủy đều tổ chức cho đảng viên ở chi bộ nghiên cứu, thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Trung ương trình Đại hội XII của Đảng và báo cáo của cấp ủy cấp trên trực tiếp. Cấp ủy tổng hợp ý kiến thảo luận của các chi bộ trình ra đại hội. Việc tham luận ở đại hội khá sôi nổi, phát biểu thẳng thắn, có trách nhiệm (đại hội có số lượt ý kiến tham luận nhiều nhất là 29 ý kiến, nơi ít nhất là 2 ý kiến). Công tác bầu cử tại đại hội được tiến hành theo đúng Quy chế Bầu cử trong Đảng.

Việc ứng cử, đề cử tại đại hội (hội nghị ban chấp hành) để bầu ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư thực hiện theo đúng quy định; chỉ có 2/45 đảng bộ đề cử thêm 2 người và được đưa vào danh sách bầu cử. Hầu hết, tại đại hội đã bầu đủ số lượng cấp ủy viên do đại hội quyết định, có 3 đảng bộ bầu thiếu 1 hoặc 2 cấp ủy viên so với số lượng cần bầu (do chưa chuẩn bị được nhân sự tuổi trẻ, chờ kiện toàn lãnh đạo sau đại hội). Kết quả bầu cử tại 45 đảng bộ cơ sở như sau:

- Bầu Ban Chấp hành: Tỉ lệ số dư trong danh sách bầu ban chấp hành nơi thấp nhất là 13,3%, cao nhất gần 30%. Có 27 đảng bộ bầu tối đa 15 cấp ủy viên, 8 đảng bộ bầu số lượng cấp ủy viên nhiều hơn khóa trước, 8 đảng bộ bầu số lượng cấp ủy viên thấp hơn khóa trước. Tỉ lệ nữ bình quân đạt 20,5%, có 9 đảng bộ đạt tỉ lệ nữ trên 30%, nơi cao nhất là 46,7%. Tỉ lệ tuổi trẻ (từ 35 tuổi trở xuống) đạt 18,9% (nhiệm kỳ trước là 18,1%); có 8 cấp ủy viên dưới 30 tuổi, có 3 đảng bộ tỉ lệ cấp ủy viên tuổi trẻ đạt cao (trên 38,5%). Tỉ lệ cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số đạt 6,4% (nhiệm kỳ trước là 6,1%); có 4 đảng bộ có số lượng cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số tương đương hoặc cao hơn nhiệm kỳ trước, 1 đảng bộ thấp hơn nhiệm kỳ trước. Tỉ lệ đổi mới cấp ủy viên là 25,6%.

 - Bầu ban thường vụ: Tỉ lệ số dư trong danh sách bầu ban thường vụ chủ yếu là 20%. Hầu hết bầu đủ số lượng ban thường vụ, có 1 đảng bộ bầu thiếu 1 ủy viên ban thường vụ. Nhiều đảng bộ có ủy viên ban thường vụ là nữ (có nơi chiếm trên 60%).

- Bầu bí thư, phó bí thư: Thực hiện bầu không có số dư, kết quả đúng với dự kiến đã chuẩn bị.

- Bầu đoàn đi dự đại hội đảng bộ cấp trên: Hầu hết, bầu một lần đủ số lượng đại biểu chính thức và dự khuyết. Có nơi bầu 2 lần vẫn thiếu 1 đại biểu chính thức, đại hội quyết định không bầu tiếp.

Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổ chức đại hội điểm và thí điểm ở cấp cơ sở còn có một số hạn chế: Việc lựa chọn cơ sở đại hội điểm chưa toàn diện, tập trung nhiều vào đảng bộ địa bàn xã; cá biệt có nơi chưa nắm chắc tình hình, diễn biến trước đại hội để kịp thời chỉ đạo giải quyết. Về chuẩn bị văn kiện trình đại hội, một số nơi, báo cáo chính trị còn dài, chưa thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm; chưa xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp tương xứng với nhiệm vụ của nhiệm kỳ 2015 - 2020; đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của địa phương, đơn vị chưa sâu sắc. Báo cáo kiểm điểm ban chấp hành ở một số nơi chưa làm rõ vai trò lãnh đạo của cấp ủy hoặc có một số nội dung trùng với báo cáo chính trị, chưa mạnh dạn tự phê bình và phê bình, không chỉ rõ nguyên nhân chủ quan và trách nhiệm cá nhân. Dự thảo nghị quyết ở một số nơi còn dài, giống như báo cáo chính trị rút gọn nên khó tham gia ý kiến trước khi thông qua. Về thảo luận các văn kiện tại đại hội, đa số ý kiến phát biểu đều phân công chuẩn bị trước, chủ yếu tham luận vào báo cáo chính trị, ít ý kiến thảo luận báo cáo kiểm điểm của ban chấp hành và nhiệm vụ, giải pháp của nhiệm kỳ 2015 - 2020, chất lượng ý kiến còn hạn chế, không sát thực tế. Về thảo luận văn kiện của cấp trên chủ yếu là thông qua báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận từ ác tổ chức đảng trực thuộc góp ý, ý kiến bổ sung tại đại hội không nhiều. Về công tác bầu cử, 43/45 đảng bộ không có nhân sự ứng cử, đề cử tại đại hội. Số dư bầu ban chấp hành còn thấp; việc đổi mới cấp ủy cơ sở chưa đạt yêu cầu; một số nơi chuẩn bị nhân sự không kỹ nên có chức danh chủ chốt không trúng cử, có chức danh không đúng với dự kiến. Cơ cấu cấp ủy viên là bí thư chi bộ trực thuộc còn ít, nhất là ở thôn, tổ dân phố. Một số đại hội thí điểm trực tiếp bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư tại đại hội còn lúng túng trong bầu cử nên mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến chương trình đại hội.

4. Một số quy định mới về Quỹ Bảo hiểm xã hội  trong Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi)

Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) quy định một số điểm mới về Quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH) như sau:

- Bổ sung các nội dung chi: (1) Đóng bảo hiểm y tế cho người nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi và người nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau trong trường hợp bị mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày. (2) Trả phí giám định y khoa đối với trường hợp không do người sử dụng lao động giới thiệu đi giám định mức suy giảm khả năng lao động mà kết quả giám định đủ điều kiện hưởng chế độ BHXH.

- Bổ sung phương thức đóng của người lao động tham gia BHXH tự nguyện gồm một năm một lần, một lần cho nhiều năm về sau theo hướng thấp hơn mức đóng hằng tháng hoặc một lần cho những năm còn thiếu theo hướng cao hơn.

- Bổ sung quy định về việc thực hiện đóng bù cho thời gian được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất sau khi hết thời hạn tạm dừng đóng theo quy định.

- Về tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc: Quy định tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được thiết kế theo hướng từ khi luật này có hiệu lực thi hành đến hết năm 2017 tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương và phụ cấp lương ghi trên hợp đồng lao động theo pháp luật lao động. Từ ngày 01/01/2018 trở đi tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật lao động.

- Về chi phí quản lý: Sửa đổi theo hướng: Nguồn kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ quy định, hằng năm được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ; mức cụ thể do Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định 3 năm một lần.

Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016. Một điểm đáng chú ý là Điều 60 của Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) quy định không cho người tham gia BHXH được hưởng BHXH một lần như Luật hiện hành nhằm bảo đảm quyền thụ hưởng lâu dài của người lao động, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, khi Luật chưa có hiệu lực, một bộ phận người lao động, chủ yếu ở các tỉnh, thành phố phía Nam có kiến nghị được lựa chọn hưởng BHXH 1 lần, hoặc bảo lưu thời gian đóng BHXH như quy định tại Luật BHXH năm 2006. Trước kiến nghị này, Chính phủ nhất trí trình Quốc hội sửa đổi Điều 60 theo hướng nếu người lao động không đủ thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu thì được hưởng BHXH một lần. Chính phủ yêu cầu các cơ quan chức năng tăng cường tuyên truyền, giải thích để người lao động hiểu rõ lợi ích của việc bảo lưu thời gian đóng BHXH, bảo đảm cuộc sống khi về già để hạn chế việc hưởng BHXH 1 lần.

III. TIN THẾ GIỚI

1. Quan hệ Việt Nam với các nước

- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tham dự Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại tại Liên bang Nga từ ngày 07 đến 10/5/2015. Trong khuôn khổ dự Lễ kỷ niệm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã hội đàm với Tổng thống Nga V. Pu-tin. Tại Hội đàm, Chủ tịch nước khẳng định, Chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại là sự kiện lịch sử mang tính thời đại, góp phần đem lại hòa bình cho toàn thế giới, cổ vũ và là tiền đề quan trọng cho cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc trên các châu lục Á - Phi - Mỹ Latinh, trong đó có nhân dân Việt Nam. Trước đó, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gặp Chủ tịch Đảng Cộng sản Liên bang Nga Du-ga-nốp. Ông Du-ga-nốp cho biết, Đảng Cộng sản Liên bang Nga mới kết nạp 25.000 đảng viên. Đảng Cộng sản Liên bang Nga luôn ủng hộ chủ trương của Tổng thống và Chính phủ Nga trong việc tăng cường quan hệ hợp tác với Việt Nam. Chủ tịch nước nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ, trân trọng và biết ơn những tình cảm, sự giúp đỡ quý báu của những người cộng sản và nhân dân Nga đã dành cho nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; hoan nghênh và nhất trí các chương trình tăng cường hợp tác, phối hợp hoạt động được Đảng Cộng sản Liên bang Nga đề xuất nhằm tăng cường hợp tác song phương. 

- Quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc: Ngày 05/5/2015, Việt Nam và Hàn Quốc chính thức ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA). Nội dung VKFTA gồm: Thương mại hàng hóa; Thương mại Dịch vụ; Ðầu tư; Sở hữu trí tuệ; Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật; Quy tắc xuất xứ; Thuận lợi hóa hải quan; Phòng vệ thương mại; Hàng rào kỹ thuật trong thương mại; Thương mại Ðiện tử; Cạnh tranh; Hợp tác kinh tế; Thể chế và Pháp lý. Phía Hàn Quốc cam kết hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực xây dựng, thực thi chính sách, nâng cao sức cạnh tranh các lĩnh vực Hàn Quốc có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu hợp tác để cạnh tranh xuất khẩu bền vững như nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp; công nghiệp điện tử, lọc hóa dầu, công nghiệp hỗ trợ... Dự báo, VKFTA được ký kết sẽ tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Việt Nam, nâng cao thu nhập, đặc biệt của nhóm lao động phổ thông, lao động không có tay nghề cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn.

2. Một số tình hình thế giới đáng chú ý thời gian gần đây

- Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 26 tổ chức tại Ma-lay-xi-a ngày 26 và 27/4/2015. Lãnh đạo 10 nước ASEAN tập trung bàn phương hướng và biện pháp tiếp tục thúc đẩy liên kết ASEAN, cải tiến bộ máy và lề lối làm việc, vai trò khu vực của ASEAN và quan hệ đối ngoại của ASEAN. Hội nghị thông qua 3 Tuyên bố: Về ASEAN lấy người dân làm trung tâm; Về Phong trào Ôn hoà toàn cầu; Về thể chế hoá khả năng tự cường của ASEAN, các cộng đồng và người dân đối với thảm hoạ và biến đổi khí hậu. Tuyên bố Chủ tịch của Hội nghị nêu rõ sự quan ngại sâu sắc chung của các nhà Lãnh đạo ASEAN về các hoạt động bồi đắp, tôn tạo và xây dựng trên quy mô lớn ở Biển Đông, gây ảnh hưởng tới lòng tin, sự tin cậy của các quốc gia và có thể đe dọa hòa bình và ổn định. Tuyên bố khẳng định, các nhà lãnh đạo đã trao đổi và các nước đã phát biểu ở các cấp khác nhau trong thời gian qua là mong muốn, đề nghị các bên thực hiện đầy đủ những điều khoản của Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm tiến tới Bộ Quy tắc về ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC), đề cập vấn đề giải quyết hòa bình các tranh chấp, cần kiềm chế, đối thoại để giải quyết những vấn đề này.

- Bầu cử Quốc hội tại Anh: Ngày 07/5/2015, các cử tri Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len đã đi bỏ phiếu bầu Quốc hội mới. Kết quả: Đảng Bảo thủ của Thủ tướng Anh Ca-mê-rôn giành được 331 ghế trong tổng số 650 ghế của Quốc hội (chiếm 50,92%); Công đảng giành được 232 ghế (chiếm 49,08%). Với kết quả trên, đảng Bảo thủ đã giành chiến thắng và có thể tự thành lập chính phủ, không cần liên minh với bất kỳ đảng nào khác như ở kỳ bầu cử năm 2010. Phát biểu sau khi kết quả bầu cử được công bố chính thức, Thủ tướng Anh Ca-mê-rôn khẳng định sẽ thúc đẩy kế hoạch tổ chức trưng cầu ý dân về tư cách thành viên Liên minh châu Âu (EU) của Anh, đồng thời cam kết cắt giảm chi tiêu ngân sách, tăng hỗ trợ y tế cho trẻ em, giảm thuế, xây dựng thêm nhà ở và tạo thêm hàng triệu việc làm cho người lao động, cũng như trao thêm quyền lực cho Xcốt-len.

3.  Một số tình hình quan hệ Việt Nam – Mỹ

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (12/07/1995) đến nay, quan hệ Việt Nam - Mỹ đã phát triển trên nhiều lĩnh vực, cả về chiều rộng và chiều sâu.

- Về chính trị - ngoại giao: Thời gian qua, quan hệ Việt Nam - Mỹ tiếp tục có những tiến triển thực chất, hiệu quả với dấu mốc quan trọng nhất là việc hai nước xác lập khuôn khổ quan hệ Đối tác Toàn diện (tháng 07/2013). Theo đó, lần đầu tiên, Mỹ cam kết “tôn trọng thể chế chính trị” của Việt Nam. Hai bên tăng cường trao đổi đoàn các cấp nhằm tăng cường hiểu biết, thúc đẩy quan hệ song phương và khai thác các tiềm năng hợp tác, nhất là về kinh tế, thương mại - đầu tư, an ninh, quốc phòng, bao gồm hợp tác cảnh sát biển, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Hai bên từng bước đẩy mạnh các cuộc trao đổi, tiếp xúc, đối thoại giữa các cơ quan Đảng và Quốc hội; duy trì các cơ chế đối thoại hiện có như Đối thoại chính sách quốc phòng, Đối thoại về châu Á - Thái Bình Dương, Đối thoại nhân quyền.

Bên cạnh hợp tác song phương, hai bên tăng cường tiếp xúc cấp cao tại các diễn đàn đa phương, hợp tác trên các diễn đàn khu vực và quốc tế về các vấn đề hai bên cùng quan tâm.

- Về kinh tế - thương mại - đầu tư: Từ năm 2005 đến nay, Mỹ luôn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều liên tục tăng trung bình 20%/năm trong những năm gần đây; năm 2013 đạt gần 30 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất siêu xấp xỉ 20 tỷ USD. Tính đến tháng 10/2014, Việt Nam đã xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Hoa Kỳ đạt 23,5 tỷ USD, tăng 4 tỷ USD và nhập khẩu 5,2 tỷ USD. Tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Mỹ vào Việt Nam tính đến tháng 07/2014 đạt gần 11 tỷ USD với 699 dự án, đứng thứ 7 trong số các nước có FDI vào Việt Nam. Mỹ luôn giữ viện trợ phát triển dành cho Việt Nam ở mức ổn định trên 100 triệu USD/năm. Hai bên đang tích cực cùng với các nước thành viên thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và đã đạt nhiều tiến triển trong đàm phán song phương.

- Về an ninh - quốc phòng: Hai bên tiến hành trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao, xây dựng và duy trì một số cơ chế đối thoại, tham vấn quốc phòng thường niên. Năm 2011, hai bên ký Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương. Từ năm 2003, hàng năm, tàu chiến Mỹ thăm cảng Việt Nam; Việt Nam cho phép Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ thực hiện một số chương trình nhân đạo tại một số địa phương (từ năm 2007). Hai bên tiếp tục hợp tác trong một số lĩnh vực khác như tìm kiếm cứu nạn, nghiên cứu quốc phòng - an ninh, rà phá bom mìn, tẩy độc... Phía Mỹ dỡ bỏ một phần lệnh cấm vũ khí sát thương cho Việt Nam. Mỹ cũng là một trong những nước tích cực hỗ trợ Việt Nam trong công tác tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc.      

Bộ Công an Việt Nam đã ký Bản ghi nhớ hợp tác phòng, chống ma túy với Cơ quan phòng chống ma túy Mỹ (năm 2006); Bản ghi nhớ hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia với Cơ quan điều tra Liên bang Mỹ (2013).

- Về giáo dục - đào tạo: Mỹ tiếp tục là sự lựa chọn hàng đầu của sinh viên Việt Nam với hơn 16.000 sinh viên, thực tập sinh Việt Nam đang theo học tại đây.

- Về y tế - nhân đạo, giải quyết hậu quả chiến tranh có những bước chuyển thực chất. Trong Tuyên bố chung Cấp cao tháng 07/2013, lần đầu tiên Mỹ cam kết hỗ trợ cho người tàn tật Việt Nam bất kể nguyên nhân gì. Mỹ tiếp tục duy trì và cam kết viện trợ cho các chương trình phòng, chống HIV/AIDS, giải quyết hậu quả chất da cam; rà phá, khắc phục hậu quả bom mìn.

- Về cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ: Hiện có khoảng 2 triệu người Việt Nam ở Mỹ, chiếm gần một nửa trong tổng số hơn 4 triệu người Việt Nam ở nước ngoài và là cộng đồng người Việt lớn nhất bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đại bộ phận cộng đồng ngưởi Việt tại Mỹ luôn gắn bó, hướng về quê hương, đất nước và đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của đất nước, quan hệ giữa nhân dân Việt Nam - Mỹ.

Bên cạnh những bước phát triển đáng ghi nhận, giữa hai nước vẫn còn tồn tại một số điểm bất đồng như vấn đề bảo hộ thương mại (hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ thường bị các công ty Mỹ cáo buộc bán phá giá hoặc được Chính phủ trợ cấp); vấn đề bảo vệ quyền con người. Hai bên chủ trương tiếp tục thông qua đối thoại để tăng cường hiểu biết và thu hẹp bất đồng, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của quan hệ hai nước.

4. Tăng cường kết nối châu Á – châu Phi

Hội nghị cấp cao Á - Phi kỷ niệm 60 năm Hội nghị Băng-đung, 10 năm Quan hệ Đối tác chiến lược mới Á - Phi với chủ đề “Tăng cường hợp tác Nam - Nam nhằm thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng thế giới” diễn ra cuối tháng 4/2015 tại thủ đô Gia-các-ta (In-đô-nê-xi-a) với mục đích thúc đẩy sự phát triển của hai châu lục.

Kể từ hội nghị cấp cao Á - Phi lần đầu tiên (1955), nhiều thách thức mà các quốc gia châu Á và châu Phi gặp phải vẫn chưa được giải quyết. Tại Hội nghị lần này, Tổng thống nước chủ nhà In-đô-nê-xi-a kêu gọi tăng cường hợp tác Á - Phi trong bối cảnh mới để mang lại hòa bình, ổn định cho cả hai châu lục. Hội nghị đã thảo luận nhiều vấn đề quan trọng như: Độc lập cho Pa-le-xtin; sự cần thiết của việc ra đời một mô hình hợp tác kinh tế mới nhằm bảo đảm tăng trưởng ổn định và bền vững giữa hai châu lục; việc đảm bảo nguồn lực tài chính cho phát triển cơ sở hạ tầng khu vực Á – Phi...

Hội nghị cho rằng, hợp tác hàng hải tiếp tục là một trong những trụ cột của quan hệ hợp tác chiến lược Á - Phi mới; nhất trí lấy ngày 24/4 hàng năm là Ngày Á - Phi và Băng-đung (In-đô-nê-xi-a) là thủ đô của tình đoàn kết Á - Phi, thúc đẩy giao lưu nhân dân. Hội nghị thông qua ba văn kiện quan trọng, gồm: Thông điệp Băng-đung, Tuyên bố về củng cố Quan hệ hợp tác chiến lược Á - Phi mới (NAASP) và Tuyên bố về Pa-le-xtin; nhất trí tổ chức các cuộc tham vấn cấp bộ trưởng hai năm/lần nhằm cung cấp định hướng cho chiến lược phát triển hợp tác Á - Phi, thống nhất củng cố bộ máy hoạt động của NAASP bằng việc áp dụng cơ chế chủ tịch luân phiên NAASP 4 năm/lần dựa trên Tuyên bố NAASP năm 2005. Hội nghị kêu gọi tiếp tục nỗ lực cải cách Liên Hợp quốc, trong đó có tái cơ cấu Đại hội đồng Liên Hợp quốc và cải cách toàn diện Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc.

Tại Hội nghị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang khẳng định, Hội nghị Băng-đung năm 1955 đã tạo nguồn cảm hứng để nhân dân các nước Á - Phi giành độc lập dân tộc và phát triển. Vị trí, vai trò của hai châu lục Á - Phi ngày càng tăng trên trường quốc tế. Chủ tịch nước chia sẻ những khó khăn, thách thức mà nhiều nước Á - Phi đang phải đối mặt, đặc biệt là nạn khủng bố, xung đột vũ trang, bất ổn, tranh chấp chủ quyền, đe dọa sử dụng vũ lực, nghèo đói, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, lương thực và nguồn nước, sự bất bình đẳng của hệ thống kinh tế, tài chính, thương mại toàn cầu... Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ chủ đề của Hội nghị cấp cao lần này; kêu gọi hai châu lục tăng cường hợp tác bảo đảm môi trường hòa bình, an ninh - điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững. Các nước cần tuân thủ 10 nguyên tắc Băng-đung, đặc biệt là “tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”, “không xâm lược, đe doạ xâm lược và sử dụng vũ lực”, “giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình phù hợp với Hiến chương Liên Hợp quốc”. Chủ tịch nước nêu thông điệp của Việt Nam là “Tăng cường kết nối Á - Phi vì hòa bình, thịnh vượng thế giới trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”; khẳng định Việt Nam luôn ưu tiên thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết và hợp tác với các nước Á - Phi; cảm ơn các nước Á - Phi ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và công cuộc Đổi mới, xây dựng, bảo vệ đất nước ngày nay. Ở cấp độ toàn cầu, Việt Nam chủ trương tăng cường tham gia chủ động, tích cực, có trách nhiệm vào các cơ chế hoạch định chính sách, góp phần phát huy tiếng nói chung của các nước đang phát triển; thông báo Việt Nam đã tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình Liên Hợp quốc ở Nam Xu-đăng, Cộng hoà Trung Phi và sẽ tăng cường tham gia các hoạt động này, đặc biệt tại châu Phi trong thời gian tới.

 

                                                      ___________

 

 

 

 

 

Số lượt xem:3509
Bài viết trước:
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 05-2015 (bổ sung Kết luận 1663 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy)
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 04-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 03-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 02-2015
Icon  Tài liệu tuyên truyền trong nội bộ và định hướng đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch trên In-tơ-nét
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 01-2015
Icon  Chuyên đề năm 2015 học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (ngày 18-12-2014)
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 12-2014
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 11-2014
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2014
    LIÊN KẾT
Trang chủ   |   Liên hệ   
Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum; Điện thoại: 060.3862301; Email: thongtintuyengiaokontum@gmail.com hoặc phiemkt@gmail.com.
Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này