Thứ 5, ngày 29 tháng 6 năm 2017  TimKiem
  TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI BỘ
Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 05-2015 (bổ sung Kết luận 1663 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy)
5/4/2015 9:57:25 AM

A. VĂN BẢN MỚI

I. VĂN BẢN CỦA TỈNH

1. Ngày 24-4-2015, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 1663-KL/TU “về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh”. Nội dung cụ thể sau:

Trong thời gian qua, việc chấp hành nội quy, quy chế, thực hiện kỷ cương, kỷ luật hành chính tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã từng bước đi vào nền nếp, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa chấp hành nghiêm các quy định, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị; lạm dụng việc uống rượu, bia và các đồ uống có cồn khác đã ảnh hưởng đến hiệu quả công tác và tác phong, uy tín của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các cơ quan, đơn vị.

Để kịp thời chấn chỉnh và khắc phục những hạn chế, khuyết điểm nêu trên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu:

1. Các ban, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; các huyện ủy, thành ủy; các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31-01-2008 của Thủ tướng Chính phủ “về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước”; Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá; Quyết định 244/QĐ-TTg, ngày 12-02-2014 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020.

Thực hiện nghiêm quy định cấm hút thuốc lá nơi làm việc, nơi công cộng; không uống rượu, bia và các đồ uống có cồn khác trước, trong giờ hành chính và giờ nghỉ trưa của ngày làm việc.

2. Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể và hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện.

3. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung Kết luận này.

4. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện Kết luận, xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với các trường hợp vi phạm, định kỳ hằng quý báo cáo kết quả với Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Kết luận này được phổ biến đến chi bộ.

2. Ngày 24-4-2015 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 85-HD/BTGTU về hướng dẫn quy trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương. Nội dung cụ thể sau:

A. Mục đích, yêu cầu: (1) Giúp các địa phương thấy rõ tầm quan trọng của việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương trong việc tuyên truyền, phát huy, giáo dục truyền thống lịch sử. (2) Các địa phương nghiên cứu, nắm kỹ quy trình để tổ chức nghiên cứu, biên soạn các công trình lịch sử địa phương đảm bảo nội dung, chất lượng và tiến độ theo chỉ đạo của Tỉnh ủy tại các văn bản nêu trên.

B. Nội dung:

I. Lịch sử địa phương:

1. Khái niệm lịch sử địa phương:

Lịch sử địa phương: Là lịch sử của các địa phương, bao gồm lịch sử của làng, xã, huyện tỉnh, vùng, miền. Ngoài ra, lịch sử địa phương còn đề cập đến các đơn vị sản xuất, đơn vị chiến đấu, các trường học, cơ quan, xí nghiệp (doanh nghiệp). Do vậy, khái niệm “lịch sử địa phương” rất đa dạng về nội dung và thể loại.

2. Đối tượng nghiên cứu của lịch sử địa phương:

Lịch sử địa phương là một bộ phận của lịch sử dân tộc. Do đó, đối tượng nghiên cứu của nó bao gồm các vấn đề sau: (1) Lịch sử địa phương nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử các đơn vị hành chính của một quốc gia như thôn, xã, huyện, tỉnh, thành phố,…trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh-quốc phòng (quân sự),…một cách toàn diện ở một địa phương cụ thể. Nó có thể nghiên cứu toàn bộ lịch sử quá trình hình thành và phát triển của địa phương, cũng như trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Nghiên cứu về đối tượng này có nhiều thể loại phong phú (như: lịch sử đảng bộ, các đoàn thể cách mạng địa phương; lịch sử các phong trào cách mạng địa phương; lịch sử phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục,…của địa phương; những đóng góp và truyền thống trong lịch sử của địa phương; lịch sử hình thành và phát triển của làng, xã, thành phố, chợ, chùa, nhà thờ,…; lịch sử địa phương nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng lịch sử ở một địa phương có liên quan tới những sự kiện, hiện tượng lịch sử dân tộc. (2) Lịch sử địa phương nghiên cứu các cơ quan, ban, ngành, trường học, các tổ chức quần chúng.

Vấn đề quan trọng là khi tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử địa phương phải đặt nó trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử chung, chỉ ra được sự tác động, ảnh hưởng của hoàn cảnh chung, từ đó rút ra những đặc điểm của địa phương.

3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương: (1) Lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc, là một bộ phận của lịch sử dân tộc. (2) Lịch sử địa phương góp phần làm sáng tỏ, phong phú thêm lịch sử dân tộc. Thông qua đó, giúp người đọc không những tìm hiểu rộng hơn, sâu hơn lịch sử dân tộc mà còn nhận thức sâu sắc hơn về lịch sử của địa phương mình. (3) Việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương là một tài liệu quan trọng, bổ ích trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng tình yêu quê hương, lòng tự hào về truyền thống địa phương; từ đó nâng cao nhận thức cho mỗi người trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy truyền thống quê hương trong hiện tại.

II. Quy trình tổ chức nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương.

1. Xin chủ trương.

Để tiến hành nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương, trước hết phải có chủ trương của cấp ủy. Chủ trương này được bàn bạc, thống nhất trong cấp ủy và được thể hiện bằng các văn bản chỉ đạo: nghị quyết, chỉ thị, thông tri,…. Nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy được gửi lên cấp trên và gửi cho các ban, ngành (tỉnh, huyện) để thực hiện hoặc tạo điều kiện giúp đỡ, phối hợp.

2. Các bước nghiên cứu, biên soạn. Gồm: (1) Xây dựng kế hoạch nghiên cứu, biên soạn. (2) Thành lập Ban chỉ đạo: Gồm trưởng ban, phó trưởng ban và các thành viên. Tùy theo mỗi thể loại nghiên cứu, gắn với tình hình triển khai thực hiện ở mỗi địa phương, ban ngành, đơn vị,….để quyết định thành lập Ban chỉ đạo phù hợp (thường từ 3-7 người). Ban chỉ đạo chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức thực hiện quá trình nghiên cứu, biên soạn. (3) Thành lập Ban biên tập, biên soạn: số lượng thành viên (tỉnh: 4-5 người; huyện, xã: 2-3 người).

Ban biên tập, biên soạn chịu trách nhiệm trước Ban chỉ đạo về tổ chức nghiên cứu, biên soạn, bao gồm: sưu tầm và hệ thống tư liệu, xây dựng đề cương, viết bản thảo, tham mưu tổ chức các cuộc họp, hội thảo (tư liệu, bản thảo).

3. Các bước tiến hành cụ thể.

3.1. Lập kế hoạch nghiên cứu, biên soạn:

Trong kế hoạch nêu rõ:

- Mục đích, yêu cầu

- Xác định tư tưởng, công tác chỉ đạo nghiên cứu, biên soạn

- Xác định nội dung công việc, tiến độ thực hiện, lực lượng tham gia.

- Tổ chức thực hiện

* Lưu ý: định lượng thời gian  và nhiệm vụ cụ thể của từng công việc:

+ Sưu tầm, xác minh, hệ thống hóa tư liệu.

+ Xây dựng đề cương biên soạn.

+ Các cuộc tọa đàm, hội thảo (tư liệu, bản thảo)

3.2. Dự trù kinh phí (căn cứ kế hoạch): Nên dự trù kinh phí cho từng loại công việc; càng chi tiết càng tốt; tách kinh phí biên soạn, biên tập và kinh phí xuất bản.

3.3. Sưu tầm tư liệu:

Yêu cầu của công tác sưu tầm tư liệu là có đủ tư liệu cần thiết và chính xác. Những tư liệu cần thiết bao gồm:

- Một tác phẩm lịch sử đánh giá thành công hay không là ở chỗ nó phản ánh lịch sử chân thực đến mức nào, tổng kết được kinh nghiệm lịch sử gì. Nói cách khác, tác phẩm lịch sử thành công ở mức độ nào, điều đo phụ thuộc vào sự thể hiện tính Đảng và tính khoa học của nó.

- Muốn có được tác phẩm lịch sử, trước hết phải có đầy đủ tư liệu lịch sử có giá trị cao.

Nghị quyết Bộ Chính trị năm 1962 về việc thành lập Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương đã xác định rõ hai nhiệm vụ cơ bản cho Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng trung ương và toàn ngành lịch sử:

+ Tổ chức sưu tầm, xác minh tư liệu và bảo quản tư liệu lịch sử nói chung và lịch sử đảng nói riêng.

+ Tổ chức biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Do vậy nhiệm vụ hàng đầu trong công tác giáo dục tư tưởng nhận thức của cán bộ nghiên cứu lịch sử Đảng là nắm chắc đối tượng, chức năng của công tác sưu tầm, xác minh tư liệu lịch sử Đảng.

* Các loại tư liệu:

a. Tư liệu thành văn:

- Gồm các nghị quyết, báo cáo, chỉ thị, thông trị, công văn, mật điện,…của các cấp ủy đảng và chính quyền, các sở, ban ngành, đơn vị; thư của các đồng chí lãnh đạo,..Đây là nguồn tài liệu chính phục vụ cho công tác nghiên cứu, biên soạn.

- Trong điều kiện Đảng hoạt động bí mật, chiến tranh ác liệt, nhiều tài liệu thanh văn bị thiêu hủy hay thất lạc. Việc tìm lại những tài liệu này gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù vậy chúng ta vẫn tiến hành sưu tầm, xác minh lại những tài liệu thành văn quý giá này, đó là những tài liệu cần thiết, thậm chí phải phục chế lại.. Nếu thiếu những tài liệu thành văn thì không thể khôi phục được quá trình chân thật của lịch sử.

b. Tài liệu sống:

- Hồi ký, sổ tay ghi chép của các đồng chí lãnh đạo, những tác phẩm tự thuật của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, các đồng chí tham gia trong những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến lĩnh vực cần nghiên cứu, biên soạn,..sở dĩ đặt vấn đề quan trọng như vậy là vì tài liệu sống bổ sung, làm phong phú cho tư liệu thanh văn những chi tiết lịch sử, những nhận định cụ thể thường không có trong văn kiện, nghị quyết, báo cáo…hoặc những ý kiến khác nhau trong việc nhận định tình hình cách mạng lúc đó của Trung ương, của địa phương,...Những nguồn tư liệu hồi ký làm cơ sở giúp cho các tác phẩm lịch sử có được bối cảnh lịch sử phong phú, sinh động, giúp người độc có cảm hứng lịch sử, dễ hiểu, tác dụng tuyên truyền rất lớn.

Tài liệu sống bao gồm hồi ký, tác phẩm tự thuật, giúp cho cán bộ sưu tầm, nghiên sứu thấy được thực tiễn cách mạng sinh động, tạo nguồn cảm hứng công tác.

Hồi ký góp phần xác minh tư liệu lịch sử, thời điểm lịch sử: bao gồm những ai,xảy ra trong điều kiện lịch sử như thế nào. Hồi ký lịch sử không chỉ bao gồm những đồng chí htam gia trực tiếp vào sự kiện cụ thể như hội nghị Trung ương, hội nghị Tỉnh ủy…mà cả những đồng chí htam gia phục vụ hội nghị, phục vụ mít tinh, tham gia các phong trào đấu tranh cách mạng,…những người tưởng chừng như đứng ngoài sự kiện, nhưng thực sự lại biết khá nhiều về những diễn biến lịch sử cụ thể.

- Các loại tài liệu khác như bản đồ, sơ đồ, địa bạ, hình ảnh,….

* Lưu ý: trước khi đi sưu tầm tư liệu người có nhiệm vụ đi sưu tầm phải hình dung được tư liệu cần cho nội dung cuốn sách mình nghiên cứu gồm những kênh nào? ở đâu? Cơ quan nào, ai có khả năng nắm được nguồn tư liệu mình cần tìm để phục vụ tốt cho công trình,…..

3.4. Tiến hành nghiên cứu, biên soạn

3.4.1. Xây dựng đề cương sơ lược và đề cương chi tiết.

Đề cương chi tiết thể hiện tương đối cụ thể những nội dung của cuốn lịch sử, bao gồm: Phần mở đầu (nếu là tập I), các chương và các mục, tiết trong mỗi chương (tên, nội dung chính của chương, mục, tiết), những nhận xét, đánh giá của từng chương (tiểu kết) và nội dung của kết luận, bài học.

Đề cương chi tiết cần phân bổ số trang cho mỗi chương.

Tổ chức lấy ý kiến bản đề cương chi tiết (phân kỳ lịch sử, nội dung chủ yếu của các chương, mục, tiết…)

3.4.2. Viết bản thảo:

Căn cứ vào đề cương chi tiết đã được cấp ủy thông qua, tiến hành tổ chức biên soạn sơ thảo.

* Một số điểm chú ý trong khi biên soạn.

- Phần mở đầu nhằm giới thiệu những nét cơ bản của địa phương, không nên quá chi tiết sẽ trùng lặp với địa chí.

- Làm rõ bối cảnh lịch sử (từng thời kỳ và sự kiện tiêu biểu)

- Luôn nắm vững đối tượng của lịch sử địa phương.

* Lưu ý về chủ thể nghiên cứu: Viết về vấn đề gì? Viết như thế nào tránh nhầm lẫn về chủ thể - Đây là vấn đề rất quan trọng khi nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương.

- Xử lý các trường hợp hợp nhất, chia tách.

- Việc nêu tên các nhân vật và địa phương tiêu biểu.

- Xử lý những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

- Xử lý những vấn đề có liên quan đến sự chỉ đạo của Trung ương diễn ra tại địa phương.

4. Tổ chức lấy ý kiến góp ý cho bản thảo.

- Sau khi đã hoàn thành việc biên soạn (lần thứ nhất), cần có kế hoạch lấy ý kiến để bổ sung nhằm nâng cao chất lượng của bản thảo.

- Bản thảo cần gửi trước 15-20 ngày cho các đồng chí sẽ xin ý kiến.

- Hình thức tổ chức lấy ý kiến: tùy theo từng đối tượng mà lấy ý kiến toàn bộ hoặc theo thời kỳ.

- Vai trò của người chủ trì hội thảo, tọa đàm.

- Tổng hợp các ý kiến, tiến hành bổ sung.

Tùy theo chất lượng của lần biên soạn bản thảo lần thứ nhất và ý kiến bổ sung, góp ý mà bản thảo được tiếp tục nâng cao.

- Sau khi hoàn thành việc bổ sung, nâng cao, bộ phận biên tập hoặc thư ký) lọc các vấn đề đã xử lý để báo cáo cho Ban chỉ đạo.

- Ban chỉ đạo cho ý kiến rồi có kế hoạch báo cáo cho Ban Thường vụ để thông qua. Lần làm việc cuối cùng của Ban Thường vụ, Ban biên tập trình Thường vụ thông qua: bản thảo, ảnh, sơ đồ, phụ lục (nếu có) và nêu yêu cầu về bìa, khuôn khổ, hình thức cuốn sách…

5. Xin ý kiến thẩm định cơ quan chuyên môn theo quy định.

6. Tổ chức việc in ấn: chú ý đọc và chữa bản in để tránh sai sót.

7. Rút kinh nghiệm việc thực hiện nhiệm vụ.

8. Phát huy tác dụng cuốn sách Lịch sử

- Chỉ đạo của cấp ủy

- Các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức các hình thức tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử địa phương.

3. Ngày 07/4/2015, UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sa Thầy để thành lập huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum. 

UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nội vụ hướng dẫn UBND huyện Sa Thầy, huyện Ia H’Drai xây dựng phương án số lượng, cơ cấu tổ chức, biên chế các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện mới trình cấp có thẩm quyền quyết định; Điều động công chức về công tác tại huyện mới theo phân cấp quản lý cán bộ, công chức hiện hành và phương án được cấp có thẩm quyền thống nhất; Phối hợp với UBND các huyện Sa Thầy và Ia H’Drai bàn giao địa giới hành chính theo Nghị quyết số 890/NQ-UBTVQH13 ngày 11 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Tham mưu UBND tỉnh triển khai lập mới bộ hồ sơ, bản đồ, cắm mốc địa giới hành chính các huyện, xã có liên quan theo Quyết định số 513/QĐ-TTg ngày 02/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

* Nghị quyết số 890/NQ-UBTVQH13 ngày 11-3-2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sa Thầy để thành lập mới huyện Ia H’Drai thuộc tỉnh Kon Tum bao gồm nội dung:  (1) Điều chỉnh 98.013,22 ha diện tích tự nhiên với 11.644 nhân khẩu của huyện Sa Thầy (gồm toàn bộ 32.254,7 ha diện tích tự nhiên với 3.564 nhân khẩu của  xã Ia Dom; 21.794,69 ha diện tích tự nhiên với 3.341 nhân khẩu của xã Ia Đal; 43.963,83 ha diện tích tự nhiên với 4.739 nhân khẩu của xã Ia Tơi) để thành lập mới huyện Ia H’Drai thuộc tỉnh Kon Tum. (2) Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính: (a) Huyện Ia H’Drai có 98.013,22 ha diện tích tự nhiên với 11.644 nhân khẩu (hay 6,567 nhân khẩu?) gồm 3 xã: Ia Dom, Ia Đal và  Ia Tơi. Địa giới hành chính huyện Ia H’Drai: Đông giáp tỉnh Gia Lai; Tây giáp tỉnh Ratanakiri (Vương quốc Campuchia); Nam giáp tỉnh Gia Lai và tỉnh Ratanakiri (Vương quốc Campuchia); Bắc giáp huyện Sa Thầy. (b) Huyện Sa Thầy có 143.522,3 ha diện tích tự nhiên với 42.703 nhân khẩu gồm thị trấn Sa Thầy và 10 xã: Sa Sơn, Sa Nhơn, Sa Bình, Ya Tăng, Ya Ly, Ya Xiêr, Sa Nghĩa, Hơ Moong, Rờ Kơi và Mô Rai.

Địa giới hành chính huyện Sa Thầy: Bắc giáp huyện Ngọc Hồi; Nam giáp tỉnh Gia Lai và huyện Ia H’Drai; Tây giáp tỉnh Ratanakiri (Vương quốc Campuchia); Đông giáp các huyện Đắk Tô, Đắk Hà và thành phố Kon Tum. (c) Tỉnh Kon Tum gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện (09 huyện và 01 thành phố) và 102 đơn vị hành chính cấp xã (86 xã, 10 phường và 6 thị trấn).

4. Ngày 06/4/2015, Ban Chỉ đạo Đề án 343 của tỉnh ban hành Kế hoạch số 50/KH-BCĐ về việc triển khai thực hiện Đề án “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước năm 2015” và tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Đề án giai đoạn 2012-2015 trên địa bàn tỉnh Kon Tum. 

Kế hoạch bao gồm các nội dung sau: (1) Nâng cao trách nhiệm, phát huy hiệu quả và tăng cường kết nối hoạt động của Ban chỉ đạo: Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án năm 2015; Tổ chức họp Ban Chỉ đạo định kỳ hoặc đột xuất theo Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo; Tổ chuyên viên giúp việc tham mưu Ban chi đạo rà soát, đánh giá tiến độ hoạt động triển khai của các Tiểu Đề án theo kế hoạch đề ra và chuẩn bị Hội nghị tổ chức, Hộị nghị tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Đề án gắn với biểu dương phụ nữ tiêu biểu rèn luyện 4 phẩm chất đạo đức Phụ nữ Việt Nam“Tự tin - tự trọng - trung hậu - đảm đang" . (2) Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các Tiểu Đề án: Hội LHPN tỉnh; Liên đoàn Lao động tỉnh; Tỉnh đoàn; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Thông tin và Truyền thông; Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ triển khai thực hiện các Tiểu Đề án (Tiểu Đề án 1; Tiểu Đề án 2; Tiểu Đề án 3; Tiểu Đề án 4). (3) Tổ chức kiểm tra, giám sát thực hiện Đề án tại các huyện, thành phố: Hội LHPN tỉnh - cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo chủ trì phối họp với các sở, ngành chủ trì Tiểu Đề án tham mưu Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện Đề án tại các huyện/thành phố (hoàn thành trong quý III/2015); Các sở, ngành chủ trì Tiểu Đề án tổ chức các hoạt động kiểm tra giám sát việc triển khai Tiểu Đề án trong hệ thống tổ chức của mình.

II. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG

Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-TTCP-BNV ngày 16/3/2015 của Thanh tra Chính phủ và Bộ Nội vụ quy định khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tố cáo hành vi tham nhũng, gồm 8 điều, có hiệu lực kể từ ngày 01/5/2015. Thông tư quy định mức thưởng đối với cá nhân và cơ quan, tổ chức có thành tích xuất sắc trong việc tố cáo hành vi tham nhũng như sau.

- Huân chương các loại: (1) Cá nhân được tặng hoặc truy tặng huân chương các loại, được tặng thưởng Bằng, Huân chương kèm theo mức tiền thưởng như sau: “Huân chương Sao vàng”: 46,0 lần mức lương tối thiểu chung; “Huân chương Hồ Chí Minh”: 30,5 lần mức lương tối thiểu chung; “Huân chương Độc lập” hạng nhất, “Huân chương Quân công” hạng nhất: 15,0 lần mức lương tối thiểu chung; “Huân chương Độc lập” hạng nhì, “Huân chương Quân công” hạng nhì: 12,5 lần mức lương tối thiểu chung; “Huân chương Độc lập” hạng ba, “Huân chương Quân công” hạng ba: 10,5 lần mức lương tối thiểu chung; “Huân chương Lao động” hạng nhất, “Huân chương Chiến công hạng nhất”, “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” hạng nhất: 9,0 lần mức lương tối thiểu chung; “Huân chương Lao động” hạng nhì, “Huân chương Chiến công hạng nhì”, “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” hạng nhì, “Huân chương Đại đoàn kết dân tộc”: 7,5 lần mức lương tối thiểu chung; “Huân chương Lao động” hạng ba, “Huân chương Chiến công hạng ba”, “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” hạng ba và “Huân chương Dũng cảm”: 4,5 lần mức lương tối thiểu chung. (2) Tập thể được tặng thưởng Huân chương các loại, được tặng thưởng Bằng, Huân chương kèm theo mức tiền thưởng gấp 2 lần mức tiền thưởng đối với cá nhân.

- Bằng khen, Giấy khen: (1) Đối với cá nhân: “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ” được tặng Bằng và được thưởng 1,5 lần mức lương tối thiểu chung; “Bằng khen cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương” được tặng Bằng và được thưởng 1,0 lần mức lương tối thiểu chung; Cá nhân được tặng giấy khen của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc bộ, ngành, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Giấy khen của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc các doanh nghiệp nhà nước, Giấy khen của Thủ trưởng cơ quan chuyên môn và tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Giấy khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Giấy khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã kèm theo mức tiền thưởng 0,3 lần mức lương tối thiểu chung; Cá nhân được tặng Giấy khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được kèm theo mức tiền thưởng 0,15 lần mức lương tối thiểu chung. (2) Đối với tập thể: “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”, “Bằng khen cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương” được tặng Bằng và được thưởng gấp 2 lần mức tiền thưởng đối với cá nhân; Tập thể được tặng giấy khen các cấp được kèm theo tiền thưởng gấp 2 lần tiền thưởng đối với cá nhân.

- Ngoài mức thưởng trên, cá nhân được khen thưởng còn được thưởng từ Quỹ Khen thưởng về phòng, chống tham nhũng do Thanh tra Chính phủ quản lý với mức thưởng sau: Huân chương Dũng cảm: 60 lần mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: 40 lần mức lương cơ sở; Bằng khen của cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương: 20 lần mức lương cơ sở; Trong trường hợp giúp thu hồi được cho Nhà nước số tiền, tài sản có giá trị trên 600 lần mức lương cơ sở thì được xét thưởng vượt mức quy định trên nhưng không vượt quá 10% số tiền, giá trị tài sản đã thu hồi được và không vượt quá 3.000 lần mức lương cơ sở.

B. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG THÁNG 05-2015

Trong tháng 05-2015, công tác tuyên truyền tập trung vào 07 nội dung trọng tâm sau:

1. Tuyên truyền các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng của đất nước, của tỉnh: Tuyên truyền 111 năm Ngày sinh đồng chí Trần Phú, nguyên Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng (1/5/1904-1/5/2015); 129 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886-1/5/2015) và “Tháng công nhân”; 61 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ (7/5/1954- 7/5/2015); Ngày Quốc tế Chữ thập đỏ (8/5); 70 năm Ngày chiến thắng phát xít (9/5/1945-9/5/2015); Ngày khoa học và công nghệ Việt Nam (18/5); 74 năm Ngày Thành lập Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (15/5/1941-15/5/2015); kỷ niệm 125 năm Ngày sinh nhật Bác (19/5/1890-19/5/2015); Ngày thế giới nói không với thuốc lá (31-5)…

2. Tuyên truyền các đơn vị tổ chức đại hội Đảng cấp cơ sở, đại hội điểm cấp huyện; tiếp tục phản ánh công tác chuẩn bị đại hội đảng bộ cấp huyện và tương đương; các hội nghị góp ý văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. 

3. Tiếp tục tuyên truyền việc học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ở các đảng bộ. Tuyên truyền việc triển khai thực hiện Nghị quyết 890/NQ-UBTVQH ngày 11/3/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sa Thầy để thành lập huyện mới Ia H’Drai.

4. Tuyên truyền kết quả kinh tế- xã hội của tỉnh quý I- 2015 và nhiệm vụ năm 2015 theo nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; thông tin tuyên truyền các hoạt động xúc tiến, đầu tư; về phát triển ba vùng kinh tế động lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Tăng cường thông tin đối ngoại, trao đổi thông tin nhằm quảng bá hình ảnh, thế mạnh và tiềm năng của tỉnh thu hút các nhà đầu tư, khách du lịch.

5. Tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước; cổ vũ, nhân rộng các tập thể, gương điển hình tiên tiến trên tất cả các lĩnh vực, nhất là trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

6. Tuyên truyền công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát thị trường; phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại gắn với đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; công tác phòng chống cháy, nổ; phòng chống các dịch bệnh ở người, trên cây trồng và vật nuôi.

7. Đẩy mạnh tuyên truyền công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, khoáng sản, môi trường; về an ninh trật tự, an toàn giao thông; về xây dựng nông thôn mới. Tiếp tục tuyên truyền các văn bản pháp luật mới; về chủ quyền an ninh biên giới, chủ quyền biển, đảo; chủ động đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; kịp thời thông tin phản bác các tin đồn thất thiệt, gây hoang mang dư luận, làm mất an ninh trật tự.

C. TIN TỨC- SỰ KIỆN

I. TIN TRONG TỈNH

1. Ngày 01-4, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị tổng kết rút kinh nghiệm Đại hội điểm cấp cơ sở nhiệm kỳ 2015-2020 của tỉnh. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng - Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị.

Theo báo cáo, từ ngày 7-1 đến 17-3-2015, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chọn 10 đảng bộ, chi bộ cơ sở tổ chức đại hội điểm trước khi triển khai diện rộng và 12 đảng bộ cơ sở thực hiện thí điểm đại hội bầu trực tiếp Ban thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư thuộc 14 đảng bộ các huyện, thành phố, đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy.

Nhìn chung, các tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) được chọn thực hiện đại hội điểm và thí điểm bầu trực tiếp Ban thường vụ, Bí thư, Phó bí thư đã xây dựng báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết của các đảng bộ, chi bộ với nội dung bám sát quy định, đánh giá sát đúng tình hình thực tế địa phương; báo cáo kiểm điểm của cấp ủy đánh giá đúng kết quả lãnh đạo trong nhiệm kỳ; công tác chuẩn bị nhân sự chặt chẽ, đúng quy trình, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cấp ủy đương nhiệm; công tác bầu cử tại đại hội và tại phiên họp lần đầu của cấp ủy khóa mới được thực hiện nghiêm túc, dân chủ, theo đúng trình tự, thủ tục.

Tuy nhiên, báo cáo tổng kết thực hiện nghị quyết của một số cấp ủy vẫn còn dài, nội dung còn dàn trải; chưa thật chú trọng đến việc đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết, các giải pháp chủ yếu; báo cáo kiểm điểm của cấp ủy một số nơi chưa nêu bật được vai trò trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo…

Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được và thẳng thắn chỉ ra hạn chế, tồn tại, nguyên nhân qua việc tổ chức đại hội điểm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã rút ra một số kinh nghiệm để tiếp tục triển khai đại hội TCCSĐ ra diện rộng, trong đó tập trung vào những vấn đề trọng tâm sau:

Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các văn bản liên quan đến đại hội các cấp. Cấp ủy cần tăng cường chỉ đạo thực hiện kế hoạch đại hội các TCCSĐ trực thuộc theo đúng thời gian, tiến độ đề ra; chỉ đạo các cơ quan tham mưu, giúp việc kiểm tra, thẩm định chặt chẽ các nội dung chương trình trước khi tiến hành đại hội.

Việc chuẩn bị báo cáo chính trị và báo cáo kiểm điểm của cấp ủy phải đảm bảo đúng thể thức và nội dung theo yêu cầu của Chỉ thị 36 và hướng dẫn của văn phòng cấp ủy cấp trên, đảm bảo về nội dung và thể thức; tránh sự trùng lặp quá nhiều nội dung của 2 báo cáo này.

Việc chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp ủy phải thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng, quy chế, quy định của Đảng về công tác cán bộ và các văn bản hướng dẫn của cấp trên.

Việc lựa chọn, cơ cấu những đồng chí vào đoàn chủ tịch phải là những đồng chí nắm vững nguyên tắc, có năng lực, kinh nghiệm và linh hoạt, nhanh nhạy trong điều hành. Nội dung, chương trình điều hành đại hội phải được xây dựng cụ thể, chi tiết; từng thành viên đoàn chủ tịch được phân công phải nghiên cứu kỹ, nắm vững và bắm sát nội dung, chương trình điều hành chi tiết để thực hiện.

Ban kiểm phiếu phải được lựa chọn những người có kinh nghiệm, am hiểu về công tác kiểm phiếu; phải tập huấn hoặc hướng dẫn cụ thể về nguyên tắc, thể lệ bầu cử, cách thức bỏ phiếu; nội dung phần việc của ban kiểm phiểu phải được xây dựng thành chương trình chi tiết.

Các bước tiến hành đại hội phải được thực hiện theo đúng Thông báo số 808-TB/TU, ngày 31-12-2014 của Thường trực Tỉnh ủy; chú trọng việc trang trí và công tác tuyên truyền trước, trong và sau đại hội, tạo không khí sôi nổi, nâng cao nhận thức chính trị trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

2. Hội nghị lần thứ mười chín Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra

Trong 1,5 ngày (từ ngày 16 đến 17-4), thực hiện Quy chế làm việc và Chương trình công tác toàn khoá, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV tiến hành Hội nghị lần thứ mười chín. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị.

Dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV; Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy khóa XIV; Bí thư huyện ủy các huyện Đăk Hà, Ngọc Hồi, Đăk Glei; Chánh Văn phòng UBND tỉnh; lãnh đạo các Vụ thuộc Ban Đảng Trung ương tại Đà Nẵng.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh: Nội dung mà Hội nghị thảo luận, thông qua và quyết định là những vấn đề hết sức quan trọng, góp phần tích cực vào việc chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, thể hiện trách nhiệm chính trị của Tỉnh ủy trước Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Do đó, đề nghị các đồng chí tập trung trí tuệ, đề cao tinh thần trách nhiệm và ý thức làm việc tập thể, tích cực thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến vào các văn bản mà Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo Tiểu ban Văn kiện chuẩn bị, trình Hội nghị, nhất là dự thảo lần thứ hai Báo cáo Chính trị, văn kiện trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV.

Hội nghị đã tập trung thảo luận, cho ý kiến đối với Dự thảo lần thứ hai Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV nhiệm kỳ 2015-2020 (trước khi công bố để lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân và đại hội đại biểu các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy); Dự thảo lần thứ nhất Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV; Dự thảo Đề án nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV, phương án nhân sự Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ khoá XV và nhân sự Đoàn Chủ tịch, Đoàn thư ký Đại hội, Ban thẩm tra tư cách đại biểu Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV; Tờ trình của Ban Thường vụ Tỉnh ủy báo cáo Bộ Chính trị về thời gian Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV.

Đối với dự thảo lần thứ hai Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh, Hội nghị đã dành thời gian thỏa đáng để nghiên cứu, thảo luận và tham gia nhiều ý kiến xác đáng đối với dự thảo Báo cáo. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thống nhất cao đối với những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện sau Hội nghị này; giao Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo Tiểu ban Văn kiện khẩn trương, nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Hội nghị để tiếp tục hoàn chỉnh dự thảo báo cáo; tổ chức công bố để lấy ý kiến tham gia của các tầng lớp nhân dân, của đại hội đại biểu các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy theo kế hoạch. Trên cơ sở đó, chỉ đạo tiếp thu, hoàn chỉnh trình Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ hai mươi tiếp tục cho ý kiến trước khi báo cáo Bộ Chính trị, nhất là những nội dung, vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

Đối với dự thảo lần thứ nhất báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thống nhất việc điều chỉnh một số điểm trong đề cương chi tiết để công tác biên tập báo cáo được khoa học và thuận lợi hơn; cơ bản tán thành những nội dung kiểm điểm về kết quả lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy trong nhiệm kỳ 2010-2015. Đồng thời giao Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo Tiểu ban Văn kiện tiếp thu ý kiến của Hội nghị để tiếp tục hoàn chỉnh dự thảo báo cáo; cân nhắc việc tổ chức lấy ý kiến tham gia của Ban Chấp hành các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy đối với dự thảo Báo cáo kiểm điểm cho phù hợp.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã thảo luận, cho ý kiến để hoàn chỉnh Đề án nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV, phương án nhân sự Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ khoá XV. Đồng thời, đã thảo luận, giới thiệu nhân sự Đoàn Chủ tịch, Đoàn thư ký Đại hội, Ban thẩm tra tư cách đại biểu Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV.

Hội nghị cũng đã thảo luận và thống nhất về thời gian tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020 như Phương án số 01 tại Tờ trình số 84-TTr/TU ngày 31-3-2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đề nghị, ngay sau Hội nghị này, các cấp, các ngành, nhất là các đồng chí Tỉnh ủy viên đề cao hơn nữa trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ công việc được giao, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị tốt nội dung văn kiện, nhân sự và tổ chức thành công đại hội Đảng bộ các cấp; ra sức thi đua lập thành tích chào mừng đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh bằng những việc làm thiết thực, cụ thể, trọng tâm là phấn đấu thực hiện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị 6 tháng đầu năm và cả năm 2015 của địa phương, đơn vị mình.

II. TIN TRONG NƯỚC

1. Một số giải pháp xây dựng Đảng trong tình hình mới

Gần ba mươi năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vững vàng, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới; xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, cần thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị. Tình hình mới đòi hỏi vừa phải kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ, hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc, vừa phải tiếp tục đổi mới tư duy, phát triển đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện xây dựng Ðảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tăng cường công tác tư tưởng, đẩy mạnh nghiên cứu phát triển lý luận, làm sáng tỏ những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, nhất là vấn đề đảng cầm quyền. Công tác lý luận phải hướng vào giải quyết những vấn đề cuộc sống đặt ra, góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng, ngày càng sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Ba là, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tập trung đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, “lợi ích nhóm”; phòng ngừa, loại trừ những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ Đảng. Kiên quyết, kiên trì xây dựng một cơ chế phòng ngừa không thể tham nhũng; một cơ chế trừng trị, răn đe để không dám tham nhũng; một cơ chế bảo đảm để không có tham nhũng.

Bốn là, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Năm là, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện nghiêm túc Quy chế Chất vấn trong Đảng. Đổi mới cách lấy phiếu tín nhiệm để đánh giá, nhận xét cán bộ theo hướng hiệu quả. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Sáu là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, bảo đảm sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Cho thôi giữ chức vụ, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác đối với những cán bộ tín nhiệm thấp, không hoàn thành nhiệm vụ. Phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền.

Bảy là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Ðảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Nghiên cứu làm rõ hơn phương thức cầm quyền của Đảng. Khắc phục cả hai nguy cơ: Lạm quyền và mất quyền.

2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ

Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ luôn được Đảng, Nhà nước, gia đình, nhà trường và toàn xã hội quan tâm. Những năm qua, nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác thanh niên và giáo dục thế hệ trẻ đã được triển khai, đạt nhiều kết quả. Nhìn chung, thế hệ trẻ Việt Nam được giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng ngày một tốt hơn; phần lớn thanh thiếu nhi tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước, sống có trách nhiệm với Tổ quốc, gia đình và bản thân, có ước mơ, hoài bão, kiến thức, kỹ năng, sức khỏe tốt, tư duy năng động, sáng tạo, lạc quan, tự tin, dám nghĩ, dám làm; có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ còn nhiều hạn chế, yếu kém. Nhiều tổ chức, cá nhân chưa nhận thức đúng và đầy đủ tầm quan trọng của nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ. Vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ chưa được như mong muốn, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Một bộ phận giới trẻ giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, thiếu lý tưởng, xa rời truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Một số ít thanh niên bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động chống sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong giới trẻ diễn biến phức tạp.

Trong thời gian tới, công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ phải được tiếp tục tăng cường và nâng cao về chất lượng, nhằm góp phần xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức trong sáng, ý thức tuân thủ pháp luật; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng lao động, trở thành những công dân tốt, tích cực thực hiện sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

- Nhận thức đúng, đầy đủ tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ, từ đó xác định trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và toàn xã hội đối với công tác này. Đầu tư cho giáo dục, trong đó có giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ là đầu tư cho tương lai của đất nước. Đây là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, quan trọng, đòi hỏi phải có sự quan tâm, đầu tư thích đáng. Toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành, đoàn thể, gia đình và toàn xã hội cần tạo điều kiện tối đa cho thế hệ trẻ học tập, lao động, cống hiến.

- Xây dựng môi trường lành mạnh, tạo điều kiện để thế hệ trẻ học tập, rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XI) về công tác xây dựng Đảng; Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên; ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên.

- Tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, giữa các ban, ngành, đoàn thể trong công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ. Đề cao vai trò, trách nhiệm của gia đình trong việc nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ thanh thiếu nhi; cùng với nhà trường giáo dục hình thành nhân cách và trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết cho thế hệ trẻ phát triển toàn diện. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hoá, ông bà, cha mẹ, anh chị mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hoà thuận, gia đình đoàn kết, thương yêu nhau, bảo vệ cái tốt, cái đúng, chống lại cái xấu, cái ác.

- Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức của thanh thiếu nhi. Tăng cường giáo dục chính trị cho thế hệ trẻ bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, với sự tham gia, phối hợp có trách nhiệm của nhà trường, gia đình, đoàn thể và toàn xã hội. Thường xuyên trao đổi, đối thoại với thế hệ trẻ, kịp thời nắm bắt, dự báo tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội trong thanh thiếu nhi, nhất là ở các thành phố lớn và địa bàn nhạy cảm. Kịp thời đấu tranh, phê phán, uốn nắn nhận thức lệch lạc, biểu hiện sai trái trong cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi.

3. Một số tình hình kinh tế-xã hội quý I năm 2015

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2015 ước tăng 6,03% so với cùng kỳ năm 2014 (mức tăng cao nhất của quý I trong 5 năm qua). Cả nước có 19.049 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 111,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% về số doanh nghiệp và tăng 13,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2014. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh của cả nước là 2.565 doanh nghiệp, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó số doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ với vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động của cả nước là 16.175 doanh nghiệp, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2014. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động là 5.094 doanh nghiệp, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2014.

Có 267 dự án vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, với số vốn đăng ký đạt 1.216,7 triệu USD, tăng 6% về số dự án và giảm 40,6% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt 3.050 triệu USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2014. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 35,7 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2014. Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước đạt 37,5 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2014. Tổng thu ngân sách nhà nước ước bằng 19,8% dự toán năm; tổng chi ước bằng 18,7% dự toán năm. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 0,74% so với bình quân cùng kỳ năm 2014.

Cả nước có 82,1 nghìn lượt hộ thiếu đói (giảm 50,7% so với cùng kỳ năm 2014), tương ứng với 334,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói. Các cấp, các ngành đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 9,7 nghìn tấn lương thực và 8,5 tỷ đồng. Tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo là 3.217 tỷ đồng.

Tuy kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhưng thiếu tính bền vững. Nợ công có xu hướng tăng nhanh trong thời gian tới và việc quản lý, sử dụng nợ công chưa tốt. Áp lực giảm nợ xấu trong hệ thống ngân hàng; cán cân thương mại nghiêng mạnh về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cho thấy khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn đang còn yếu. Kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng nông, thủy sản sụt giảm đáng kể. Đời sống của một bộ phận dân cư khó khăn. Tình hình tệ nạn xã hội và tội phạm diễn biến phức tạp. Trong thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả một số nội dung trọng tâm sau: (1) Duy trì chính sách tiền tệ thận trọng, điều hành lãi suất cho vay phù hợp với lãi suất huy động; thực hiện giảm nợ xấu và hạn chế nợ xấu; quản lý chặt chẽ nợ công; tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay trong nước và vốn vay nước ngoài theo hướng hiệu quả. (2) Ưu tiên giải quyết triệt để vấn đề khó tiếp cận vốn của doanh nghiệp; phát triển mạnh thị trường, cơ cấu lại các doanh nghiệp trong nước theo hướng vực dậy các doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân. (3) Các doanh nghiệp xuất khẩu cần theo dõi sát diễn biến thị trường, đồng thời tích cực mở rộng thị trường theo hướng đa phương hoá, phát triển các thị trường mới, thị trường tiềm năng.

4. Xây dựng hợp tác xã kiểu mới trong nông nghiệp

Phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là xây dựng hợp tác xã là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã, hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; dựa trên tinh thần hợp tác, chia sẻ, mang lại lợi ích cho các thành viên và xã hội; không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà còn đóng góp quan trọng trong phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Trong những năm gần đây, mỗi năm cả nước có khoảng 200 hợp tác xã mới được thành lập trong lĩnh vực nông nghiệp. Tỷ lệ hộ nông dân tham gia hợp tác xã nông nghiệp chiếm khoảng 45%. Các hợp tác xã nông nghiệp mới thành lập về cơ bản đã tuân thủ các quy định của pháp luật; các nguyên tắc, giá trị của hợp tác xã được phát huy, hoạt động bước đầu có hiệu quả, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tính đến tháng 10/2014, cả nước có 19.800 hợp tác xã, trong đó có 10.339 hợp tác xã nông nghiệp, tăng 41% so với năm 2003. Trong số 10.339 hợp tác xã nông nghiệp, có tới 9.363 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, chiếm 92%. Tổng số xã viên khoảng 6,7 triệu người. Trung bình một hợp tác xã nông nghiệp có 660 xã viên. Thu nhập bình quân của người lao động ở khu vực hợp tác xã nông nghiệp đạt từ 0,7 đến 1,5 triệu đồng/người/tháng. Tỷ lệ hộ nông dân tham gia hợp tác xã nông nghiệp khoảng 45%.

Bên cạnh những kết quả trên, hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp còn rất hạn chế, bởi phần lớn hợp tác xã nông nghiệp chỉ cung cấp được các dịch vụ đầu vào cơ bản cho hoạt động sản xuất nông nghiệp; chỉ có khoảng 9% hợp tác xã cung cấp được dịch vụ đầu ra. Quy mô của tổ hợp tác, hợp tác xã nhỏ; trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý yếu. Chất lượng, hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của các hợp tác xã, tổ hợp tác còn thấp. Các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp do vốn ít nên hoạt động khó khăn. Năng lực, kinh nghiệm của cán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp, nhất là các mô hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp còn nhiều hạn chế.

Xây dựng thành công hợp tác xã kiểu mới sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ, tạo đột phá để phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam, đem lại lợi ích thiết thực cho người nông dân, doanh nghiệp và Nhà nước. Để phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, cần đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế. Chú trọng phát triển các hợp tác xã kiểu mới theo quy định của pháp luật. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật phát triển hợp tác xã. Nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên trong phát triển kinh tế hợp tác; đề cao vai trò, trách nhiệm của tổ chức Liên minh Hợp tác xã, Mặt trận Tổ quốc… trong phát triển kinh tế tập thể.

5. Về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) 

- Chế độ ốm đau: (1) Đối với bệnh cần chữa trị dài ngày, không quy định thời gian hưởng lặp lại hàng năm như hiện nay mà quy định tối đa hưởng một trăm tám mươi ngày, sau đó nếu vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn; đồng thời quy định thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội (BHXH); (2) Sửa đổi quy định về mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày bằng mức trợ cấp ốm đau theo tháng chia cho 24 ngày (hiện nay chia cho 26 ngày); (3) Quy định một mức hưởng chung đối với nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở (quy định hiện hành là hai mức: 25% đối với nghỉ tại gia đình và 40% đối với nghỉ tập trung).

- Về chế độ thai sản:

Luật BHXH sửa đổi đã bổ sung nhiều quyền lợi về chế độ thai sản, cụ thể:

+ Bổ sung quy định lao động nam có vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản 5 ngày làm việc đối với trường hợp sinh thường và 7 ngày làm việc đối với trường hợp sinh con phải phẫu thuật, đẻ dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày nếu sinh đôi và thêm 3 ngày/01con nếu sinh 3 trở lên; 14 ngày nếu sinh 2 trở lên mà phải phẫu thuật;

+ Sửa đổi điều kiện hưởng chế độ thai sản trong trường hợp lao động nữ có thời gian đóng BHXH từ đủ 12 tháng nhưng vì lý do thai không bình thường phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì chỉ cần đảm bảo điều kiện đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con;

+ Sửa đổi thời gian lao động nữ nghỉ việc hưởng chế độ khi sinh con, nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi, bổ sung trường hợp lao động nam nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi cho tương đồng với quy định đối với lao động nữ;

+ Sửa đổi quy định trong trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đều tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ (cả không nghỉ việc); người mẹ không đủ thời gian đóng BHXH thì người cha nghỉ đến khi con đủ 6 tháng tuổi;

+ Bổ sung quy định trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không có đủ sức khỏe để chăm sóc con có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo thẩm quyền thì người cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi;

+ Bổ sung trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH khi vợ sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 tháng tiền lương cơ sở cho mỗi con;

+ Tăng thêm 01 tháng cho thời gian lao động nữ nghỉ thai sản trong trường hợp con chết sau khi sinh;

+ Bổ sung quy định chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi.

- Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Luật BHXH lần này không sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vì nội dung này sẽ tách ra khỏi Luật BHXH để đưa vào Luật An toàn, vệ sinh lao động.

III. TIN THẾ GIỚI

1. Những kết quả quan trọng trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Trung Quốc từ ngày 7 đến 10/4/2015. Thông điệp cơ bản, xuyên suốt trong chuyến thăm là “Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, nhất quán coi trọng quan hệ với Trung Quốc; chân thành mong muốn hai bên cùng nỗ lực củng cố tin cậy, tăng cường hữu nghị, phát triển quan hệ hợp tác song phương lành mạnh, ổn định, cùng có lợi, kiểm soát tốt tình hình và giải quyết thỏa đáng bất đồng trên biển, vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình và phát triển của khu vực”. Mục đích của chuyến thăm là tiếp tục củng cố, duy trì cục diện hữu nghị, ổn định, tạo thêm đà phát triển lành mạnh cho quan hệ Việt - Trung, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục giải quyết các vấn đề còn tồn tại giữa hai nước; góp phần duy trì, củng cố môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đạt những kết quả quan trọng sau:

Một là, chuyến thăm đã góp phần tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước. Lãnh đạo cấp cao hai nước đã trao đổi thẳng thắn, thực chất về các vấn đề hệ trọng trong quan hệ hai nước, kể cả những vấn đề tồn tại, qua đó tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, đồng thời đạt được những nhận thức chung quan trọng về truyền thống quan hệ hai nước, về tính chất quan hệ Việt - Trung, về kiên định sự lãnh đạo của Đảng và mục tiêu, con đường xã hội chủ nghĩa, về yêu cầu, phương hướng và các biện pháp tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác đầy đủ, thiết thực, duy trì hòa bình, ổn định trên biển, đưa quan hệ song phương phát triển lành mạnh, bền vững.

Hai là, chuyến thăm góp phần duy trì hoà bình, ổn định trên Biển Đông. Mặc dù hai bên giữ nguyên lập trường khác nhau về chủ quyền trên Biển Đông, nhưng phía Trung Quốc đã tái khẳng định tuân thủ nhận thức đã đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc; kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ có hiệu quả "Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông" (DOC) và sớm đạt được "Bộ Quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông" (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thoả đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt - Trung và hoà bình, ổn định ở Biển Đông. Ta đã trao đổi thẳng thắn với Bạn, khẳng định mạnh mẽ lập trường của Ta về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, bày tỏ quan điểm, thái độ của Ta về các hoạt động của Trung Quốc tôn tạo, bồi đắp các đảo đá ở Trường Sa. Trong trao đổi ý kiến về vấn đề Biển Đông, Ta không chỉ đề cập tới yếu tố song phương mà nhấn mạnh lợi ích chung của cả khu vực và thế giới.

Ba là, chuyến thăm góp phần khôi phục đầy đủ và thúc đẩy hợp tác trên tất cả các lĩnh vực giữa hai nước. Hai bên đã chính thức thành lập hai Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và Nhóm công tác về hợp tác tài chính, tiền tệ (Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tỏ ý nhấn mạnh hợp tác trên biển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác trên bộ). Hai bên cam kết thực hiện đầy đủ các dự án, thoả thuận đã đạt được; phía Trung Quốc đã dỡ bỏ cảnh báo du lịch sang Việt Nam, nhất trí tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam, tăng cường nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam, kể cả gạo và nông sản khác, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, thúc đẩy thương mại biên giới, sớm đàm phán và ký kết Hiệp định mới về thương mại biên giới thay cho Hiệp định đã ký năm 1998. Các nội dung hợp tác đã thể hiện đầy đủ tại Thông cáo chung và các văn bản khác được ký kết trong chuyến thăm.

Các cuộc làm việc song phương của các đồng chí Bộ trưởng Trần Đại Quang, Bùi Quang Vinh và Vũ Huy Hoàng với lãnh đạo các cơ quan đối tác của phía Trung Quốc đã trao đổi thiết thực và nhất trí về nhiều nội dung cụ thể để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực liên quan.

Bốn là, chuyến thăm tạo đà thúc đẩy quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung phát triển lành mạnh, ổn định trong thời gian tới. Tại tất cả các cuộc tiếp xúc, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt Trung Quốc đều khẳng định coi trọng quan hệ với Việt Nam; cho rằng hai nước có nhiều điểm và lợi ích tương đồng to lớn hơn bất đồng; mong muốn phát triển quan hệ lành mạnh, ổn định giữa hai Đảng, hai nước. Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi cấp cao trong thời gian tới. Đồng chí Tập Cận Bình nhận lời sang thăm Việt Nam và sẽ cử lãnh đạo chủ chốt thăm Việt Nam trong năm 2015. Hai bên cũng đã nhất trí xác lập cơ  chế trao đổi nội bộ thường niên cấp đại diện của Bộ Chính trị hai Đảng; đồng ý giao hai Bộ Quốc phòng nghiên cứu nâng cấp Đối thoại chiến lược lên cấp Bộ trưởng Quốc phòng; nhất trí phát huy đầy đủ hơn nữa vai trò của các cơ chế hiện có giữa hai nước.

Dư luận quốc tế rất quan tâm và về cơ bản đánh giá chuyến thăm theo hướng tích cực. Ảnh hưởng của chuyến thăm góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam, tạo thế và điều kiện thuận lợi cho ta trong quan hệ với các nước lớn và các nước trong khu vực.

2. Thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam và Liên bang Nga

Thủ tướng Liên bang Nga Mét-vê-đép thăm chính thức Việt Nam từ ngày 05 đến 07/4/2015. Chuyến thăm thể hiện sự tin cậy cao giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, góp phần củng cố, tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam và Liên bang Nga. Hai bên khẳng định tiếp tục tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy hợp tác trong tất cả các lĩnh vực đáp ứng lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước.

Về quan hệ chính trị, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi thông tin, tham vấn, học tập kinh nghiệm lẫn nhau trong công tác đảng, quản lý xã hội và quản lý nhà nước; tiếp tục duy trì và tăng cường trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp cao, đa dạng hóa các kênh hợp tác Ðảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, các tổ chức xã hội cũng như giữa các địa phương; tiếp tục phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau trên trường quốc tế.

Về quan hệ kinh tế, hai bên nhất trí đẩy nhanh ký kết chính thức Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á - Âu trong nửa đầu năm 2015, phấn đấu đưa kim ngạch hai chiều lên mức 10 tỷ USD vào năm 2020; đề nghị ngân hàng hai nước tích cực nghiên cứu, đề xuất khả năng thanh toán bằng đồng nội tệ của nhau trong các giao dịch để hỗ trợ thúc đẩy thương mại song phương. Hiện nay, đầu tư song phương chưa tương xứng với nhu cầu và tiềm năng của mỗi nước. Vì vậy, Tổ Công tác chung cấp cao về các dự án đầu tư ưu tiên Việt - Nga cần đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư và triển khai hiệu quả các dự án đã lựa chọn. Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới khó khăn và tác động trực tiếp đến mỗi nước, hai bên nhất trí cần tăng cường hợp tác, bảo đảm vốn triển khai các dự án năng lượng, trong đó có các dự án dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam và Nga nhằm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thăm dò, khai thác và mở rộng hợp tác sang lĩnh vực chế biến, lọc hóa dầu. Hai bên khẳng định thúc đẩy triển khai xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 như đã thỏa thuận theo phương châm đáp ứng các yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn cao nhất, trong đó tuân thủ đúng các quy định pháp luật Việt Nam về đầu tư xây dựng.

Về vấn đề Biển Đông, hai bên cho rằng, các tranh chấp ở Biển Ðông cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, triển khai đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông (DOC) và sớm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Ðông (COC).

Hai bên đã ký “Biên bản về việc mở rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác toàn diện giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nước Nga Thống nhất giai đoạn 2015 - 2017”; Tuyên bố chung giữa hai đồng Chủ tịch Tổ Công tác cấp cao Việt - Nga về các dự án đầu tư ưu tiên trong năm 2015 và nhiều văn bản quan trọng khác.

3. Một số tình hình thế giới đáng chú ý thời gian gần đây

- Mỹ và Cu-ba tiến hành hội đàm: Ngày 11/4/2015, Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma và Chủ tịch Cu-ba Ra-un Ca-xtơ-rô tiến hành hội đàm nhân dịp tham dự Hội nghị thượng đỉnh châu Mỹ lần thứ 7 tại Pa-na-ma. Hai bên cho rằng, đây là thời điểm gác lại quá khứ để bắt đầu một thời kỳ mới cho quan hệ hai nước, trong đó ưu tiên hiện nay là mở các đại sứ quán tại thủ đô mỗi nước và thúc đẩy giao lưu nhân dân. Tuy nhiên, cả Mỹ và Cu-ba thừa nhận “vẫn còn một số bất đồng lớn giữa hai bên”, như vấn đề nhân quyền và tự do báo chí. Cuộc hội đàm diễn ra gần 4 tháng sau khi Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma và Chủ tịch Cu-ba Ra-un Ca-xtơ-rô tuyên bố bình thường hóa quan hệ song phương sau hơn nửa thế kỷ đối địch.

 - Nhật Bản công bố Sách Xanh: Ngày 07/4/2015, Nhật Bản công bố Sách Xanh Ngoại giao năm 2015, nêu ba trụ cột trong chính sách ngoại giao của Nhật Bản gồm: Tăng cường liên minh Nhật Bản - Mỹ, củng cố quan hệ với các nước láng giềng và tăng cường ngoại giao kinh tế. Về quan hệ với Hàn Quốc, Nhật Bản cho rằng, Hàn Quốc là quốc gia láng giềng quan trọng nhất, đồng thời nhấn mạnh quan hệ giữa Nhật Bản với Hàn Quốc có tính quyết định đối với hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Về quan hệ với Mỹ, Nhật Bản sẽ tăng cường quan hệ song phương với Mỹ trên mọi lĩnh vực, bao gồm việc sửa đổi phương châm hợp tác phòng vệ và di dời căn cứ quân sự Phư-tên-ma của Mỹ ở tỉnh Ô-ki-na-oa (Nhật Bản). Liên minh an ninh Nhật - Mỹ được xem là trụ cột của chính sách ngoại giao của Nhật Bản. Nhật Bản sẽ tăng cường hơn nữa quan hệ song phương trên mọi mặt, trong đó có hợp tác quốc phòng và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Trong quan hệ với Trung Quốc, Nhật Bản coi đây là mối quan hệ quan trọng nhất; khẳng định sẽ xúc tiến đối thoại với Trung Quốc ở nhiều cấp và trên nhiều lĩnh vực. Nhật Bản và Trung Quốc có quan hệ mật thiết vì phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, song Nhật Bản quyết tâm bảo vệ lãnh thổ cũng như lãnh hải và không phận của mình. Về hòa bình tại bán đảo Triều Tiên, Sách Xanh khẳng định những nỗ lực của Nhật Bản và CHDCND Triều Tiên trong việc cải thiện quan hệ được cụ thể hóa bằng việc hai bên đã tích cực giải quyết những vấn đề tồn tại như bắt cóc con tin, vấn đề hạt nhân... Về vấn đề khủng bố, Nhật Bản coi những phần tử cực đoan như Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) đang tạo ra mối đe dọa đến toàn thế giới và nhấn mạnh cộng đồng thế giới cần chung tay giải quyết.

4. Đóng góp của Việt Nam đối với Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới  lần thứ 132

Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 132 (IPU-132), với chủ đề Các mục tiêu phát triển bền vững: Biến lời nói thành hành động do Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức từ ngày 28/3 đến 01/4/2015. Việt Nam đã tham gia đầy đủ và có những đóng góp chủ động, tích cực, hiệu quả vào hoạt động của các cơ chế chính thức, tham vấn và các hoạt động bên lề trong khuôn khổ Đại hội đồng IPU-132; đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng vào việc thúc đẩy Đại hội đồng thông qua các Nghị quyết như: Chiến tranh mạng - mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế; Định hình cơ chế mới về quản trị nguồn nước: Thúc đẩy hành động của Nghị viện về vấn đề nước; Nghị quyết về Luật pháp quốc tế trong vấn đề chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và quyền con người; Hợp tác nghị viện chống lại Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) và nhóm khủng bố Bô-kô Ha-ram chống lại dân thường, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.

Kết quả thành công nhất của IPU-132 là việc Đại hội đồng thông qua Tuyên bố Hà Nội. Đây là sáng kiến của Việt Nam ngay từ khi đề nghị đăng cai tổ chức IPU-132. Các kỳ Đại hội trước đây chỉ có Nghị quyết, không có tuyên bố hoặc có tuyên bố về những vấn đề khác nhưng vấn đề mang tính toàn cầu như các mục tiêu phát triển bền vững thì lần đầu tiên được xem xét và thông qua thành Tuyên bố Hà Nội. Tuyên bố Hà Nội khẳng định lấy người dân làm trung tâm, thực hiện quyền con người, tôn trọng luật pháp quốc tế; thúc đẩy nghị viện các quốc gia nỗ lực hành động, thực hiện cam kết, ban hành luật pháp, phân bổ ngân sách, phù hợp đặc điểm của mỗi nước; đảm bảo các chính phủ có trách nhiệm với những mục tiêu đã cam kết. Trong bối cảnh tình hình quốc tế gần đây có nhiều diễn biến phức tạp, trong đó có diễn biến căng thẳng trên Biển Đông và một số khu vực khác ảnh hưởng đến an ninh quốc tế và khu vực, Tuyên bố Hà Nội khẳng định lại việc tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế có ý nghĩa quan trọng. Tuyên bố Hà Nội được thông qua là kết quả của sự nỗ lực, tinh thần làm việc nghiêm túc, trách nhiệm cao của Việt Nam với tư cách là nước chủ nhà.

Đại hội đồng đã bầu Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng làm Chủ tịch Đại hội đồng IPU-132; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân làm Chủ tịch Hội nghị nữ nghị sĩ IPU, thể hiện uy tín của Việt Nam nói chung, Quốc hội Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế, là minh chứng cho đường lối đối ngoại tích cực và chủ động hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

5. Đàm phán về hạt nhân ở I-Ran

Đàm phán về hạt nhân giữa nhóm P5+1 (gồm Trung Quốc, Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Đức) và I-ran tổ chức từ ngày 26/3 đến 02/4/2015 tại thành phố Lô-dan (Thụy Sĩ). Các bên tham gia đàm phán nhất trí thông qua thỏa thuận khung về chương trình hạt nhân của I-ran, nhằm hướng tới một thỏa thuận toàn diện vào ngày 30/6/2015. Đây là một bước tiến mang tính lịch sử hướng tới một giải pháp toàn diện và lâu dài về chương trình hạt nhân gây tranh cãi suốt 12 năm qua của I-ran.

Các bên tham gia đàm phán nhất trí những nội dung chính của thỏa thuận khung sơ bộ gồm các điều khoản về hoạt động làm giàu u-ra-ni, các máy li tâm có thể sử dụng làm giàu u-ra-ni, những cấp độ có thể dùng trong lĩnh vực năng lượng, y tế và khoa học, chế tạo các đầu đạn hạt nhân. I-ran khẳng định, hoạt động làm giàu u-ra-ni của I-ran nhằm mục đích hòa bình và hiện I-ran có khoảng 20.000 máy li tâm tại Na-tan (cơ sở hạt nhân chính của I-ran), trong đó gần 10.000 máy đang hoạt động. Thời gian làm giàu đủ số u-ra-ni cần thiết để chế tạo vũ khí hạt nhân của I-ran dự kiến kéo dài tối thiểu một năm. Về cơ sở làm giàu u-ra-ni, I-ran cam kết sẽ không tiến hành các cuộc nghiên cứu và triển khai hoạt động làm giàu u-ra-ni tại Phóc-đô trong vòng 15 năm. Về tính minh bạch, thời hạn thanh tra quốc tế đối với một số cơ sở hạt nhân của I-ran được duy trì trong 25 năm. Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) sẽ sử dụng những công nghệ hiện đại nhất để giám sát hoạt động của các cơ sở làm giàu u-ra-ni cũ và mới của I-ran..

Quá trình nới lỏng và bãi bỏ lệnh trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc và một số quốc gia, trong đó có Mỹ được tiến hành đồng bộ và tương ứng với tình hình I-ran thực hiện các cam kết trên. Tuy nhiên, các biện pháp trừng phạt có thể được nối lại nếu thỏa thuận khung không được thực hiện.

Cộng đồng quốc tế đã đánh giá tích cực đối với Thỏa thuận khung về chương trình hạt nhân đạt được giữa Nhóm P5+1 và I-ran. Anh, Pháp, Đức nhận định, thỏa thuận khung là “một bước tiến quan trọng” đưa cộng đồng quốc tế tới gần nhất mục tiêu ngăn chặn I-ran sở hữu vũ khí hạt nhân. Tổng Thư ký Liên Hợp quốc Ban Ki Mun cho rằng, thỏa thuận trên đã "tác động tích cực" lên tình hình an ninh tại Trung Đông, trong đó I-ran đóng vai trò chủ động trong việc giải quyết các tranh chấp và xung đột trong khu vực. Mỹ và EU cam kết sẽ dỡ bỏ toàn bộ các biện pháp trừng phạt liên quan tới vấn đề hạt nhân I-ran sau khi Cơ quan năng lượng quốc tế (IAEA) xác nhận I-ran tuân thủ đúng các cam kết trong thỏa thuận.

Số lượt xem:2440
Bài viết trước:
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 04-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 03-2015
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 02-2015
Icon  Tài liệu tuyên truyền trong nội bộ và định hướng đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch trên In-tơ-nét
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 01-2015
Icon  Chuyên đề năm 2015 học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (ngày 18-12-2014)
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 12-2014
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 11-2014
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 10-2014
Icon  Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 9-2014
    LIÊN KẾT
Trang chủ   |   Liên hệ   
Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum - Giấy phép số 03/GP- TTĐT ngày 21 tháng 9 năm 2015
Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum
Địa chỉ: 236 Bà Triệu, Tp Kon Tum - Kon Tum; Điện thoại: 060.3862301; Email: phiemkt@gmail.com.
Ghi rõ nguồn tuyengiaokontum.org.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này

Treo chân mày bằng chỉkhông phẫu thuật


Bệnh viện thẩm mỹ JW hàn quốc


Bệnh viện thẩm mỹ uy tín nhất tphcm


Cắt mí mắt hàn quốc đẹp


Phẫu thuật hàm móm có nguy hiểm không


Phẫu thuật hàm móm giá bao nhiêu tiền


Phẫu thuật chỉnh hàm móm


Phẫu thuật hàm hô móm


Phẫu thuật vẩu hàm trên


Điều trị khớp cắn ngược